|
Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân
Phạm Tín An Ninh
14/01/2010
Hơn hai mươi năm nay, từ ngày đến định cư tại Na-Uy, một nước Bắc Âu
nổi tiếng với những mùa đông dài băng gía, nhưng lại rất đẹp vào
ngày hè và lăng mạng vào thu, tôi vẫn giữ thói quen đi len lỏi trong
rừng, không chỉ vào những ngày nghỉ cuối tuần mà bất cứ lúc nào thấy
ḷng ḿnh trăn trở. Không phải ṭ ṃ v́ những cuộc t́nh cháy bỏng
trong "Rừng Na-Uy", cuốn tiểu thuyết nổi tiếng mới đây của một ông
nhà văn Nhật Bản, nhưng để được lắng nghe những tiếng khóc. Tiếng
khóc của cây lá, của gỗ đá trong rừng. Tiếng khóc có mănh lực quyến
dụ tôi, thúc bách tôi, cho dù nó đă làm tôi đau đớn, khốn khổ gần cả
một đời.
Tôi sinh ra ở Huế, nhưng lớn lên ở thành phố Nha Trang, sau khi cùng
cả nhà theo cha tôi
vào đây nhận nhiệm sở mới. Có lẽ ngày ấy tôi là một cô gái khá xinh.
Ngay từ năm tôi học
lớp đệ lục trường nữ trung học Huyền Trân, cũng đă có vài chàng học
tṛ khờ khạo si t́nh,
đạp xe theo sau tôi những buổi học tan trường. Lên năm đệ tam, cũng
có vài chàng SVSQ
Hải Quân, Không Quân chờ trước cổng trường tán tỉnh. Nhưng như là số
trời, trái tim tôi chỉ
rung động trước một người. Anh là bạn chí thân với ông anh cả của
tôi, hai người học cùng
lớp thời c̣n ở trường Vơ Tánh. Tháng tư năm 68, chúng tôi làm đám
cưới, kết thúc một cuộc
t́nh đầu thật dễ thương, không có nhiều lăng mạng, cũng chẳng có
điều ǵ trắc trở. Ông xă
tôi là lính Biệt Động Quân. Hậu cứ đóng ở Pleiku. Ngày về làm đám
cưới, đôi giầy saut của
anh c̣n bám đầy đất đỏ hành quân. Đám cưới của chúng tôi được tổ
chức tại một nhà hàng
nằm gần bờ biển, không xa ṭa tỉnh, nơi vừa trải qua khói lửa Mậu
Thân.
Sau đám cưới, cha mẹ chồng cho tôi theo anh lên Pleiku một tháng,
rồi phải trở về sống ở nhà chồng, bởi anh đi hành quân liên miên,
không an toàn khi tôi phải sống một ḿnh. Chỉ khi nào
tiểu đoàn về hậu cứ dưỡng quân, anh đánh điện tín để tôi lên với anh.
Măi đến ba năm sau, tôi mới sinh cho anh đứa con đầu ḷng. Một đứa
con trai bụ bẫm. Có lẽ v́ nặng nợ với núi rừng, anh đề nghị tôi đặt
tên cho con là Cao Nguyên. Lê Cao Nguyên.
Anh về thăm con khi cháu vừa đầy tháng. Càng lớn Cao Nguyên càng
giống cha. Đôi mắt to, sóng mũi cao, đặc biệt là trên đầu mỗi vành
tai đều có một "lỗ tai nhỏ" như ba nó.
Chỉ đúng một tuần sau khi chia tay vợ con về với đơn vị, anh bị
thương nặng trong lúc đơn vị hành quân giải vây căn cứ Pleime. Tôi
bồng con lên Pleiku. Hậu cứ lo cho mẹ con tôi nơi ăn chốn ở và có xe
đưa đón mỗi ngày để tôi thăm và săn sóc anh mỗi ngày trong quân y
viện.
Sau khi xuất viện, đôi chân c̣n đi khập khiễng, nên anh được chuyển
về Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn đảm trách một công tác tham mưu ở hậu cứ. Mẹ
con tôi ở lại Biển Hồ với Anh kể từ ngày ấy. Mẹ chồng tôi rất nhân
từ, thường xuyên lên thăm chúng tôi và thuê cho tôi một người giúp
việc. Cuối năm 1973, trong một lần pháo kích vào trại gia binh làm
một số đàn bà
con nít bị thương, trong đó có cháu Cao Nguyên. Rất may, mảnh đạn
gây một vết thương khá lớn ở cánh tay, nhưng không vào xương. Sau
hôm ấy, chúng tôi ra thuê một căn nhà bên ngoài doanh trại để ở. Năm
sau khi Cao Nguyên vừa tṛn hai tuổi, tôi sinh đứa con thứ nh́.
Lần này là con gái. Con bé giống mẹ, được chúng tôi đặt tên Thùy
Dương để nhớ thành phố biển Nha Trang, nơi hai chúng tôi lớn lên và
yêu nhau.
Mấy năm sống ở Pleiku, cái thành phố "đi dăm phút trở về chốn cũ"
ấy, những ngày nắng chỉ thấy toàn bụi đỏ, c̣n những ngày mưa bùn bám
dính gót chân. Pleiku đúng là một thành phố lính. Những người vợ
lính sống ở đây dường như chỉ để chờ chồng trở
về sau những cuộc
hành quân, hoặc để chăm sóc chồng những ngày bị thương nằm trong
quân y viện. Với họ th́
đúng là "may mà có anh đời c̣n dễ thương". Trong số ấy đă có biết
bao người trở thành góa
phụ!
Giữa tháng 3/75, sau đúng một tuần Ban Mê Thuột mất vào tay giặc.
Một buổi sáng, từ bản
doanh Liên Đoàn về, hối hả bảo mẹ con tôi và chị giúp việc thu dọn
đồ đạc gấp, bỏ lại mọi thứ,
chỉ mang những ǵ cần thiết, nhất là thức ăn và sữa cho các con,
theo anh vào hậu cứ.
Khi vừa đến cổng trại, tôi ngạc nhiên khi thấy tất cả mọi người đều
đă ngồi sẵn trên xe.
Chúng tôi rời khỏi doanh trại. Thành phố Pleiku như đang ngơ ngác
trước những người từng
bao năm sống chết với ḿnh nay vội vàng bỏ đi không một tiếng gĩa
từ. Đang giữa mùa xuân
mà cả một bầu trời u ám. Pleiku tiễn chúng tôi bằng một cơn mưa đổ
xuống khi đoàn xe vừa
ra khỏi thành phố. Đến ngă ba Mỹ Thạnh, đoàn xe dừng lại. Phía trước
chúng tôi dày đặc xe
và người, vừa dân vừa lính, đủ các binh chủng, đủ các loại xe, kể cả
xe gắn máy. Tôi nghe
chồng tôi và bạn bè nói là ngoài lực lượng xung kích mở đường, một
số đơn vị Biệt Động
Quân c̣n được chỉ định đi sau, ngăn chặn địch quân tập hậu để bảo vệ
cho đoàn quân di
tản! Đây là trách nhiệm nguy hiểm và nặng nề nhất trong một hành
quân triệt thoái.
Hơn một ngày ṃ mẫm trên Tỉnh Lộ 7, chúng tôi đến thị xă Hậu Bổn vào
lúc trời sắp tối. Vừa
dừng lại chưa kịp ăn cơm th́ bị pháo kích và súng nổ khắp nơi. Xe và
người dẫm lên nhau
trong cơn hốt hoảng. Địch đă bao vây. Các đơn vị BĐQ chống trả kiên
cường, nhưng địch
qúa đông, mà bên ta th́ vừa quân vừa dân chen chúc nhau hỗn độn.
Trong lúc nguy nan này
trời lại giáng xuống cho bên ta thêm một điều bất hạnh. Một chiếc
phản lực cơ dội bom nhầm
vào quân bạn. Đoàn xe vội vă rời Hậu Bổn, di chuyển đến gần Phú Túc
th́ lại bị địch tấn
công từ khắp hướng. Nhiều xe bốc cháy và nhiều người chết hoặc bị
thương. Cả đoàn xe
không nhúc nhích được. Chúng tôi có lệnh bỏ lại tất cả xe cộ, băng
rừng t́m đường về Củng
Sơn.
Chồng tôi, vừa chiến đấu vừa dẫn đường chúng tôi cùng một số binh
sĩ, vợ con. Tôi dắt theo
Cao Nguyên c̣n chị giúp việc bồng cháu Thùy Dương. Chúng tôi lầm lũi
trong rừng. Tiếng
súng vẫn c̣n ầm ĩ, những viên đạn lửa như muốn xé màn đêm. Khi chúng
tôi mệt lả cũng là
lúc đến bờ một con sông nhỏ. Chồng tôi lo chỗ ngủ cho mẹ con tôi
dưới một gốc cây, rồi cùng
một số đồng đội chia nhau canh gác. Mệt qúa, tôi ngủ vùi một giấc,
thức giấc th́ trời vừa
sáng.. Chúng tôi lại tiếp tục lên đường. Tôi không c̣n đủ sức để
bồng Cao Nguyên, nên
chồng tôi phải dùng cái vơng nilong gùi cháu sau lưng, bên ngoài
được phủ bằng cái áo giáp.
Vừa ra khỏi b́a rừng tôi ngạc nhiên khi thấy từng đoàn người lũ lượt
kéo nhau đi cùng
hướng chúng tôi, trong đó có nhiều người vừa bị thương, ḿnh đầy
máu. Tôi nghĩ họ cũng là
những vợ chồng, con cái, cha mẹ dắt d́u nhau đi t́m sự sống. H́nh
như họ không c̣n mang
theo bất cứ thứ ǵ. Nh́n nét mặt ai nấy cũng kinh hoàng.. Chồng tôi
bàn bạc cùng một số bạn
trong đơn vị, chúng tôi lại tách khỏi đám đông này, t́m một lộ tŕnh
khác mà đi, để tránh sự
phát hiện của địch.
Vừa rời đoàn người chừng vài phút th́ đạn pháo thi nhau rớt xuống.
Tiếng la khóc thất thanh
cộng với tiếng súng nổ khắp nơi làm cho cả một khu rừng như trải qua
một cơn địa chấn.
Trong nhóm chúng tôi cũng đă có một số người đă chết. Đến lúc này
th́ mạnh ai nấy t́m
đường sống. Gia đ́nh tôi cùng gia đ́nh vài người bạn nữa chạy vào
khu rừng phía trước, nơi
không nghe tiếng súng. Kinh nghiệm bao nhiêu năm chiến trận, bây giờ
chồng tôi chỉ c̣n
dùng để mong cứu được vợ con ḿnh. Địch quân tràn ngập. Một số đơn
vị tan ră. Đồng đội
kẻ chết người bị thương. Có thể một số đă bị bắt. Tôi không thể
tưởng tượng được số mệnh
bi thảm của những người lính Biệt Động một thời oanh liệt trên khắp
chiến trường, giờ này lại
tan tác trong bất ngờ, tức tưởi! Chồng tôi suưt bật khóc, khi nghe
cấp chỉ huy truyền lệnh từ
ông tướng tư lệnh Quân Đoàn: "Đạp lên mà đi!" Trong cả đời binh
nghiệp, chắc những người
lính không c̣n nhận được cái lệnh nào đau đớn hơn thế nữa.
Sau chừng một tiếng đồng hồ băng rừng, chúng tôi bất ngờ gặp một
toán lính hơn 20 người thuộc tiểu đoàn cũ của chồng tôi. Thầy tṛ chưa kịp nắm tay mừng rỡ
th́ súng nổ. Địch quân
phía trước mặt. Trở lại cương vị chỉ huy, chồng tôi lưng mang con,
điều động anh em xông vào trận mạc. Một cuộc đánh tốc chiến, toán
địch quân bị tiêu diệt.
Chồng tôi quay lại t́m và hướng dẫn đám đàn bà con nít chúng tôi đi
tiếp.
Trong núi rừng đêm xuống thật nhanh. Cái bóng tối bây giờ thật rợn
người. Tôi h́nh dung
cái bóng của tử thần. Chúng tôi dừng lại trên một ngọn đồi thấp. Tôi
nghiệp cho những
người lính trung thành. Đáng lẽ họ lợi dụng bóng đêm để đi tiếp, v́
đó là sở trường của họ,
nhưng thấy một số vợ con bạn bè cùng vài anh em bị thương không thể
đi nổi, nghe lời chồng
tôi, tất cả cùng ở lại qua đêm. Sau khi sắp xếp anh em pḥng thủ,
chồng tôi trở lại phụ lo chỗ
nằm cho mẹ con tôi. Tối hôm ấy, dù mệt, nhưng sao tôi cứ trằn trọc,
không ngủ được. Chồng
tôi ôm tôi dựa vào một gốc cây.. Anh ôm tôi thật chặt vào ḷng,
thỉnh thoảng hôn nhẹ tôi, trên
môi, trên tóc. Trong hoàn cảnh này chẳng ai c̣n ḷng dạ nào để lăng
mạn yêu thương,
nhưng có lẽ anh đă tội nghiệp cho một người con gái đă trót chọn
chồng là lính chiến. Và
cũng không ngờ đó là những nụ hôn cuối cùng anh dành cho tôi.
Buổi sáng sớm khi vừa xuống chân đồi, chúng tôi chạm súng với địch.
Cũng là lần cuối tôi
chứng kiến những người lính Biệt Động can trường. Các anh phân tán
từng toán nhỏ, xông
vào ḷng địch mà đánh, tiếng thét "Biệt Động Quân Sát" vang dội cả
một vùng. Nghe súng nổ,
tôi đoán lực lượng địch đông lắm. Một anh trung sĩ bị thương ở cánh
tay trong trận đánh hôm
qua, được chỉ định dắt tất cả đám đàn bà con nít chúng tôi ra khỏi
vùng giao chiến. Đă vậy
anh c̣n phải d́u theo một người lính bị thương khác. Vợ chồng tôi
thất lạc nhau kể từ phút
ấy. Tôi c̣n lạc mất cả cháu Cao Nguyên, được ba nó gùi theo phía sau
lưng ngay cả những
khi lâm trận. Không biết chiếc áo giáp có đủ để che chắn h́nh hài bé
nhỏ của con tôi. H́nh
ảnh này trước đây tôi nghĩ chỉ có diễn ra trong mấy cuốn truyện Tàu
mà tôi đă đọc.
Tiếp tục di chuyển từng vài giờ đồng hồ nữa, khi tới một con đường
ṃn, chúng tôi lại nghe
súng nổ. Anh trung sĩ dẫn đường chúng tôi nhận ra từng loạt lựu đạn
nổ, bảo chúng tôi nằm
rạp xuống. Chờ im tiếng súng, đám chúng tôi rời con đường ṃn, chạy
về bên hướng rừng
bên phải, mà theo anh trung sĩ, có thể an toàn hơn. Khi đến b́a
rừng, tôi thấy mấy người lính
BĐQ nằm chết bên cạnh xác quân thù, máu me lai láng. Sau này tôi
được biết những người
lính này bị địch bao vây, đă tự sát để cùng chết chung với giặc.
Đi vào cánh rừng bên phải chỉ vài trăm mét nửa th́ chúng tôi bị đám
khá đông VC chặn lại.
Anh trung sĩ bị tước hết vũ khí. Tất cả chúng tôi bị lùa vào bên bờ
suối nhỏ. Ở đây tôi gặp một số sĩ quan, binh sĩ của ta bị bắt, nhiều người tay bị trói ngược
ra sau, ngồi theo hàng dọc
quay lưng ra suối, trước họng súng sẵn sàng nhả đạn của kẻ thù. Tôi
cố ư t́m xem, nhưng
không thấy chồng tôi trong số người bị bắt. Ḷng tôi lo âu vô hạn.
Từ lúc ấy, tiếng súng tạm
im, chỉ c̣n tiếng quát thoát và tiếng nói rất khó nghe của đám người
thắng trận. Tất cả chúng
tôi bị lùa về địa điểm tập trung, một ngôi trường nằm trong huyện
Củng Sơn (Sơn Ḥa).
Trong cảnh khốn cùng này, tôi chỉ c̣n lại một điều may mắn. Chị giúp
việc rất tốt bụng và
trung thành. Vừa bồng bế, bảo bọc cho cháu Thùy Dương, vừa lo lắng
cho tôi. Chị đi đâu đó
xin cho tôi nửa bát cơm, nhưng tôi không nuốt nổi, mặc dù đă trải
qua hai ngày đói khát. Nh́n
đứa con gái vừa mới lên hai lây lất bên cạnh và nghĩ tới chồng tôi
và đứa con trai giờ này
không biết sống chết ra sao, lần đầu tiên tôi bật khóc.
Cuối cùng th́ tôi cũng lần ṃ về đến Nha Trang, khi thành phố này
cũng vừa lọt vào tay giặc.
Khi nhận ra tôi, mẹ tôi ôm tôi vào ḷng và khóc như mưa. Tôi không
đủ can đảm để mang tin
buồn đến nhà chồng, nhờ cha tôi sang báo tin tôi và cháu Thùy Dương
vừa mới về nhà,
chồng tôi và cháu Cao Nguyên c̣n đang mất tích. Cả nhà chồng kéo
sang thăm tôi, bồng
cháu Thùy Dương về nhà chăm sóc. Mẹ chồng tôi thẫn thờ cả mấy ngày
liền khi nhận được
tin này. Nằm nhà hơn một tuần, nhờ mẹ tận t́nh chăm lo, sức khỏe tôi
đă gần b́nh phục, tôi
xin được trở lại Phú Bổn t́m chồng và cháu Cao Nguyên. Cả nhà tôi và
cha mẹ chồng đều ái
ngại, âu lo. Nhưng qua sự nài nỉ của tôi, cuối cùng cha mẹ chồng cho
đứa em trai út của
chồng tôi, dùng xe honda chở tôi ngược đường lên Tỉnh Lộ 7.
Mặc dù đă chứng kiến bao nhiêu máu lửa tang tóc, cũng như đă chuẩn
bị tinh thần, nhưng tôi
thực sự kinh hăi những ǵ trước mắt, khi nh́n thấy ngổn ngang bao
nhiêu xe cộ bị đốt cháy,
những bộ xương người c̣n vương văi đó đây, bao nhiêu nấm mộ bị lấp
vội bên đường. Cả
một vùng xông mùi tử khí. Chiếc khăn bịt miệng tẩm ướt dầu Nhị Thiên
Đường đă giúp tôi và
cậu em vượt qua chặng đường gần 100 cây số. Đến Cheo Reo, hỏi thăm
một vài người dân,
được biết một số sĩ quan bị bắt làm tù binh, đang c̣n giam ở Thuần
Mẫn. Chúng tôi đến đó,
tŕnh giấy phép đi t́m chồng của Ủy Ban Quân Quản mới được cho vào
trại. Sau khi tên VC
trực ban cho biết không có tên chồng tôi trong danh sách tù binh,
tôi xin được gặp bất cứ sĩ
quan nào cùng đơn vị với chồng tôi. Rất may, tôi gặp được anh đại
đội phó lúc chồng tôi c̣n
ở tiểu đoàn. Anh cho biết là có gặp một số binh sĩ cùng chồng tôi
chiến đấu dưới ngọn đồi
gần đèo Tu Na. Họ cho biết chồng tôi bị thương, nhưng cố t́m cách
đưa cháu Cao Nguyên
đến một nơi nào đó. Tôi sáng lên niềm hy vọng. Ngay hôm ấy tôi thuê
năm người thượng,
theo tôi lần theo con đường dọc bờ sông mà tôi c̣n nhớ, trở lại khu
đồi thấp, rồi bung ra xa đi
t́m. Liên tục trong một tuần, chúng tôi chỉ t́m được mấy bộ xương
người, một số mộ vô danh,
nhưng không thấy dấu vết của chồng tôi. Tôi trở về mang theo niềm
tuyệt vọng, không chỉ
cho tôi, mà cho cả nhà chồng.
Cha mẹ chồng tôi lập bàn thờ cho chồng tôi và Cao Nguyên, đứa cháu
đích tôn của ông bà.
Ngày 19 tháng 3 là ngày giỗ của hai cha con.
Hàng năm, cứ đến ngày này, tôi và Thùy Dương đều trở lại Phú Bổn,
t́m đến chân đồi, dưới
gốc cây nằm giữa đỉnh đồi, mà đêm cuối cùng chồng tôi ôm tôi vào
ḷng, thắp hương tưởng
niệm anh và cháu Cao Nguyên. Tôi đă dùng dao khắc đậm tên anh và
cháu Cao Nguyê vào
thân cây. Lần nào, khi nước mắt ràn rụa, trong tiếng gió rừng, tôi
mơ hồ như có tiếng khóc từ
gốc cây này, rồi văng vẳng bao nhiêu tiếng khóc từ những thân cây
khác, từ những khúc gỗ
nằm vương văi do bom đạn hôm nào, tạo thành những âm thanh năo nùng,
xé ruột.
Tôi đă mang dư âm của tiếng khóc ấy đến tận Bắc Âu, nơi mẹ con tôi
định cư sau chuyến
vượt biển được một chiếc tàu của vương quốc Na Uy cứu vớt. Thánh 5
năm 1985, cha mẹ
chồng tôi góp vàng cùng một người bạn ở vùng biển Lương Sơn đóng ghe
vượt biển. Tôi,
cháu Thùy Dương, và một đứa em trai của tôi đi cùng với gia đ́nh
chồng. Tôi cũng xin được
một chỗ cho chị giúp việc lúc trước
(chị đă về quê trên vùng quê
Diên Khánh, sau ngày cùng
tôi thoát chết trở về), nhưng chị chối từ. Tôi âm thầm gom nhặt tài
sản của nhà chồng và của
tôi mang lên biếu chị trước khi rời khỏi quê nhà.
Hai mươi năm sau, khi Thùy Dương vừa làm đám cưới, tôi muốn đưa vợ
chồng cháu về lại
Việt Nam tŕnh diện ông bà ngoại, và đến địa điểm cuối cùng khi
chồng tôi và Cao Nguyên c̣n
sống, như là một nghĩa cử để cháu tưởng nhớ đến cha và anh ḿnh.
Chúng tôi đến đây vào
giữa mùa xuân, một ngày trước ngày giỗ chồng và đứa con trai.
Con đường Tỉnh Lộ 7 ngày xưa bây giờ đă được tráng nhựa và đổi tên
thành Quốc Lộ 25.
Chúng tôi thuê bao một chiếc xe tám chỗ ngồi. Ngoài tôi và vợ chồng
cháu Thùy Dương,
c̣n có vợ chồng cậu em trai út của tôi và vợ chồng chị giúp việc
ngày xưa. Chúng tôi đến
Cheo Reo, bây giờ có tên mới là A Yun Pa thuộc tỉnh Gia Lai. Tất cả
không c̣n ǵ dấu vết
của chiến tranh. Người ta đă cố t́nh trát phấn tô son lên thành phố
núi này để có dáng dấp
của thời kỳ đổi mới. Màu sắc ḷe loẹt, vài ngôi nhà cao tầng quê mùa
kệch cỡm, những ngôi
nhà sàn "cải biên" thành những biệt thự của các ông quan lớn, nằm
chơ vơ giữa một vùng
nghèo nàn mang tên "thị xă". Nh́n dăy núi Hàm Rồng từ xa, ẩn hiện
trong những đám mây
mù, ḷng tôi chùng xuống. Nơi ấy, đă bao lần tôi đến thăm chồng, để
được ḥa ḿnh vào đơn
vị với những người lính trẻ, sẵn sàng chết cho quê hương. Cũng ở nơi
ấy tôi đă vinh dự
chứng kiến chồng tôi cùng nhiều anh em đồng đội được ông tướng Vùng
gắn huy chương lên
ngực áo khi ban nhạc trổi khúc quân hành. Tất cả bây giờ đă trở
thành huyền thoại.
Sau khi thuê pḥng trọ, tắm rửa và cơm nước xong, chúng tôi hỏi
đường đến tháp Yang Mun
và tháp Drang Lai. V́ nghe dân ở đây bảo các vị thần Chàm trong hai
ngôi tháp này linh
thiêng ghê lắm. Tôi khấn vái và xin xâm. Tôi ngạc nhiên vô cùng khi
lá xâm tôi bốc trúng lại là
bốn câu Kiều của ông Nguyễn Du:
Từ phen chiếc lá ĺa rừng
Thăm t́m luống những liệu chừng nước mây
Rơ ràng hoa rụng hương bay
Kiếp sau hoạ thấy kiếp này hẳn thôi.
Tôi bán tín bán nghi, v́ nghe nhiều người nói ở Việt Nam, chuyện
cúng bái, mê tín dị đoan,
bây giờ là một business. Chẳng lẽ ông thần Chàm này lại thuộc cả
truyện Kiều. Nghĩ như
vậy, nhưng thấy bốn câu thơ lại đúng vào trường hợp của ḿnh, tôi
cũng thấy ḷng buồn vô
hạn. Trở về pḥng trọ, bà chủ nhà cho biết ngày mai có chợ phiên của
người dân tộc, vừa
đông vui vừa có thể mua nhiều thứ thổ sản, gia cầm với gía rất rẻ.
Tôi cũng muốn mua mấy
con gà, để cúng chồng tôi. Khi c̣n sống anh thích ăn gà luộc. Bà c̣n
cho biết thêm dân
chúng ở vùng này đa số là người Thượng thuộc các sắc tộc Djarai,
Bahnar, Hroi và M'dhur.
Có một số sống trong các bản rất xa, cách thị xă này từ 10 tới 20
cây số.
Sau một đêm trằn trọc với những cơn ác mộng, vừa mới chợp mắt tôi đă
nghe tiếng người réo
gọi nhau. Ngôn ngữ của các sắc tộc, tôi không hiểu họ nói ǵ. Chợ
phiên nhóm rất sớm.
Chúng tôi vội vàng ăn sáng rồi kéo nhau ra khu chợ, nằm không xa
trước nhà trọ. Tôi có cảm
giác lạ lẫm v́ đây là lần đầu tiên tôi đến một buổi chợ phiên của
người sắc tộc. Đă vậy vợ
chồng cháu Thùy Dương cứ theo hỏi tôi điều này điều nọ. Khi đang cố
giải thích về nguồn
gốc người Thượng, chúng tôi đến một quày gà. Những con gà tre nhỏ
xíu được nhốt trong
những trong mấy cái lồng đan bằng tre. Tôi ngồi xuống lựa hai con gà
béo nhất, bảo người
chủ bắt hộ hai con gà này ra khỏi lồng. Người chủ là anh đàn ông
người Thượng vừa đen
vừa ốm, nói tiếng Việt chưa sơi...Khi Anh xăn tay áo lên và tḥ tay
vào lồng gà, tôi bỗng giật
ḿnh khi phát hiện vết sẹo trên cánh tay trái. Vết sẹo có h́nh dáng
đầu một con cọp. Tôi nhớ
tới Cao Nguyên, đứa con trai ba tuổi, bị thương trong trận pháo kích
của VC vào trại gia binh
ở Biển Hồ. Vết thương trên cánh tay cháu sau khi chữa lành cũng để
lại một vết sẹo có h́nh
ảnh đầu một con cọp. Biểu tượng binh chủng BĐQ mà chồng tôi luôn
mang trên vai áo.
Tôi biến sắc, nắm chặt cánh tay anh người Thượng và nh́n vào mặt anh
ta. Cũng hai con
mắt khá to, cũng cái sống mũi cao, nhưng khuôn mặt cháy nắng, mái
tóc mầu nâu sậm như
mầu đất đỏ Pleiku. Không có nét đẹp của Cao Nguyên ngày trước. Anh
người Thượng
ngượng ngùng, cúi mặt xuống, khựng lại. Nhưng tôi chợt nhớ ra trên
vành tai của Cao
Nguyên có một lỗ tai nhỏ, giống như ba của nó, tôi cúi xuống để nh́n
kỹ vào tai anh người
thượng. Tôi bàng hoàng khi nhận ra hai cái lỗ tai nhỏ trên hai vành
tai. Bất giác, tôi ôm chầm
lấy anh và nước mắt trào ra. Nhưng anh bán gà đẩy mạnh tôi ra và nói
một tràng tiếng
Thượng. Vợ chồng cháu Thùy Dương ngơ ngác nh́n tôi, không biết xảy
ra điều ǵ. Nghĩ tới
chị giúp việc ngày trước có thể xác nhận cùng tôi đôi điều kỳ lạ,
tôi báo cháu Thùy Dương đi
gọi chị từ gian hàng hoa lan phía trước.
Tôi kéo chị ra xa và nói vào tai chị:
- Chị nh́n kỹ anh người Thượng này xem có giống ai không?
Sau một lúc nh́n không chớp mắt, mặt chị biến sắc, rồi không trả lời
tôi mà th́ thầm một ḿnh:
- Thằng Nguyên? Chả lẽ là thằng cu Nguyên?
Rồi chị nh́n thẳng vào mặt anh ta hỏi:
- Mày có phải là thằng Nguyên, Lê Cao Nguyên không?
Anh người Thượng lắc đầu.
- Tao là thằng Ksor Tlang.
Tôi mua hết những lồng gà hôm ấy và và đưa cho anh một nắm tiền. Sau
khi đếm xong anh
trả lại cho tôi hơn một nửa, rồi buột miệng:
- Mày bắt cái con gà nhiều tiền qúa!
Tôi mất hết b́nh tĩnh, bảo vợ chồng chị giúp việc đứng giữ anh ta,
rồi chạy vào pḥng trọ t́m
bà chủ nhà. Tôi kể rất vắn tắt những ǵ đă xảy ra. Có lẽ bà ta là
người có tai mắt ờ đây,
nhưng là một người tốt bụng, nhấc điện thoại gọi công an. Chưa đầy
ba phút hai gă công an
chạy tới bằng xe gắn máy, một Kinh một Thượng, cúi đầu chào bà chủ.
Chưa kịp nói ǵ, bà
chủ kéo tay hai gă công an ra chợ. Vừa đi bà vừa giải thích. Đến
nơi, gă công an nói một
tràng tiếng Thượng. Tôi không hiểu ǵ nhưng thấy anh bán gà gân cổ
căi lại. Cuối cùng hai
người công an kéo anh đi, mặc dù anh cố t́nh chống lại. Chúng tôi đi
theo phía sau trở về
pḥng trọ.
Qua trung gian của bà chủ nhà trọ, tôi nhờ gă công an giúp tôi, dịch
lại các điều trao đổi giữa
tôi và anh bán gà, và cố gắng bằng mọi cách t́m ra tông tích của anh
ta. Tôi vội nhét vào tay
bà chủ nhà trọ hai tờ giấy bạc 100 đô la.
- Em có cha mẹ không? Tên ông bà là ǵ?
- Tôi có cha mẹ. Cha tôi tên Ksor H'lum, mẹ tôi tên H'Nu
- Có anh em không?
- Không.
- Anh có nhớ ngày sinh không?
- Không.
(Gă công an nh́n sang tôi, bảo là sẽ đi t́m khai sinh sau)
- Anh có nhớ lúc c̣n nhỏ, khi ba, bốn tuổi anh ở đâu không?
- Không! Th́ chắc tôi ở với cha mẹ tôi mà.
- Cái sẹo trên cánh tay trái, anh biết v́ sao mà có cái sẹo này
không?
(Gă công an bảo anh xăn tay áo lên và chỉ vào vết sẹo)
- Không! Chắc là bị cành cây đâm trúng.
Tôi thở ra thất vọng. Nhưng vừa chợt nghĩ ra điều ǵ, tôi lại hỏi:
- Cha mẹ anh đang ở đâu?
- Buôn Ban Ma Dek.
(Gă công an nh́n tôi, bảo buôn Ban Ma Dek cách đây hơn 10 cây số)
- Anh ở chung với cha mẹ anh?
- Không, ở bên cạnh, với vợ và hai đứa con.
- Đă có vợ con rồi à! Tôi buột miệng.
Tôi đề nghị hai gă công an cùng đi với chúng tôi và anh bán gà về
buôn Ban Ma Dek. Sau khi
hỏi nhỏ bà chủ nhà trọ, hai gă công an gật đầu. Nhưng bảo chúng tôi
phải thuê xe ôm, v́ về
buôn Ban Ma Dek chỉ có đường rừng, xe ô tô không chạy được. Bà chủ
nhà trọ gọi dùm
chúng tôi bảy cái xe ôm.
Cha mẹ của anh bán gà đă khá ǵa, trước đây chỉ sống lẻ loi trong
núi nên không nói được
tiếng Việt. Chúng tôi lại trao đổi qua sự thông dịch của lăo công an
người Thượng. Vợ và hai
con của Ksor Tlang thấy có nhiều người cũng chạy sang nh́n.
Ông bà cứ nhất quyết Ksor Tlang là con đẻ của ông bà. Nhưng thấy tôi
khóc lóc, năn nỉ và
nhờ gă công an gạn hỏi, cuối cùng ông cha mới kể lại sự thực.
- Năm ấy, lâu rồi, sau mấy ngày chiến trận ác liệt, mà vợ chồng tôi
phải nằm suốt sau tảng đá
to trước nhà để tránh đạn. Bỗng một buổi chiều có người lính mặc áo
rằn ri, bị thương nặng
lắm, nhưng cố lết vào dưới căn nhà sàn của tôi rồi gục chết, trên
lưng có mang một đứa bé.
Nó là thằng Ksor Tlang bây giờ.
- Rồi xác của người lính đó ở đâu? Tôi hỏi.
Ông chỉ tay ra rừng cây phía trước:
- Tôi đă chôn ông ta dưới gốc cây ấy, rồi rào lại, sợ thú rừng bới
lên ăn thịt.
Chúng tôi theo sau hai người công an d́u ông ǵa đi về phía khu
rừng.
Tôi khóc ngất khi nh́n thấy ngôi mộ lè tè nằm dưới tàng cây, được
rào lại bằng những que gỗ
nhỏ. Vợ chồng cháu Thùy Dương cũng qùy xuống ôm vai tôi mà khóc. Tôi
ngước lên dáo
dác t́m Ksor Tlang, thằng Cao Nguyên, đứa con trai duy nhất của vợ
chồng tôi. Nó đang
đứng bất động, hai tay đang nắm chặt hai đứa con đang trần truồng,
đen đúa. Tôi chạy lại ôm
hai đứa nhỏ vào ḷng, nhưng cả hai đứa trố mắt nh́n tôi dửng dưng,
xa lạ.
Tôi khóc lóc, năn nỉ lắm, ông ǵa mới cùng vợ chồng và hai đứa con
thằng Ksor Tlang về nhà
trọ với tôi. Nhờ bà chủ thuê một cậu học tṛ thông dịch. Suốt một
đêm, tôi, cháu Thùy Dương
và vợ chồng chị vú giúp việc ngày xưa, giải thích, khóc hết nước
mắt, xin vợ chồng Ksot Tlang
và hai đứa con theo chúng tôi về Nha Trang ở với ông bà ngoại, rồi
tôi sẽ t́m cách đưa sang
Na Uy. Cả hai ông bà ǵa, nếu muốn, chúng tôi sẽ mua nhà cửa ở Nha
Trang và chu cấp cho
ông bà sống gần Ksor Tlang. Nhưng cả Ksor Tlang và ông ǵa một mực
chối từ, bảo là họ
không thể nào bỏ bản mà đi. Núi rừng măi măi là nhà của họ. Họ không
thể nào sống xa
rừng cũng như loài cá không thể nào sống mà không có nước.
Dự trù lên đây ba ngày. Vậy mà chúng tôi đă ở lại đây hơn hai tuần
rồi. Ban đầu tôi tính xin
phép cha mẹ nuôi của Ksor Tlang cho tôi cải táng phần mộ của chồng
tôi, mang về an táng ở
nghĩa trang gia tộc ở Nha Trang, nhưng rồi tôi đă đổi ư. Bởi anh
phải nằm ở đây, bên cạnh
đứa con trai và hai đứa cháu nội của anh, mặc dù bây giờ tất cả đă
trở thành người Thượng
và chắc không biết ǵ về anh. Và chắc có lẽ anh cũng muốn nằm lại
với bao đồng đội, một
thời cùng anh vào sinh ra tử, mà linh hồn chắc đang c̣n phảnh phất
quanh đây. Tôi mướn
thợ xây lại ngôi mộ. Trên tấm bia không có h́nh chân dung của anh,
mà có tấm ảnh anh chụp
chung với tôi và hai cháu Cao Nguyên và Thùy Dương trong ngày sinh
nhật bốn tuổi của Cao
Nguyên, chỉ hơn một tháng trước ngày anh mất. Tấm ảnh này lúc nào
tôi cũng mang theo.
Tôi cũng không thể bắt Cao Nguyên và vợ con phải rời khỏi núi rừng,
nơi đă cưu mang nó.
Có lẽ cái tên Cao Nguyên mà ngày xưa chồng tôi đề nghị đặt cho nó đă
vận vào cuộc đời của
nó. Điều làm tôi đau đớn hơn là tôi chẳng làm được điều ǵ cho đứa
con trai ruột thịt máu mủ
của ḿnh, ngoài việc nhờ bà chủ nhà trọ thuê người dựng cho vợ chồng
nó và ông bà cha mẹ
nuôi một ngôi nhà sàn chắc chắn và rộng răi hơn, sắm cho vợ chồng nó
và hai đứa con một
số quần áo mới. Nhưng phải năn nỉ khóc lóc măi nó mới chịu nhận,
cùng số tiền 200 đô la.
Bằng đúng số tiền mà tôi trả công cho hai gă công an!
Ngày cuối cùng, chúng tôi ở lại với với vợ chồng Cao Nguyên trên
ngôi nhà sàn mới. Buổi
chiều tôi bảo Cao Nguyên và vợ con nó, thay quần áo mới, cùng với
tôi và vợ chồng Thùy
Dương ra thắp hương trước mộ ba nó. Nó qùy bên cạnh tôi, cúi đầu nói
điều ǵ lầm thầm
trong miệng và khi ngước lên, đôi mắt đỏ hoe. Suốt đêm hôm ấy, tôi
ngồi khóc một ḿnh. Tôi
nghĩ t́nh mẫu tử thật thiêng liêng, nhưng có lẽ ông trời đă phạt
tôi. Tôi sinh ra Cao Nguyên,
nhưng không bảo vệ được con ḿnh, để mất nó trong núi rừng này từ
ngày nó mới lên bốn
tuổi.
Tôi rời khỏi Cheo Reo, chạy ngược về cầu sông Ba theo Tỉnh Lộ 7 ngày
xưa, mang theo trong
ḷng nỗi đau đứt ruột. Đang giữa mùa xuân nhưng giữa bầu trời nhuộm
màu ảm đạm. Nh́n
núi rừng hai bên đường, trong ràn rụa nước mắt, tôi mơ hồ như cây lá
không c̣n nữa, mà tất
cả đều mang h́nh dáng của những bộ xương người nối tiếp nhau, trùng
điệp. Tai tôi nghe
trăm ngàn tiếng khóc quyện vào trong gió. Không biết đó là tiếng
khóc của người hay tiếng
khóc của cây?
Phạm Tín An Ninh
Phỏng theo lời kể của một người vợ lính BĐQ
|