Góc
chiến trường xưa:
Vài kỷ niệm về Sư Đoàn 5 Bộ Binh
& Tướng Lê Nguyên Vỹ
Triệu Vũ
Monday, April 06, 2009
(3)
Khoảng trung tuần tháng 12-1974, từ phía Đông
Bắc căn cứ Lai Khê, tin dữ đưa về: Việt Cộng tấn
công một số chi khu của tỉnh Phước Long như Đôn
Luân, Đức Phong và đang uy hiếp tỉnh lỵ. Mọi
liên lạc tiếp viện, yểm trợ không thể dùng đường
bộ, chỉ hoàn toàn trông vào không lực VNCH.
Trong khi phi trường Biên Ḥa, phi trường Phước
Long, và BTL/SĐ5 bị pháo liên tục th́ Sư đoàn 7
của địch, có tăng và pháo yểm trợ mỗi ngày một
siết chặt ṿng vây quanh Phước Long. Bộ Tư Lệnh
Quân Đoàn III đă không vận tăng cường đến Phước
Long lực lượng Biệt Cách Dù, một tiểu đoàn bộ
binh và 3 đại đội trinh sát. Ngoài ra rất nhiều
phi tuần đánh bom quanh tỉnh lỵ. Nhưng v́ đánh
giặc theo kiểu “con nhà nghèo”, bắn một viên
đạn, thả một trái bom đều phải tính thành tiền,
vả lại làm ǵ c̣n B52 trải bom thảm theo yêu cầu
nữa, lại không c̣n một lực lượng Tổng Trừ Bị nào
tăng phái cho Quân Đoàn, v́ thế Phước Long chỉ
cầm cự được thêm ít lâu và thất thủ vào ngày
6-1-1974. Đây là tỉnh lỵ đầu tiên của VNCH bị
địch lấn chiếm trong chiến dịch “tầm ăn dâu” hay
là “giành dân lấn đất”.
Không biết do áp lực nào, Tổng Thống Thiệu đưa
Tướng Dư Quốc Đống về thay Tướng Thuần. H́nh như
Tướng Đống cũng lập kế hoạch giải tỏa và cần
tăng viện một sư đoàn, nhưng không được đáp ứng
v́ không đủ quân, nên có ư xin từ chức. Rồi vài
tháng sau, Tướng Nguyễn Văn Toàn thay Tướng
Đống. Tướng Thuần, Đống hoặc Toàn làm tư lệnh,
Phước Long vẫn nằm trong tay Việt Cộng và h́nh
như Phủ Tổng Thống hay Bộ Tổng Tham Mưu đă quay
mặt với lư do nơi đây không phải là vị trí chiến
lược quan trọng. Chỉ trong ṿng 3 tháng mà hai
lần thay Tư Lệnh quân đoàn bảo vệ Saigon. Rồi
lại một tin không vui từ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn
III truyền đi: Tướng Hiếu đă tử nạn!!! Nghe tin
này, người ta thực hoang mang và xúc động.
Trong khi đó, sau khi chiếm được Phước Long,
Việt Cộng tảng lờ những chống đối, lên án, tại
Ủy ban kiểm soát đ́nh chiến, tại Ban liên hợp
quân sự v.v... cứ khăng khăng “chỉ đánh trả lại
những vi phạm Hiệp định Paris” của VNCH. Quan
trọng hơn hết, Hoa Kỳ không có phản ứng, hoặc
phản ứng lấy lệ. Dĩ nhiên, đối với Hoa Kỳ, chiến
tranh VN đă là dĩ văng. Kể từ năm 1967, họ đă
từng bước lập kế hoạch, nào là thư từ qua lại,
nào là đi đêm, hoạt động con thoi, nào là qua
trung gian các cường quốc rồi chiến tranh cục
bộ, Việt Nam hóa chiến tranh, rồi leo thang, rồi
ném bom Hà Nội v.v... Cuối cùng, gần 6 năm sau,
đúng nửa đêm ngày 27 rạng 28-1-1973 giờ quốc tế,
có một bản văn được kư kết tại Hội nghị Paris
với tên gọi “Hiệp Định về Chấm Dứt Chiến Tranh
và Tái Lập Ḥa B́nh tại Việt Nam” theo nhu cầu
và quyền lợi của quốc gia Hoa Kỳ. Hơn 60,000
lính tác chiến Mỹ c̣n lại đă triệt thoái. Hầu
hết tù binh Mỹ được phóng thích, kể cả Đại tá
Không quân John McCain - đương kim ứng cử viên
Tổng thống Mỹ - sau hơn 5 năm đủ mùi vị đầy đọa,
hạ nhục tại Hỏa Ḷ Hà Nội. Dù chẳng phải không
tiên liệu được tham tâm nhất thống miền Nam của
Lê Duẩn và Đảng Lao Động Việt Nam, nhưng TT
Nixon và Ngoại trưởng Kissinger không có một lựa
chọn nào khác, đành vui hưởng cái gọi là “ḥa
b́nh trong danh dự” [peace with honor] từ Mùa
Xuân 1973. (Không biết đây có phải là Mỹ đă
“thua” và phải “tháo chạy” như có người đă nhận
xét?)
Tại Bộ Tư Lệnh SĐ5BB, đầu năm 1975, Đại Tá Từ
Vấn giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng thay Đại Tá
Chinh xin thuyên chuyển về trường Hạ Sĩ Quan Nha
Trang. Đại Tá Nguyễn Mạnh Tường, theo trên cho
biết, có liên hệ đến vụ đảo chánh 11-11-1960,
nên không được chấp thuận chức vụ Tham Mưu
Trưởng. Tướng Vỹ chỉ định Ông làm Phụ Tá Hành
Quân.
Nh́n chung Quân đội VNCH giai đoạn này, đă ở thế
thủ. Viện trợ quân sự bị cắt giảm nhiều, không
đủ lực mở những cuộc hành quân quy mô, có tăng,
có pháo và phi cơ yểm trợ đầy đủ như trước.
Tướng Vỹ cho biết, trong t́nh h́nh xấu nhất, Ông
có thể cầm cự 6 tháng không cần tiếp tế.
Nhưng Hà Nội bắt đầu phát động chiến dịch
Xuân-Hè 1975, với hy vọng làm ăn ở miền Tây
nguyên. Ba sư đoàn Bắc quân, được tăng pháo và
đặc công yểm trợ, tấn công và chiếm được thị xă
Ban Mê Thuột, nơi đặt Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 BB
vào thượng tuần tháng 3-1975. Tư lệnh Quân đoàn
II và Bộ Tổng Tham Mưu hoàn toàn bị bất ngờ.
Giữa lúc các lực lượng cơ hữu của QĐ II đang lo
tái chiếm Ban Mê Thuột, TT Thiệu triệu tập một
phiên họp mật với Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm,
Đại Tướng Cao Văn Viên và Trung Tướng Đặng Văn
Quang tại hành lang Dinh Độc Lập, tiết lộ đă
quyết định triệt thoái khỏi Pleiku và Vùng I
chiến thuật, rút về lập tuyến pḥng thủ Phan
Rang-Ban Mê Thuột. Lư do chính là phái đoàn Nghị
sĩ mới từ Mỹ về cho biết viện trợ tài khóa
1975-1976 lại bị cắt giảm. TT Thiệu đành phải
thực hiện chiến lược “đầu bé, đít to” - cắt nhỏ
dần lănh thổ kiểm soát, cốt sao giữ được Vùng
III và Vùng IV. Quyết định này được thông báo
cho Tướng Trưởng ngày 12-3-1975: Hoàn trả Nhảy
Dù về Sài G̣n; nếu cần, triệt thoái Huế, về giữ
Đà Nẵng. Hai ngày sau, TT Thiệu cùng các Tướng
Khiêm, Viên và Quang bay ra Cam Ranh, họp mật
với Tướng Phạm Văn Phú, và cho lệnh triệt thoái
Kontum-Pleiku. Tướng Phú đề nghị cho hành quân
cấp Quân Đoàn dài theo Quốc lộ 7-B - từ ngă ba
Thuần Mẫn trên lộ 14, xuống Cheo Reo (Phú Bổn),
Củng Sơn, rồi Tuy Ḥa. V́ lư do “bảo mật”, ngay
ngày 16-3, toàn bộ lực lượng QĐ II bắt đầu rút
khỏi Pleiku. Các lực lượng Cảnh sát, Địa Phương
Quân và Nghĩa quân đều bị bỏ lại. Ngay trong đêm
16-3, hỗn loạn đă bùng nổ ở Pleiku, khi Sư Đoàn
6 Không Quân di tản gia đ́nh và thân nhân. Hàng
chục ngàn dân chúng Pleiku thu góp tài sản đổ về
đường 7-B. Văn Tiến Dũng, dù bất ngờ, cũng sai
quân đuổi theo truy kích. Đoàn di tản bị kẹt
đọng lại ở Cheo Reo, và rồi Củng Sơn. Quốc lộ
7-B trở thành địa ngục trần gian cho những quân
nhân QĐ II di tản. Toàn bộ xe tăng, thiết giáp
và pháo bị lọt vào tay CSBV. Chưa đầy 5,000
người di tản t́m được về Tuy Ḥa. Tư lệnh lực
lượng bảo vệ, Chuẩn Tướng Tất, bị bắt sống. Trực
thăng cứu thoát được Chuẩn Tướng Cẩm, Tư lệnh
phó QĐ II, về Tuy Ḥa, nhưng sau này vẫn lọt vào
tay CS.
Lư do TT Thiệu ra lệnh triệt thoái, tới nay vẫn
c̣n là dấu hỏi lớn, v́ đă mở đầu cho sự sụp đổ
hoàn toàn của miền Nam Việt Nam. Người ta nghĩ
rằng trước khi trở thành Tổng Thống, Ông đă là
một Trung Tướng, đă là Bộ Trưởng Quốc Pḥng, vậy
th́ đằng sau quyết định đó, có ẩn ư ǵ...? Chỉ
chắc một điều là quyết định này không do Mỹ chỉ
thị để có thể “tháo chạy”. Đại tướng Khiêm và
Trung tướng Quang đă khiến các nhân viên Mỹ cực
kỳ bực dọc v́ không thông báo cho Mỹ biết việc
này, khiến các nhân viên Mỹ ở vùng II và Vùng I
thất điên bát đảo.
Hạ tuần tháng 3-1975, sau khi cuộc triệt thoái
cao nguyên trở thành thảm bại, TT Thiệu cho lệnh
Tướng Trưởng bỏ ngỏ các tỉnh Quân khu I, rút về
tử thủ Đà Nẵng. Nhưng ngày 29-3, Đà Nẵng bị bỏ
ngỏ. Các tỉnh duyên hải miền Trung cũng lần lượt
sụp đổ như lâu đài trên băi cát. Ngay đến Phan
Rang, quê hương của TT Thiệu, cũng di tản từ
ngày 2-4-1975.
Lữ Đoàn 3 Dù đang trên tàu về Sài G̣n, được lệnh
đổ bộ xuống Nha Trang, rồi từ đây kéo lên Khánh
Dương, chốt chặn mức tiến của SĐ 10 CSBV. Một Lữ
đoàn Dù khác, cùng tàn quân SĐ 2 BB và SĐ 6 KQ,
được điều ra Phan Rang lập Bộ Tư Lệnh Tiền
Phương Quân Đoàn III. Nhưng chốt pḥng thủ chiến
lược này bị cánh quân miền Đông của Lê Trọng
Tấn, với quân số hơn 1 quân đoàn, diệt gọn trong
hai ngày 16/17-4-1975.
Ngày 18-4-1975, Long Khánh bỏ ngỏ. Tướng Toàn
phải di tản Không quân xuống Cần Thơ. Mặc dù hai
Sư Đoàn 25 BB và 5 BB c̣n trấn giữ phía Tây Bắc
và Bắc Sài G̣n, t́nh thế đă tuyệt vọng. Bắc quân
lên tới hơn 3 quân đoàn, với tăng, pháo hợp
đồng.
Tối 21-4-1975, TT Thiệu bàn giao cho Phó TT Trần
Văn Hương, để “trở lại chiến đấu bên các chiến
hữu”. Nhưng bốn ngày sau, hai ông Thiệu, Khiêm
bí mật rời Sài G̣n bằng phi cơ Mỹ. TT Hương cũng
chỉ ở Dinh Độc Lập được một tuần lễ, rồi ủy
quyền cho Quốc Hội. Chiều ngày Thứ Hai,
28-4-1975, Đại Tướng Dương Văn Minh tuyên thệ
nhậm chức Tổng Thống - với hy vọng đạt một giải
pháp màu hồng với Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng
Miền Nam. Điều Tướng Minh và nhiều chuyên gia
ngoại quốc không biết là vai tṛ MTDT/GPMN đă
hầu như chấm dứt. Lê Duẩn - người không ngừng cổ
vơ “cách mạng là tấn công” - cho lệnh phải giải
quyết càng sớm càng tốt, nếu có thể trước năm
1976 như dự định.
Tướng Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu không chọn
đường tử thủ. Sáng ngày 29-4-1975, Thủ Tướng Mẫu
chính thức yêu cầu người Mỹ rút khỏi VN, đóng
cửa văn pḥng tùy viên quân sự (DAO) - một bước
ngoại giao có tính toán giúp Mỹ rảnh tay ra đi.
Cũng ngày 29-4-1975 này, Tướng Toàn và Bộ Tư
Lệnh QĐ III từ Biên Ḥa di chuyển về G̣ Vấp, 5km
Bắc Thủ đô Sài G̣n. Riêng Sư Đoàn 5, lực lượng
vẫn bảo toàn nguyên vẹn. Theo Tướng Vỹ, có thể
địch tránh không muốn đụng SĐ5, nên chúng pháo
cầm chân và tiến quân về Sàig̣n theo hai hướng
Đông và Tây của Lai Khê, đồng thời đặt các nút
chặn phía Nam của Lai Khê, B́nh Dương. Sư Đoàn 5
cũng được lệnh chuẩn bị di chuyển về phía Nam để
tái phối trí. Sáng 30 tháng 4-1975, sau buổi họp
Tham Mưu thường lệ chừng một tiếng đồng hồ,
người ta bàng hoàng nghe tin TT Dương Văn Minh
tuyên bố đầu hàng. Ông c̣n nhân danh Tổng Tư
Lệnh Quân Đội ra lệnh cho quân nhân các cấp
buông súng, chờ bàn giao! Đúng là sét đánh ngang
tai!
Tướng Vỹ lúc đó ưu tư nhiều, vẻ mặt trầm lặng,
khác với bản tánh thường ngày. Ông tâm sự với
một số sĩ quan tham mưu thu hẹp bên cạnh, với
nét mặt b́nh thản khác thường: “Lệnh trên đă ban
ra, phải thi hành. Hơn nữa, con em người ta giao
cho ḿnh, không lẽ đem nướng vào giờ thứ 25 sao?
Đối với các anh em th́ tùy ư quyết định”. Xong
Ông đi về phía trailer [pḥng lưu động của quân
đội] dùng làm pḥng ngủ riêng cho Tư Lệnh.
Ít phút sau, hai tiếng nổ khô khan vọng ra. Mọi
người hốt hoảng chạy tới. Tướng Vỹ đă dùng khẩu
súng ngắn của Ông để tự sát. Vết đạn xuyên từ
phía dưới cằm lên đầu. Các Sĩ Quan hiện diện
kính cẩn nghiêng ḿnh, không cầm được nước mắt.
Lúc ấy là 12 giờ rưỡi trưa ngày 30 tháng 4 năm
1975.
Trong khi mọi người vội vă đưa thi hài Tướng Vỹ
an táng tạm trong ṿng đai căn cứ th́ phía ngoài
hàng rào, Việt Cộng dùng loa phóng thanh, âm
lượng thật lớn kêu gọi mọi người bên trong đầu
hàng. Khoảng 3 giờ chiều, Bộ Tham Mưu và các đơn
vị mới tự động rời khỏi căn cứ, không có súng
nổ. Nhưng mới qua khỏi quận lỵ Bến Cát, bị địch
chận lại, tịch thu tất cả vũ khí, quân trang
dụng. Hạ sĩ quan trở xuống cho tự túc về địa
phương, sĩ quan giữ lại, phân theo cấp bậc để
đưa đi tù. Trang quân sử về Sư Đoàn 5 Bộ Binh
chấm dứt ở thời điểm này.
* * *
Từ lâu, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, rồi sau
những năm tháng bị Việt Cộng giam cầm, hành hạ,
tôi đă có ư định ghi lại vài kỷ niệm về Sư Đoàn
5 Bộ Binh và Tướng Lê Nguyên Vỹ. Đă gần 33 năm
trôi qua, tôi chưa thực hiện được ư nguyện này.
Khi c̣n ở trong nước cũng như kể từ khi định cư
tại Mỹ mười mấy năm trước, biết bao nhiêu câu
hỏi của bằng hữu, của đồng đội, của người thân
xoáy sâu măi trong tâm trí tôi. Ai cũng yêu cầu
tôi nói đôi điều về Tướng Vỹ. Tôi biết ở đâu đó,
rải rác một vài ḍng trên báo chí, hay vài phút
trong một chương tŕnh phát thanh tiếng Việt,
không đủ thỏa măn người đọc, người nghe. Lại
nữa, tôi là một sĩ quan của Sư Đoàn 5BB, suốt 10
năm rưỡi trong quân ngũ, 2 năm dành cho quân
trường và một đơn vị ngoài SĐ, 8 năm rưỡi c̣n
lại dành cho Sư Đoàn 5 và tôi đă khoác quân phục
mang phù hiệu SĐ5 tới ngày cuối cùng. Ai mà
không hănh diện khi có dịp nhắc đến đơn vị của
ḿnh, lại c̣n hănh diện hơn nữa khi nhắc đến cấp
chỉ huy đơn vị đă anh dũng, can đảm tuẫn tiết,
quyết không chấp nhận đầu hàng địch. Ngày nào
chưa ghi được đôi ḍng, dù là không đầy đủ lắm
về Tướng Lê Nguyên Vỹ, tôi c̣n rất áy náy, như
gánh nặng chưa trút xuống được và thấy ḿnh mắc
một món nợ chưa kịp trả. Món nợ ấy là niềm hănh
diện mà Tướng Vỹ đem lại cho SĐ5 BB nói riêng và
Quân lực VNCH nói chung. Tướng Vỹ là người lính
chiến đấu ngoài mặt trận với đầy đủ cái Oai cái
Dũng của nhà Tướng. Tôi cũng muốn nhắc nhở một
sự thực mà người ta muốn chối bỏ là Miền Nam có
nhiều dũng tướng, thành mất, Tướng phải chết
theo thành, như Tướng Lê Nguyên Vỹ đă làm.
30 tháng 4-1975, ngày tang lớn. Những bàng
hoàng, xúc động sau 33 năm, nay đă lắng dịu phần
nào. Cuộc sống nơi xứ người và tuổi 70 khiến tâm
trí tôi b́nh thản hơn. Đôi ḍng đơn sơ trên là
những sự thực về Tướng Vỹ mà tôi biết, dĩ nhiên
chưa phải là tất cả. Dẫu sao, đây là những ḍng
tâm thành, thay nén nhang dâng lên tưởng niệm vị
anh hùng dân tộc Lê Nguyên Vỹ nhân ngày giỗ thứ
33 của người.
Triệu Vũ