|
Góc Chiến Trường Xưa:
Về Nam
Tuesday, November 23, 2010
Nguyên Huy
Thế là lại có 1 chuyến chuyển trại nữa. Đó là
điều lạ bởi v́ khi đến đây bọn cai tù Việt Cộng
đă nói với anh em chúng tôi rằng đây là quê
hương của các anh.
Các anh sẽ được viết thư về cho gia đ́nh, đảng
và nhà nước sẽ tạo điều kiện cho gia đ́nh các
anh tới đây làm ăn và nơi đây với công sức của
các anh, mai này sẽ là 1 thị trấn lớn, “có bến
cảng, có sân bay, có nhà ga đường sắt...” Khi ấy
anh em chúng tôi, cũng không ai, bảo ai, đều
ngước mắt nh́n quanh - Vẫn chỉ là núi, rừng, cây
cổ thụ và suối nước độc. Vài ngày sau, đi lao
động, gặp kín đáo được 1 số anh em Biệt Kích
trước đây, những anh em này sau 17 năm cho đến
20 năm tù ngục, đă tạm trở thành công nhân
chuyên đi khai phá rừng để lập các nhà tù, trại
tập trung cải tạo, chúng tôi mới được biết nơi
nay là Thanh Lâm, Thanh Hóa.
***
Đến cả tháng nay, anh em trong trại tù cải tạo
Thanh Lâm-Thanh Hóa đă x́ xào rất nhiều về 1
cuộc chuyển trại sắp tới. Cho đến bây giờ th́
việc chuyển trại đối với anh em chúng tôi kể như
1 việc không trước th́ sau và hầu như không bao
giờ ở đâu quá 1 năm cả. Thời gian nặng nề trôi
nhưng cũng thoáng đi để chúng tôi mất dần ư thức
thời gian rồi. Sáu năm đă qua kể từ ngày đất
nước lọt vào tay cộng sản và lũ lượt anh em
chúng tôi, từ cấp lớn đến cấp nhỏ, tự nguyện vào
tù. Bao nhiêu đau đớn, xót xa, cay đắng, tủi
nhục đă chất lên thành những ngọn lửa thù hừng
hực trong những ngày đầu để rồi lắng xuống thành
nỗi xót xa cay đắng khôn tả. Có khi chỉ c̣n lại
là những nỗi bàng hoàng để rồi phải khuất mờ đi
khi h́nh ảnh những củ ḿ, nhánh khoai lang hay
thậm chí một nắm đọt sắn, rau rừng nào đó thấp
thoáng gợi ra bữa ăn vụng trộm làm chặt dạ dầy
trong cái đói rét của miền núi rừng sát biên
giới Việt Lào này.
Sắp chuyển trại! Những âm thanh này đă gợi cho
chúng tôi biết bao điều khó chịu. Con người đă
quen nếp sống - dù là nếp sống tù - thường không
thích đổi thay nhất là tuổi tác anh nào anh nấy
đều xấp xỉ 50 cả rồi. Nhưng cái điều phiền toái
là trong gần 1 năm yêu chỗ “tù” này, đa số chúng
tôi thường tạo ra được những tiện nghi vật chất
thô thiển nhỏ bé trong cuộc sống tỉ dụ như viên
đá mài, mảnh sắt luyện thành lưỡi dao bén và
được trau chuốt bằng cái cán gỗ rất xinh, 1 vài
khe giấu kín đáo nơi chỗ nằm hay 1 vài điểm
“t́nh báo” nơi nhà dân mà ở đó thường cho chúng
tôi biết tin tức bên ngoài, cuộc sống khổ cực
của dân chúng ra sao và nhiều khi có cả tin tức
đài BBC nữa. Nay, chuyển trại, tất cả những thứ
đó đều mất. Bởi v́ trước khi chuyển trại, bọn
cán bộ thường có quy luật là khám đồ. Trong cuộc
khám xét này, bọn chúng vạch lá t́m sâu để t́m
ra những thứ “quốc cấm.” Một chút kim khí cũng
không được giữ. Một gói muối hạt là bị quy tội
“có ư đồ trốn trại.” Một tập giấy dầu gói hàng
đóng thành cuốn vở nhỏ để ghi linh tinh những
món ăn mà anh em nhớ được (ghi để cho đỡ thèm
chứ có bao giờ chúng tôi nghĩ là có dịp được làm
đâu) cũng bị bọn cán bộ săm soi lật đi, lật lại,
soi lên ánh sáng v.v... Chẳng may mà trong cuốn
sổ ấy có ghi 1 bài nhạc trước 75 nào là chủ nhân
cuốn sách đành chịu ngồi nhà kỷ luật, bị cùm
chân và ăn 9 kí thay v́ được ăn 11, 12 kí như
anh em ở ngoài, với tội danh là lưu trữ và phổ
biến văn hóa đồi trụy... Ôi! C̣n biết bao điều
phiền phức nữa. Nhiều anh em có tính tần tiện cứ
vá đụp măi quần áo cũ, để dành những bộ đồ tray-di
hoặc rằn ri mà chúng tịch thu được sau ngày 30
tháng 4, 1975 phát cho anh em làm quần áo tù,
với ư đồ sỉ nhục sắc áo quân phục của Quân Đội
Việt Nam Cộng Ḥa. Đối với chúng tôi, nh́n lại
các bộ quân phục xưa ai nấy đều tủi hổ, đều tự
cảm thấy một phần trách nhiệm ở ḿnh cho nên đều
yêu quí muốn để dành. Nhưng bọn Việt Cộng lại
quy tội là để dành để mang ra dân chúng lén lút
đổi chác. Bởi dân chúng ở miền Bắc từ tỉnh đến
quê đều rất mê những bộ đồ Quân Đội Việt Nam
Cộng Ḥa đến độ trở thành “mô-đen” thời đại và
sẵn sàng luộc cả con gà và nấu 1 nồi sôi nếp mà
có khi cả năm họ cũng không được ăn để đổi lấy
cái áo hoặc cái quần của tù.
Không ai bảo ai, chúng tôi bắt đầu thu gom những
“tài sản” của ḿnh, t́m mọi cách để có thể
“thoát” những cuộc khám xét này. Có người kiểm
lại đồ mới thấy ḿnh cóp nhặt gần cả 1 bị các
thứ đồ linh tinh nào lon gô, nào đinh, nào dùi
sắt, khuy nút, kim, chỉ, loại kim chỉ do anh em
tự làm để khâu những “đôi giầy dũng sĩ.” Nh́n
đống đồ ấy thấy nó c̣n hơn 1 đống rác nữa. Thế
mà nó lại rất quí, bởi v́ với cuộc sống ăn lông
ở lỗ này, tạo được những tiện nghi như thế nó đă
giúp ích rất nhiều cho chủ nhân và cả cho những
anh em khác bởi nhiều khi chỉ thiếu 1 cái khuy
hay sút 1 đường chỉ là cái áo hay cái quần không
thể nào ngăn cản nỗi những luồng gió cắt da cắt
thịt của mùa Đông núi rừng miền Bắc.
Thường th́ chính bọn cán bộ tung những tin
chuyển trại từ nhiều tháng trước rồi chúng dùng
thời gian để lừa chúng tôi sơ hở, là v́ chờ đợi
măi mà không thấy nên tưởng là tin thất thiệt,
dần dần trở lại cuộc sống b́nh thường lao động
và sinh hoạt th́ chúng sẽ biên chế lại ai đi, ai
ở và bất thần khám xét. Thế là chúng tôi không
kịp giấu diếm những thứ cần phải giấu.
Một buổi sáng, giữa lúc chúng tôi tưởng như
không có việc chuyển trại th́ tất cả được gọi ra
sân thay v́ đi lao động như mọi khi. Chúng bủa
vây các pḥng tù ở không cho ai được trở vào nữa,
bắt ngồi cả ngoài sân để chúng tha hồ lục lọi.
Ngoài sân th́ bắt đầu chúng đọc tên biên chế lại
các đội ngũ lao động. Sự phân chia lại này gây
ra nhiều dư luận tiên đoán. Lần biên chế này
thấy khá rơ nét v́ phần lớn những anh em bướng
bỉnh hay bị kỷ luật hoặc bị bọn Quản Giáo lưu ư,
tóm lại là những anh em có thành tích “xấu” như
bọn cán bộ thường gọi, được sắp xếp vào 3 đội
khoảng trên 100 người so với hơn 200 trong toàn
trại.
Rồi chúng hối hả phân cách anh em chúng tôi. Đến
lúc này th́ đă rơ rệt ai đi ai ở. Phân nửa trại
khoảng trên trăm người được dồn vào 1 dẫy nhà
riêng phía cuối trại, cửa pḥng đóng kín. C̣n
chúng tôi, những kẻ sắp làm “1 cuộc viễn du” mới
th́ ở ngoài sân chờ lệnh vào buồng sắp xếp hành
trang.
Lúc này cảnh kẻ ở người đi thật buồn vời vợi.
Những năm tháng trong tù đă kết nên nhiều t́nh
bạn thật thắm thiết. Có những tâm sự mà tôi chắc
nhiều khi đương sự không dám nói với vợ con th́
lại đem trao hết cho t́nh bạn. Có những đôi bạn
trẻ già cách biệt chỉ v́ họ cùng mê những khúc
nhạc cổ điển tây phương trên cần đàn Guitare tự
chế. Có những đôi bạn sống như t́nh nhân, chỉ
thích thầm th́ với nhau riêng biệt mà ít khi ḥa
đồng với mọi người. Thế mà bây giờ, kẻ ra đi
người ở lại... Anh em trong buồng giam chen chúc
nhau bên các song cửa sổ nh́n ra vẫy gọi, nhắn
nhe. Họ đang thèm số phận của chúng tôi “được về
Nam.” (Nhưng sau này chúng tôi mới rơ kẻ ở lại
hạnh phúc hơn v́ sau đó họ lần lượt được về hết,
c̣n chúng tôi phải kéo dài đến 5, 7 năm nữa.)
Thế rồi cuộc sắp xếp xong xuôi. Bọn cán bộ nhà
bếp bắt đầu khuân vác thùng bánh chưng và ít đồ
ăn khô phát cho chúng tôi. Nh́n khẩu phần biết
là phải di chuyển tới 2 ngày rưỡi. Vậy là về Nam
chắc chắn rồi. Đến lúc đó anh em mới tạm mừng,
nhưng lại không có cách nào thông báo cho anh em
ở lại được. Bắt đầu có những x́ xào bàn về
phương cách báo tin cho gia đ́nh biết. Thế là ai
nấy đều t́m sẵn cây viết và mẫu giấy nhỏ chờ cơ
hội.
Đoàn xe khách 3 chiếc cho hơn 100 người xịch
tới. Tiếng nổ đinh tai nhức óc của những cỗ máy
quá già nua khua động không khí nơi rừng rú
Thanh Lâm. Bọn cán loanh quanh mấy chiếc xe,
thèm khát được lái. Một tên quay nh́n tôi khoe:
- Xe Ba Đ́nh đấy.
Giờ phút khởi hành bắt đầu. Chúng bắt chúng tôi
xếp hàng đôi và tặng mỗi đôi 1 cặp số 8. Có
những anh vốn không ưa nhau nay bị cặp chung,
đ̣i đổi nhưng bọn cai tù pḥng xa nhất định
không cho đổi lại c̣n siết ṿng cho chặt hơn.
Gần 40 người trên chiếc xe khách ghế gỗ. Trời
lạnh nhưng hơi người bốc ra nồng nặc “mùi tù”
nên cũng ấm. Xe chuyển bánh. Núi rừng Thanh Lâm
bắt đầu lùi đi.
Ra đến cổng trại, khu gia đ́nh bọn cán cai tù,
chợt một quang cảnh hiện ra mà chúng tôi đều
sững người. Dọc theo hai bên đường đất là cả
trăm đàn bà con gái con em bọn cán bộ đứng vẫy
tay. Anh em xôn xao hỏi nhau :
- Chúng lại định giở tṛ ǵ đây.
Một vài người vội ngồi thu lại, né tránh tưởng
như sắp có một cơn mưa đá củ đậu vào xe như hồi
chúng giải ra Bắc. Nhưng không. Đoàn xe 3 chiếc
chạy qua, chúng tôi nh́n rơ từng khuôn mặt xúc
động. Có vài cô gái lấy vạt áo thấm nước mắt.
Đâu đó vọng lên những âm thanh thắm thiết:
- Các anh đi nhé. Chúc sức khỏe tốt.
Không thấy ai đọc bài: “Lao động tốt, Học tập
tốt” gửi theo lời chào cả.
Đó là nhân dân Việt-Nam. Đó là t́nh cảm
Việt-Nam. T́nh tự dân tộc ấy không bao giờ phai
lạt dù chế độ có hà khắc đến mấy. Bởi v́ trong
những ngày tháng anh em ở trại tù này, đối với
đàn bà trẻ em và các cụ già trong gia đ́nh bọn
cán, chúng tôi thường chỉ thấy họ như những
người dân Việt-Nam cần mẫn, đáng thương. Có dịp
là chúng tôi giúp đỡ, trao gởi những ân t́nh con
người. Và chúng tôi đă cảm hóa được tất cả. Dân
chúng không c̣n ai, sau 6 năm ở miền Bắc, nh́n
chúng tôi là “ngụy quân” phản quốc nữa. Cụ già
78 tuổi, cha tên trại trưởng có lần anh em phải
vào làm tạp dịch ở tư dinh của hắn, đă cùng làm
với chúng tôi và ôn tồn nói:
- Các chú chịu khó nín nhịn chúng nó đi để mà
c̣n về với vợ con. Thời buổi nó nhiễu nhương,
chẳng ra làm sao cả.
Tôi cố nhướng mắt nh́n trong đám đông để t́m cụ
già ấy. Nhưng những h́nh ảnh xúc động khiến tôi
sao lăng cuộc kiếm t́m. Có những em nhỏ đă chạy
theo xe như thể trong một cuộc tiễn đưa “ngày
giao quân” (tức là đi quân dịch) của huyện.
Không khí trong xe lắng xuống. Hai tên vệ binh
đi theo xe lẩm bẩm với nhau cái ǵ như chửi
thầm. Nhưng trên nét mặt chúng vẫn lộ ra nét vui
tươi hớn hở: Chúng đă được chọn đi theo tù để
được biết miền Nam, miền đất phồn thịnh hiện đại
đối với nhân dân miền Bắc sau 1975.
***
Chuyến tầu Bắc Nam chưa đến. Bọn chúng tôi, hai
người chung 1 cái cùm, được dồn hết trong sân
ga. Nhà ga trống. Có lẽ chúng đă xua đuổi dân đi
hết v́ đây là cuộc “hành quân” chuyển tù vào
Nam.
Gió lọt tứ bề. Tháng 12 ở miền Bắc là trọng Đông
nên các luồng gió như cắt da, cắt thịt. Chúng
tôi ai cũng lấy tấm “mềm đỏ Trung Quốc” ra khoác
vào người, trông hệt như những chàng Ả Rập. Trên
người dù đă quấn đủ thứ áo quần lành, rách nhưng
vẫn không chống nổi cái lạnh thấu xương. Chiều
xuống rưng rưng sương muối. Đêm về thật nhanh.
Khoảng 7 giờ tối chúng lùa hết chúng tôi vào các
kho hàng trống, có lẽ chúng sợ ở dưới sân ga
chúng tôi có thể nhân đêm đen lạnh giá mà trốn
đi. Thế là may. Trong nhà kho tương đối ấm, nhất
là cả trăm người chen chúc bên nhau. Một ngọn
đèn dầu leo lét thật nhỏ treo cao phía cửa, nơi
2 tên vệ binh đứng gác với súng ống đầy đủ và
sẵn sàng.
Không ai bảo ai, yên chỗ rồi, đều giở kho của
cải mới được phát lúc chuyển trại: 2 cái bánh
chưng nhỏ, một gói đường con và mấy gói lương
khô Trung Quốc. Ai cũng trân trọng bóc bánh, ăn
nhỏ nhẻ như muốn gậm nhấm những đắng cay tủi
nhục từng chịu 5, 6 năm qua và c̣n phải chịu
chưa biết đến bao giờ.
Lần chuyển trại này, tuy hơi khác với những lần
chuyển trại trước là chuyển vào Nam. Bọn cán bộ
không loan báo ǵ nhưng những tin đồn không biết
từ đâu mà anh em biết được là về Nam. Có lẽ do
gia đ́nh ra thăm nuôi có gặp 1 vài đoàn tầu chở
tù về Nam trước đó. Cũng có thể do một vài tên
cán bộ được anh em mua chuộc tiết lộ. Cuộc sống
tù đầy đă khốn khổ lại càng khốn khổ hơn nữa về
các tin đồn loang trong trại. Phát xuất từ đâu?
Có thể do chính anh em suy đoán và cũng có thể
do bọn cán bộ an ninh tung ra để đánh lạc hướng
tù nhân. Về Nam. Quả thật là hạnh phúc, dù là
hạnh phúc trong tù. Bởi cái khí hậu giá buốt của
rừng núi Việt Bắc ḥa cùng nỗi đói khát, lao
động khổ sai đă làm chúng tôi khiếp sợ. Nay lại
được thở cái khí hậu miền Nam hiền ḥa, ấm cúng
nào ai không ham. Có cái ǵ thật thân yêu, quyến
rũ trong cái khí hậu ấy. Nhưng chợt nhớ ra miền
Nam cũng đang bị quằn quại dưới chế độ mới. Thế
là ḷng chúng tôi lại chùng xuống, tiếc thương
da diết một cái ǵ đă mất không biết bao giờ mới
lấy lại được.
Về Nam, nhưng không biết về đâu. Gần ngày đi tin
đồn dội lên trái ngược nhau. Người nói về Xuân
Lộc Gia Rai, người nói về Khe Sanh biên giới
Việt Lào. Quả thật nhiều người trong chúng tôi
thấy chuyến đi này có vẻ dữ nhiều lành ít. Bởi
v́ sau khi biên chế các đội th́ thấy phần lớn
các đội ra đi đều là những đội có đầy đủ những
anh em có thành tích “phản động,” chống “Cách
Mạng.” Như vậy không lẽ chúng lại cho bọn “bướng
bỉnh” được hạnh phúc hơn sao. Cho nên cái niềm
vui được về Nam cũng giảm đi nhiều v́ những lo
lắng bị đầy vào Khe Sanh, nơi chốn càng khó khăn
hơn cho những chuyến thăm nuôi của gia đ́nh.
Trong cái âm thầm của niềm xao xuyến phập phồng
ấy, anh em bó gối sát bên nhau tṛ chuyện trong
làn khói thuốc lào dầy đặc. Ngoài trời, gió vẫn
lồng lộng thổi. Đêm vào sâu. Vẫn không một động
tĩnh của đoàn tầu nào cả. Đợi chờ. Đợi chờ.
Từ góc buồng kho chợt có tiếng đàn ghi-ta dạo
lên vài giai điệu. Chiếc đàn của “cậu P. Râu”
nổi tiếng trong trại tù. Không biết “cậu” đă dầy
công thế nào mà g̣ được những miếng tôn và gỗ
ván ép để làm nên 1 cái đàn như đàn ghi ta và âm
thanh, kỳ lạ thay cũng gần như ghi ta vậy. Cái
đàn xấu xí như vậy, không giống ai như vậy mà
cũng phải vào tù ra khám bao nhiêu bận. Bởi v́
chủ nhân của nó hay ca trộm “nhạc vàng,” “nhạc
ngụy” nên người th́ đi kỷ luật mà đàn th́ bị
tịch thu hoặc bị đập vỡ. Nhưng đàn của “cậu P.
Râu” th́ dù bọn chúng có đập cũng không thể vỡ
được nên nó cứ phải ra tù vào khám cùng với chủ
nó. Không những chủ nó quư nó mà anh em ai cũng
quí nó. Có nó nên nhiều ngày lễ nghĩ hoặc đêm
khuya thao thức nhớ nhà, nhớ cảnh đời cũ th́
tiếng đàn lại ngân lên cùng với giọng “Cậu P.
Râu” để mọi người cùng thả hồn về tháng năm xưa
ngập tràn kỷ niệm.
Bây giờ, túm tụm nhau trong nhà kho để hàng của
nhà ga Thanh Hóa này, với những tâm tư trĩu
nặng, buồn vui lẫn lộn, tương lai mịt mù, sống
không ra sống mà chết th́ quả thật ít có can
đảm. Cái u uất lúc nào cũng chụp xuống đầu anh
em, nhất là lúc chúng tôi có dịp quây lại với
nhau như lúc này.
Tiếng đàn lại rào rạt lên, điệu Boléro vui tươi
nhộn nhịp xua dần những u uất vào đáy tâm thức.
Rồi như tự thuở nào vọng đều, bài ca du mục
Mexico, Mexicain trải dài trong cái tĩnh mịch
của đêm vào sâu.
Một tiếng quát làm oai vọng từ ngoài hành lang
vào :
- Anh nào hát đấy.
Nhiều tiếng đáp lại từ phía cửa kho:
- Nhạc Liên Xô, cán bộ ạ.
- Thôi ngủ đi. Đừng có ca cẩm nhạc vàng, nhạc
ngụy đấy nhé.
- Yên trí đi cán bộ, tụi tôi ca toàn nhạc Cu-Ba,
Liên Xô không thôi.
- Anh đội trưởng đâu.
- Có tôi.
- Anh nói anh em kỷ luật, giữ yên lặng. Anh nào
ngủ được th́ ngủ đi. Các anh c̣n phải di chuyển
dài.
- Rơ, cán bộ.
Đội trưởng nói lớn:
- Các anh yên lặng nghỉ lấy sức đi. Anh nào
không ngủ được th́ hát khe khẽ thôi.
Không có tiếng hoạnh hoẹ ở bên ngoài nữa. Chúng
tôi biết chắc bọn cán bộ đă tụ họp nhau ở quán
nước dưới sân ga v́ quá yên tâm khi lùa hết
chúng tôi vào nhà kho này. Tường nhà kho thật
cao, mái kín mít, chung quanh không một khe hở.
Chỉ có một lối ra vào th́ lại thông xuống sân.
Ngồi trong quán nước, chúng cũng có thể kiểm
soát dễ dàng lối đi này.
Chính v́ khoảng không trong nhà kho lớn rộng nên
nó đă trở thành 1 thính đường tuyệt vời. P. hát
say sưa hết bài Mexico lại tiếp sang bài Cu Cu
Ru Cu. Anh em lặng đi v́ nhớ. Cảnh đời cũ lần
lượt hiện ra như những khúc phim đại vĩ tuyến
trên màn ảnh lớn ở Rex. Tôi chắc ai cũng nhắm
mắt lại để được sống êm đềm. Tiếng hát ấm, điệu
nhạc quen thuộc chạy khắp mạch máu chúng tôi.
Tôi nghe rơ hơi thở của bạn cùng cùm. Bao nhiêu
mối t́nh được sống lại, bao nhiêu ngày tháng hoa
niên được diễn ra. Cuộc t́nh nào đă mất. Đắng
cay nào vẫn c̣n. Người yêu nào c̣n chờ đợi. Thời
gian bỗng chốc như không có. Cứ tưởng ngồi trong
pḥng trà Đêm Mầu Hồng. Cứ tưởng như d́u dắt
trên bước nhẩy Queen Bee. Cứ tưởng như sắp hết
những ngày phép hiếm hoi. Saigon hoa lệ quá.
Saigon ăn chơi quá và Saigon vô t́nh quá. Người
chiến binh trở về. Tấm áo bạc mầu, đôi giầy sô
vẹt gót vui đi trên phố phường yêu cuồng sống
vội. Chiến tranh như cả một cơn giông tố đang
đến. Nó sẽ chụp lên đầu bất cứ ai. Saigon giới
nghiêm. Saigon vẫn đợi. P. đă hát đến bài thứ
mấy. Bây giờ là những bản nhạc t́nh bất hủ của
P. Duy. “Uống môi em ngọt” trên đường Duy Tân có
trường Luật một thời tôi theo học. Đường Duy Tân
cây dài bóng mát. Cặp đôi dưới bóng cây ngă dài
trên hè đường những chiều nắng nhạt hay những
sáng cúp cua bởi trong tay đă nhận được “lệnh
gọi nhập ngũ.” P. nhắc chúng tôi “d́u nhau đi
trên phố vắng” để rồi thoắt chốc P. lên Pleiku,
thành phố của lính, thành phố buồn hiu, may mà
có em, đời c̣n dễ thương. Để rồi mai nay rời xa
thành phố trở về trận địa th́ c̣n chút ǵ để
nhớ.
Ôi, tiếng hát của kỷ niệm. P. đă cho chúng tôi
cuộc sống cũ nhưng cũng làm chúng tôi đau đớn
tủi hờn, tiếc thương da diết. Đắm ch́m trong âm
thanh, ru hồn trong khúc nhạc chợt tỉnh ra thấy
thân tù tội khi người bạn cùng cùm cựa ḿnh cho
đỡ mỏi th́ cũng là lúc lôi người đồng cùm ra
khỏi giấc mộng con.
Thời gian như đứng lại. Có không. Tiếng hát vừa
dứt. Dưới ánh đèn dầu thật nhạt, mặt P. như một
bóng mờ. Trên tường kho lung linh bóng P. Lúc
này tôi mới cảm nhận được sâu sắc thế nào là
nghệ thuật và thế nào là nghệ thuật vị nhân
sinh.
Anh em bừng tỉnh lại như tôi. Một vài tiếng nhắc
nhở nhè nhẹ sợ làm tan loăng không khí tuyệt vời
mà sau hơn 6 năm tù tội không được thở.
Hai ba ống thuốc lào lặng lẽ được đưa tới gần P.
Anh yên lặng, run rẩy vê chút giấy nhỏ châm vào
đèn dầu. Hơi thuốc chạy sâu ḷng phổi anh. Thuốc
ngấm, ḷng phổi P. sẽ un đúc lại thành hơi ấm
truyền đến anh em bằng tiếng hát ngục tù. Buông
cái điếu cầy, P. chụp lại cây đàn. Bàn tay anh
chạy trên cần đàn kéo theo cả bàn tay người bạn
cùm chung. Bây giờ tôi mới thấy. Cảnh ấy càng
khiến tôi xúc động. P. ơi, có phải lúc ấy anh đă
xé hồn anh ra để chúng ta được sống đôi phút kỷ
niệm. P. lại tiếp tục hát. Bây giờ là những bài
của lính. Và lúc này đây tôi chắc anh em đều
nghĩ như tôi, Nhật Trường quả là nhạc sĩ của
lính. Nhạc Nhật Trường giản dị, không kiêu sa, ở
cấp nào hát cũng thấy thích hợp. P. đang kể về
người nơi tiền đồn nếu không thấy mai nở th́
không biết Xuân về hay chưa. Tuyệt thật, có là
chiến binh Việt Nam Cộng Ḥa mới thấm được những
lời ca này. Xếp bút nghiên theo việc đao cung,
người thanh niên nào trong thế hệ 1954-1970 cũng
đầy lăng mạn tính trong người. Lăng mạn tính ấy
càng được nuôi dưỡng thêm bởi những chương tŕnh
nhạc cho lính trên Đài Saigon, Đài Quân Đội và
các đài địa phương và ngay cả trên Đài Tiếng Nói
Tự Do mà mục tiêu là ở miền Bắc.
Mỗi bản nhạc P. hát lên nhắc nhở đến một cảnh
đời, nhắc nhở đến 1 giai đoạn đă sống, dù sống
trong cảnh đất nước đang bị họa cộng sản. Chinh
chiến bao năm trường mà “Chúa vẫn không đến ban
phép lành cho hết chiến chinh.”
Thời gian êm đềm qua đă mấy tiếng đồng hồ, P.
vẫn như được tiếp sức, liên tục không ngưng
nghỉ. Rồi L. rồi S. lai, như được khích động
cùng cực cũng cất lên những lời ca tuyệt hảo.
Đêm tù ca ở Thanh Hóa đă ghi sâu đậm trong tâm
tư tất cả anh em trong chuyến về Nam đó.
- Thôi các anh sửa soạn tư trang đi rồi xuống
sàn tập họp.
Tiếng bọn cán bộ vọng vào từ hành lang. Té ra
bọn chúng đă lên đây tự lức nào. Và có lẽ tiếng
hát đă làm mát được những tâm hồn bị nhào nặn
trong ḷ giáo dục Xă Hội Chủ Nghĩa Miền Bắc từ
nhỏ. Giọng chúng nói không có vẻ hằn học. Chúng
tôi âm thầm nói với nhau:
- Cộng sản có mất hàng thế kỷ, cũng khó mà tiêu
diệt được t́nh cảm con người.
***
Từ nhà kho, anh em chúng tôi đổ xuống sân ga.
Những con đường sắt song song gợi nhớ những
chuyến đi của Nguyễn Tuân mà phần nhiều chúng
tôi lúc c̣n là học sinh đều ham thích. Sân ga
đèn vàng. Nhưng là cái vàng của Miền Bắc Xă Hội
Chủ Nghĩa nên nó u uất. Đây đó, cách khá xa
nhau, một ngọn đèn vàng soi một khoảng hẹp trên
sân ga. Nhấp nhô đầu tù trong cái tranh tối
tranh sáng. Cảnh thật ảm đạm, nhất là sau những
giờ phút chúng tôi vừa được P. dắt về kỷ niệm.
Những ánh đèn bấm thoáng lia qua lia lại. Nhưng
đoàn tù vẫn âm thầm chịu đựng. Gió đêm sâu càng
buốt hơn. Chúng tôi ôm lấy nhau, túm tụm trên
sân ga. Một vài đám lại lập ḷe diêm thuốc lào.
Một tiếng c̣i tầu rít lên từ xa. Rồi những âm
thanh nặng nề của đoàn tầu đă tới. Anh em chúng
tôi xôn xao t́m lại hành trang. Giờ khởi hành đă
tới. Mừng lo lẫn lộn khiến trong dạ nôn nao khó
chịu.
Đâu đó có tiếng nói:
- Tầu mới dồn toa thôi. Các anh cứ ở yên chỗ.
Vậy là c̣n khá lâu. Đám “x́ ke” lại tụ tập lại.
Mặc dầu thời gian chờ đợi có vẻ c̣n dài, nhưng
không một ai gợi lại những giờ phút vừa qua
trong nhà kho. Có lẽ mọi người đều thấy quí báu
quá, muốn được chôn sâu, giữ riêng làm chút kỷ
niệm trong những tháng ngày tù.
Nhóm “x́ ke” chúng tôi 4 người, ngồi quây lại,
đưa lưng về phía gió. Một người nói:
- H́nh như ḿnh vào Khe Sanh.
- Nếu tới ga Quảng Ngăi mà tầu trở đầu th́ đích
thị.
- Làm sao thông báo kịp cho gia đ́nh nhỉ.
- Qua vĩ tuyến rồi, cứ quăng đại các mẫu thư
nhắn, may ra có người giúp đỡ.
- Không biết dân nhặt được có gửi giúp tụi ḿnh
không.
- Dân miền Nam th́ có nhiều hy vọng...
- Tôi viết thư thế này “Bà con cô bác ơi, tôi bị
đi cải tạo từ 1975 ra Bắc, nay được về Nam, chưa
biết về đâu, có thể Khe Sanh, hoặc Xuân Lộc, Hàm
Tân tiếp tục cải tạo. Mong bà con cô bác nhặt
được thư này gửi giùm về cho gia đ́nh tôi tên...
tại... muôn vàn đội ơn bà con cô bác.”
- Trời ơi, nghe thảm quá.
- Kệ. Miễn sao loan báo được cho gia đ́nh, kẻo
các bà ấy lại ra thăm nuôi nữa, vừa tốn công,
tốn tiền mà không được gặp lại thêm lo lắng.
Tất cả lại yên lặng bi thương. H́nh như ai cũng
đang nghĩ về vợ con, gia đ́nh, mỗi người mỗi
cảnh. Măi trong câu chuyện, tầu đă dồn toa xong
và đậu kế bên chúng tôi lúc nào không hay. Nơi
chúng tôi ngồi là khoảng tối, thật tối đến độ
không nh́n thấy được chiều cao của toa tầu. Tất
cả đều yên tâm là sẽ được lên các toa chở súc
vật như chuyến ra Bắc năm nào.
Tiếng c̣i lệnh từ xa rúc lên. Bọn cán bộ vội vă
xua dồn anh em chúng tôi đứng dậy, vào hàng ngũ.
Tiếng bọn quản giáo gọi các đội trưởng inh ỏi:
- Các anh đội trưởng báo cáo quân số đi.
- Đủ hết, cán bộ.
- Ôi dào, anh này, anh đếm lại kỹ đội anh cho
tôi đi.
Chúng tôi ngạc nhiên, tại sao hôm nay chúng lại
đổi giọng. Mọi khi đội trưởng mà nói thế th́ thế
nào chúng cũng la lối om ṣm.
Ánh sáng bỗng uà lên. Ở đâu thế. Anh em đều nhớn
nhác. Rồi tiếng xôn xao bắt đầu nổi rơ :
- Các toa chở hành khách.
Niềm vui chợt lan nhanh. Ánh sáng, dù là mù mờ,
nhưng đă như thêm độ sáng v́ đêm quá tối, tại
các toa xe lửa hắt ra soi mờ nhạt từng nét mặt
thoáng vui, rồi lại dè đặt.
Chúng tôi được dồn lên 2 toa chở khách hạng nh́,
tức là có băng ghế gỗ cho 3 người nhưng chúng
tôi phải ngồi tới 4. Thế mà vẫn không đủ ghế nên
một phần ba đă phải nửa ngồi nửa nằmtrên sàn
tầu, tại các lối đi và ngay cả trước pḥng vệ
sinh nữa.
Tới cả tiếng sau nữa, tầu mới chuyển bánh. Tôi
đoán lúc đó khoảng 3 giờ sáng.
***
Tiếng xe lửa đều đặn đă sớm ru ngủ anh em. Toa
xe đầy người mà thật vắng lặng. Hai tên vệ binh
ngồi măi lối lên xuống xe trên bốn chỗ dành
riêng cũng đang ngật ngừ, khẩu súng AK lỏng lẻo
trong ḷng. Tôi lén kéo cánh cửa gỗ lên. Qua
khung kính, trời vẫn tối đen bên ngoài. Thỉnh
thoảng lại có 1 vật ǵ vụt qua. Có lẽ là những
cột điện hay thân cây, đang lùi lại sau như Miền
Bắc Xă Hội Chủ Nghĩa. Mỗi phút một xa chúng tôi.
Ôi! Sáu năm với rừng già, suối độc, sống đời ăn
lông ở lỗ. Sáu năm với những cảnh đời khác biệt
hẳn với quá khứ mà mỗi khi nghĩ về, tôi cứ tưởng
cái quá khứ ấy là xứ hoang sơ nào đó măi bên
rừng già Phi Châu mà tôi đă nằm mơ. Sáu năm leo
núi, trèo đèo hàng ngày. Sáu năm xây cất nhà tù
để rồi lại phá đi xây cất lại. Sáu năm đan lát
vật dụng bằng tre nứa. Sáu năm làm quen với nền
văn minh hiện đại của Miền Bắc Xă Hội Chủ Nghĩa
như một tên cán bộ kỹ thuật khoe: “Các anh có
thấy một nước nào trên thế giới mà xây dựng cả
một cái hội trường lớn chứa cả trăm người như
thế này mà không phải dùng tới 1 cây đinh chưa!
Đó, các anh rất thiếu kiến thức về dân tộc Việt
Nam anh hùng. Tại sao tre nứa ta có nhiều mà ta
lại phải nhập hàng ni-lon làm rổ rá, đồ dùng
bằng nhựa? Các anh được Đảng và Nhà Nước khoan
hồng tha tội chết lại c̣n được học tập lấy một
nghề để mai này ấm vào thân các anh mà các anh
c̣n chây lười lao động...” Tôi nhớ nét mặt vênh
váo của anh ta lúc ấy thật tức cười. Bởi v́ cái
hàm răng hô của anh không làm sao để cho cái môi
trên che kín được, khiến lúc nào anh ta cũng như
sắp cười. Anh ta nói say sưa những điều anh ta
được nhồi nhét từ nhỏ. Anh ta kiêu hănh thực bởi
v́ cả đời anh ta chắc chưa nh́n được thấy cái ǵ
khác hơn vùng anh ta ở. Mà vùng này, thuộc huyện
Phù Yên, một huyện vùng núi tỉnh Sơn La, chỉ có
thưa thớt dân thường và một ít người Hà Nội, sau
năm 1954 phải đày đi kinh tế mới ở đây.
Tận trong thâm tâm chúng tôi thường thấy thương
hại những con người như vậy. Nếu anh được sinh ở
miền Nam, có lẽ anh đă ngồi trên những chiếc máy
cầy nhỏ chạy trên ruộng đất của ḿnh.
Trời bắt đầu hửng sáng. Lờ mờ những khuôn ruộng
nhỏ hiện trên khung kính toa xe. Vẫn là những
khuôn ruộng chưa đến 1 công cầy rải rác đó đây.
Những năm ở núi rừng miền Bắc, bọn cán bộ thường
khoe khoang là ở miền Bắc nông nghiệp đă được
hiện đại hóa. Sức máy đă thay sức người. Con
người đang được giải phóng để tiến lên thiên
đường cộng sản. Và chúng tôi, dĩ nhiên, chưa bao
giờ tin được bất cứ lời nói nào của họ, dù chúng
tôi chưa có dịp được nh́n thấy hàng đoàn máy cầy
xếp hàng ngang chạy trên “những đồng ruộng không
c̣n be bờ đắp vũng như xưa nữa.”
Trời đă sáng hẳn. Xe lửa đang chạy trên vùng
Nghệ An Hà Tĩnh. Trên đồng ruộng đă đầy người xa
xa, một vài đám mà cờ xí biểu ngữ nhiều hơn
người, đang tụ tập trên bờ ruộng. Họ đang “Ra
Quân Xuống Đồng” bắt đầu vụ Đông-Xuân. Gần bên
đường xe lửa chạy chúng tôi vẫn thấy người cầy
thay trâu ḅ. Cảnh này quá quen thuộc với anh em
chúng tôi. Bao nhiêu lần rồi tôi đă phải làm
trâu cùng với một bạn tù nữa kéo cái cầy hay cái
bừa trên những thung lũng śnh lầy của núi rừng
Việt Bắc. Nước với đất mùi sền sệt, quánh lại,
váng đỏ phía trên, đen kịt phía dưới với hằng hà
sa số là đỉa. Thế mà chúng tôi vẫn phải lội
xuống cầy, bừa, làm cỏ cho loại lúa nương èo
uột. Đến giờ giải lao bước lên bờ nh́n lại đôi
bắp vế thấy cả chục con đỉa đen to, mọng máu
ḿnh. Bao nhiêu tháng ngày qua như thế đă lấy đi
mất một số anh em nhiễm bệnh sốt vàng da. Tôi
thầm cầu nguyện cảm ơn Trời Phật đă cho tôi
thoát khỏi cái thời gian kinh hoàng ấy.
Tầu vẫn śnh sịch chạy trong cái suy nghĩ miên
man. Cảnh đời bên ngoài của người dân đă chắc
hơn ǵ chúng tôi. Một niềm đau xót dội lên khi
chợt nghĩ về vợ con, gia đ́nh. Thư sau cùng tôi
mới nhận được th́ vợ tôi loan báo đă cùng các
con đi kinh tế mới theo lời cán bộ phường khóm
chỉ bảo để cho chồng sớm được về đoàn tụ. Không
biết vợ tôi viết “kinh tế mới” theo nghĩa nào.
Nghĩa đen hay nghĩa bóng. Nghĩa bóng là “vượt
biên.” Nghĩa nào th́ cũng khiến tôi lo lắng.
Không dưng tôi nh́n đứa bé khoảng 9 tuổi cùng
với anh nó khoảng 10, 11 tuổi cùng g̣ lưng kéo
cái bừa mà người đàn bà vẻ lam lũ đang cố lựa
đẩy phía sau, trên thửa ruộng xăm xắp nước, mà
tưởng như 2 đứa con của ḿnh. Cha nó đâu? Đi cải
tạo hay c̣n đi chiến đấu làm nghĩa vụ quốc tế ở
Kampuchia. Tôi định thần nh́n kỹ, trên khắp
ruộng đồng phần lớn là đàn bà, trẻ em. Có một
vài thanh niên, tráng niên th́ lại đứng trên bờ
chỉ trỏ. A, bọn cán bộ Xă đó. Chúng đang phân
công, đang lập kế hoạch thi đua để lập công dâng
Bác và Đảng trên sức đàn bà trẻ em này. Hai má
tôi ấm nước mắt. Tôi quay nh́n vào trong bắt gặp
người bạn đồng tù ngồi trước mặt tôi cũng đang
thờ thẫn. Hai ánh mắt gặp nhau. Anh lắc đầu ngán
ngẩm.
Đoàn tầu chậm dần. H́nh như nó sắp vào một ga
nào đó. Một bạn tù ngồi gần phía tên vệ binh hỏi
ǵ đó, hắn lắc đầu nhướn nh́n ra ngoài. Tên quản
giáo chợt xuất hiện, ngó khắp một lượt anh em
chúng tôi. Chợt hắn nh́n thấy cánh cửa sổ gỗ che
trong khuôn kính nào cũng được kéo lên cả, hắn
đanh giọng:
- Ai cho các anh kéo cửa lên thế. Có đóng lại
không. Nhân dân mà thấy các anh là họ ném đá vào
toa đấy. Đóng lại. Khẩn trương lên.
Các cánh cửa được kéo sập xuống. Nhưng tôi cũng
đă thoáng nh́n thấy chữ Ga Đồng Hới. Tên quản
giáo quay đi, tiếng xôn xao nổi lên liền:
- Đồng Hới.
- Ga tới là Đông Hà rồi. Sắp vào tới miền Nam!
Trưa nắng bên ngoài gắt gao. Không khí có vẻ ấm
lại. Tôi vụng trộm đẩy dần cánh gỗ lên để nh́n
quang cảnh bên ngoài. Ga Đồng Hới cũng thưa thớt
người - Một vài quán nước lèo tèo ở sân ga.
Khách là đám người ăn bận quần áo bộ đội mà
không phải bộ đội v́ hầu hết, thanh niên tráng
niên ở miền Bắc đều phải đi bộ đội khi phục viên
được cho giữ quần áo lính. Vả lại quần áo lính
th́ bền nên nó đă trở thành mốt ăn mặc của nhân
dân miền Bắc nhiều năm qua. Những quán nước tư
nhân vẫn là những cái chơng tre trên để cái tủ
kính nhỏ bày vài gói thuốc lá, thuốc lào, dăm
cái kẹo lạc, ít bánh lá và 1 b́nh nước trà lớn
tướng. Tôi tự hỏi: “Không biết họ có bán cà phê
như đại đa số quán bên đường ở miền Nam không.”
Rồi tôi lại chợt nhớ có lần bọn cán bộ vệ binh
hỏi chúng tôi:
- Ở phía Nam, các anh hay uống cà phê lắm nhỉ.
- Đa số dân miền Nam, cả đàn ông lẫn đàn bà đều
hay uống cà phê đá.
- Uống có đường không?
- Có chứ, cán bộ.
- Đường ở đâu ra cho đủ.
- Trời ơi, cán bộ vào quán nước, bàn nào cũng có
hũ đường để sẵn, muốn uống bao nhiêu, tùy. Nhưng
có ai uống cà phê ngọt quá đâu.
- Anh nói thế nào ấy chứ!
Tên cán bộ ấy nhất định không tin những điều
chúng tôi nói. Hắn cho là chúng tôi tuyên truyền
v́ hắn không thể nào h́nh dung nổi đường để ê
hề, ai muốn ăn bao nhiêu cũng được. Bởi v́ ở
Miền Bắc Xă Hội Chủ Nghĩa của hắn đường chỉ được
phát cho cá nhân 3 tháng 1 lần, mỗi lần 1 hoặc 2
trăm gờ ram. Có khi khan hiếm quá, đường trở
thành thứ để “bồi dưỡng” cho người có công hoặc
chức vụ.
Chúng tôi không biết đoàn tầu này có bao nhiêu
toa, nhưng chắc chắn là có 2 toa tù chúng tôi.
Nhưng đến đây chúng tôi mới được biết có cả thẩy
4 toa tù, nhờ vào khúc quanh mà chúng tôi nh́n
thấy. Ngoài 4 toa tù này, có đến 5, 6 toa hành
khách, nhưng giữa các toa hành khách với các toa
tù là 1 toa riêng cho bọn cán bộ. Anh em chúng
tôi b́nh luận với nhau:
- Vậy là không đến nỗi nào.
- Là sao?
- Không lẽ hành khách lại cũng vào Khe Sanh cả.
- Ôi! sao ông ngây thơ thế. Tới một ga nào đó,
buổi tối, anh em ta sẽ lại bị lùa xuống hết và
lại lên các xe mô-lô-tô-va và xuyên rừng vào Khe
sanh, mấy hồi.
Không khí đang vui, lại chợt lắng xuống v́ cái
nhận xét quá thực tế của một bạn tù. Đoàn tầu
lại chuyển bánh. Nhiều anh em t́m lại thế nằm
cho đỡ mỏi v́ cái cùm dính tay 2 người cứ phải
nằm hoặc ngồi nghiêng về một phía măi. Có tiếng
th́ thầm bên tai tôi:
- Lúc năy cậu có thấy ǵ không?
- Không.
- Ở sân ga phía ngoài có khá đông người.
- Chắc hành khách chờ tầu.
- Không, hành khách ǵ mà bọn công an cứ xua đi
như xua tà. Tôi c̣n thấy nhiều cánh tay vẫy bọn
ḿnh nữa.
- Rồi sao.
- Thế thôi. Cậu có vứt được mẫu thư nào chưa.
- Chưa. C̣n cậu.
- Rồi. Hai lần.
Tôi trợn mắt nh́n người bạn tù. Anh ngồi ngay
cạnh tôi mà sao tôi lại không biết. Tôi hỏi với
đầy vẻ thắc mắc:
- Cậu tài quá. Làm sao cậu làm được?
Anh cười kiêu hănh. Rồi thong thả anh đưa ánh
mắt xuống sàn tầu. Tôi chợt hiểu ra. Sàn tầu là
những thanh gỗ liền nhau dọc theo các gờ khung
sắt. Thanh gỗ dưới chân chúng tôi đă mục và gờ
sắt đă sét, có ai đó đă khoét rộng thành 1 khe
đủ đưa lọt lá thư nhỏ. Anh bảo tôi :
- Làm đi chứ... Cậu có mấy cái.
- Ba cái. Định để qua ga Đồng Hới...
- Ít thế. Tôi viết sẵn 10 cái, cứ liên tiếp bỏ
tại các ga. Thế nào cũng có 1 cái lọt về đến
nhà. Đồng bào vẫn thương tụi Quốc Gia ḿnh lắm.
Tôi làm theo lời anh. H́nh như tâm tư vơi đi
được đôi phần.
|