Hàng
trăm Cộng
phỉ
tiến
vào
Sài G̣n bị
thiêu
sống
trên
sông
Vàm Cỏ
Pho Nang
2011/04/10
“Không
biết tụi nó tưởng tàu ḿnh
bằng giấy bồi, lính của ḿnh
là lính gỗ chắc. Hết Nhái
của tụi nó bơi ra, lại có cả
những ghe gỗ, chở lính, cũng
cứ nhào ra, một lúc mấy
chiếc. Chúng dùng đủ loại
súng bắn vào các chiến đĩnh
của ta. Đạn súng nhỏ bắn vào
thành chiến đĩnh rào rào như
mưa. Chúng ta phản pháo bằng
súng thường không xuể. Các
ghe chở đầy lính của địch
lại túa ra. May mà hai chiếc
Zippo vừa nạp đầy nhiên
liệu, loại xăng đặc dùng cho
bom Napalm, đă sẵn sàng. Hai
chiếc Zippo, dưới sự bảo vệ
của các chiến đĩnh khác,
tiến sát vào bờ, lưỡi lửa
phun ra dài cả trăm thước.
Trong nháy mắt cả một vùng
bờ cây xanh từ gốc tới ngọn
cháy rực, găy đổ, lửa khói
bốc cao, khét lẹt. Từng lớp
người ở sát bờ sông ngă ra,
tràn xuống mặt nước. Các đợt
xung phong dại dột của địch
khựng lại, pḥng tuyến địch
rối loạn. Nhưng quân trên bờ
của địch, người ở đâu vẫn
đen đặc, kêu thét chạy tán
loạn, đặc nghịt. Pḥng tuyến
của chúng vỡ. Ông
Tỉnh-trưởng Trần Vĩnh Huyến
chứng kiến cảnh này, lắc
đầu. Ta không đủ quân để lên
bờ thu chiến lợi phẩm. Nhưng
thiệt hại của chúng không
dưới một tiểu đoàn. Sau trận
‘hỏa công’ này, mặt trận hai
con sông Vàm-Cỏ trở nên yên
tĩnh. Có lẽ nhờ thế chúng đă
không thể nào vượt qua 2 con
sông Vàm-Cỏ, để áp đảo
Sài-G̣n. Nh́n mấy chiếc ghe
cháy xám, trôi lềnh bènh,
đúng là những chiếc thuyền
ma, ḷng vừa giận, vừa
thương, vừa hú vía…”.
Lau mồ hôi và thở một hơi
dài, Đại-tá Dơng lại tiếp:
“Mấy ngày sau, mặt sông có
những xác người trôi đen
đặc. Mùi tử khí bay nồng
nặc. Nghĩ lại cuộc chiến
thật đau ḷng…” Vẫn lời của
Đại-tá Dơng: ”Đó là một
trong những cuộc tao ngộ
chiến, mà sau này đọc tài
liệu của họ tôi mới biết.
Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 đă
cản đường tiến của đoàn 232,
tương đương với 1 Quân Đoàn,
do tướng Lê Đức Anh chỉ huy,
nằm ém quân bất động ở ngă
ba sông Vàm-Cỏ, đợi sẵn khi
có thể là vượt sông, tiến
vào Sài-G̣n. Tại đó, Lực
Lượng Đặc Nhiệm 99 lúc nào
cũng có 6 chiến đĩnh hiện
diện. Vậy mà chúng nín khe,
suốt mười mấy ngày không một
tiếng súng bắn ra. Bây giờ
cuộc chiến đă tàn. Mọi việc
đă nhạt nḥa như không có
thực. Nhưng giả thử Cộng
quân không bị cản đường,
chúng qua được sông Vàm-Cỏ,
nằm sẵn ở 2 bên sông
Ḷng-Tào và Soài-Rạp, khi
đoàn tàu thuyền trong đêm 29
rạng 30 tháng 4, chở đầy
quân, dân, đàn bà và trẻ con
túa ra biển, những điều ǵ
đă phải xẩy ra. Với hỏa lực
của mấy sư đoàn địch trên bờ
và mấy trăm cổ hải pháo trên
các chiến hạm cùng thi nhau
nhả đạn, hai con sông
Ḷng-Tào và Soài-Rạp chắc
chắn sẽ là hai con sông kinh
hoàng ngập máu, sẽ tàn khóc
và rùng rợn nhiều lần hơn
Đại Lộ Kinh Hoàng trong mùa
hè Đỏ Lửa 1972”.
***
LỰC
LƯỢNG ĐẶC NHIỆM 99
và Đôi Lời Tâm sự của HQ Đại
Tá Lê Hữu Dơng
Phan Lạc Tiếp ghi
Trích Tuyển Tập Hải Sử
Trong bài phỏng vấn Đô Đốc
Chung Tấn Cang, chúng ta đă
thấy được sự khéo léo trong
việc đem đoàn tàu ra khơi.
Qua đó Đô Đốc Chung Tấn Cang
đă nhắc đến vai tṛ quan
trọng của Lực lượng Hậu bị
để ngăn bước tiến của địch
và giữ an ninh thủy tŕnh.
Đó là nhiệm vụ của Lực Lượng
Đặc Nhiệm 99, do Hải Quân
Đại tá Lê Hữu Dơng, làm
Tư-lệnh. Để có một cái nh́n
chính xác về Lực Lượng này,
chúng tôi đă t́m gặp Đại-tá
Dơng, hiện cư ngụ tại
Bakersfield. Qua những lần
tṛ chuiyện mặt đối mặt, qua
điện thoại, thư tín, điện
thư, cộng với những thăm
hỏi, đối chứng và cả rất
nhiều tài liệu của đối
phương, chúng tôi cô đọng và
thực hiện bài viết này.
Được hỏi vể sự thành lập Lực
lượng này, các đơn vị trực
thuộc, nhiệm vụ và vùng hoạt
động… Đại-tá Dơng đă trả
lời:
“…Lúc ấy, tôi đang làm
Tư-lệnh-phó Lực Lượng Tuần
Thám, phụ tá cho Đô-đốc
Nghiêm Văn Phú th́ được
Đô-đốc Chung Tấn Cang gọi về
thành lập Lực Lượng Đặc
Nhiệm 99. Đó là ngày 08
tháng 4 năm 1975. Trong khẩn
cấp, các đơn vị sau đây đă
được lấy về, gồm Giang Đoàn
42 Ngăn Chận, Giang Đoàn 59
Tuần Thám, Đại Đội Hải Kích,
Địa Phương Quân, một số
giang đĩnh lấy ra từ những
Giang Đoàn Thủy Bộ, Ngăn
Chận và Xung Phong. Kể cả 6
chiếc LCM8 của các căn cứ
Yễm Trợ Tiếp Vận. Mấy chiếc
chiến đĩnh Zippo phun lửa
nữa… Nói chung, đây là một
đại đơn vị gồm rất nhiều
loại tàu bè, tất cả là 62
chiến đĩnh, một mũi xung
kích mạnh mẽ nhất của Hải
Quân Miền Nam lúc bấy giờ.
Về nhiệm vụ, do khẩu lệnh mà
tôi nhận trực tiếp từ Đô-đốc
Chung Tấn Cang, Tư-lệnh Hải
Quân th́ Lực Lượng Đặc Nhiệm
99 gồm những trọng trách sau
đây:
- Thứ nhứt, Lực Lượng sẽ là
đơn vị hậu vệ nặng để bảo vệ
Chính Phủ rút về miền Tây,
khi t́nh thế xấu.
- Thứ hai là bảo vệ an ninh
thủy tŕnh sông Soài-Rạp và
sông Ḷng-Tào nếu Hạm Đội
phải rời Sài G̣n ra biển.
- Và thứ ba là bảo vệ Bộ
Tư-Lệnh Hải Quân, nếu có đảo
chánh xẩy ra.
Do đó vùng hoạt động của Lực
Lượng Đặc Nhiệm 99 không
nhất định.”
Một cách tổng quát, hầu như
ai đă có chút quan tâm đến
thời cuộc, đều biết rằng
ngày 20 tháng 4, mặt trận
Xuân-Lộc vỡ, Sài-G̣n đă thực
sự bị đe dọa. Với nhiệm vụ
được nêu rơ ở trên, một cách
cụ thể, Lực Lượng Đặc Nhiệm
99, đă hoạt động như thế
nào. Đă có những đụng độ nào
đáng kể. Trước những thắc
mắc ấy, Đại-tá Dơng thong
thả đáp:
“Sài-G̣n kể từ ngày đó,
quả là những ngày hấp hối.
Trong nhiệm vụ của tôi, của
Lực Lượng Đặc nhiệm 99,
chúng tôi phối hợp với các
đơn vị bạn để ngăn chận bước
tiến của địch ở mặt Tây-Nam
Sài-G̣n. Cụ thể là bằng mọi
giá phải chận đứng bước tiến
của các Công-trường 9,
Cộng-trường 7 và Công-trường
5 cùng với tiểu-đoàn Nhái
của địch từ các ngả biên
giới Miên tràn xuống. Trở
ngại của những cách quân này
là 2 con sông Vàm-Cỏ-Đông và
Vàm-Cỏ-Tây. Mục đích của
chúng gồm 2 bước: Thứ nhứt
là cắt đứt quốc lộ 4, để
Sài-G̣n và miền Lục-tỉnh,
Quân-đoàn 4 không thể cứu
ứng được cho nhau. Như chúng
ta dự trù, khi Quốc lộ 4 bị
cắt, chúng ta muốn dời
Chính-Phủ về miền Tây, sẽ vô
cùng khó khăn. Bước thứ hai,
nếu chúng vượt qua và khống
chế được 2 con sông Vàm-Cỏ,
th́ coi như Sài-G̣n đă bị
bao vây bốn mặt. Chúng sẽ
khóa chặt thủy tŕnh huyềt
mạch là sông Ḷng-Tào và
sông Soài-Rạp, cửa ngơ yết
hầu nối Sài-G̣n với cửa biển
sẽ bị bít kín. Đa số tàu bè
của Hải Quân như những con
cá ḱnh mắc cạn, ta sẽ vô
phương xoay trở. Nhưng với
sự hiện diện của Lực-Lượng
Đặc-Nhiệm-99, ư đồ trên của
địch đă thất bại.”
Sau này trong cuốn Tổng Hành
Dinh trong mùa Xuân Toàn
Thắng, chính Vơ Nguyên Giáp
cũng đă xác nhận sự thất bại
này, nguyên văn nơi trang
317 như sau:
“Đặc biệt ở
phía Tây-Nam Sài-G̣n, nơi có
địa h́nh śnh lầy, trống
trải, bộ đội và nhân dân đă
phải vượt muôn vàn khó khăn,
đánh thông hành lang
Tây-Ninh - Kiến-Tường, làm
chủ một phần sông
Vàm-Cỏ-Tây, mở ra một vùng
giải phóng, lót sẵn lương
thực, đạn dược, tạo thế
thuận lợi cho một bộ phận
đoàn 232 tiến công vào
Sài-G̣n. Ở hướng tây nam,
Bộ-Tư-lệnh quyết tiến công
vào thị trấn Thủ-Thừa và thị
xă Tân-An, không đánh chiếm
Mộc-Hóa như trong kế hoạch
cũ. Trận đánh không thành
công v́ quân địch đă pḥng
bị sẵn”. Giáp đă không nói
rơ những ‘muôn vàn khó
khăn’, ‘địch đă pḥng bị
sẵn…’ là những khó khăn nào,
pḥng bị như thế nào, sức
đối kháng từ đâu tới và bộ
đội của Giáp đă có những
thiệt hại ǵ…
Để chứng minh hiệu quả trên,
một số những trận chiến ác
liệt trong vùng trách nhiệm,
đă được Đại-tá Dơng nhớ lại
như sau:
“Sáng ngày 16 tháng 4,
khi đoàn chiến đĩnh của Lực
Lượng Đặc Nhiệm 99 trên
đường giải tỏa áp lực địch
trên kinh Thủ-Thừa, chúng
tôi thấy ở bên kia bờ rạch
Cần-Đót, có rất đông người
đang tắm. Lấy ống nḥm quan
sát, mới hay đó là một đơn
vị địch. Tôi cho lệnh đoàn
tàu ủi thẳng sang, tấn công.
Chúng chấp nhận giao chiến,
không chạy. Hai bên cách
nhau rất gần, trên dưới 10
thước mà thôi. Sức phản công
của chúng rất dữ dội, gồm
nhiều loại súng lớn rất ác
liệt, như 82 ly không giựt,
12ly8. Phía các chiến đĩnh
của chúng ta được một phen
đáp ứng ngon lành. Tôi c̣n
nhớ anh Đức, một thủy thủ,
bị thương ở mặt và ở đầu,
máu tuôn xối xă, nhưng anh
Đức chỉ lấy tay vuốt máu
trên mặt, đứng thẳng trên
nóc chiến đĩnh, ôm khẩu MK19
nă thẳng vào đối phương.
Trận chiến kéo dài suốt
ngày. Phía ta có các đơn vị
Bộ binh và Địa phương quân
đến tiếp ứng. Tới 5 giờ
chiều địch rút. Trong trận
này phía chúng ta thiệt hại
nhẹ. Phía địch thiệt hại
không dưới một tiểu đoàn. Vũ
khí ta thu được gồm 4 khẩu
82ly, 2 khẩu 12ly8, 12 khẩu
B40 và rất nhiều súng AK
cùng súng trường Nga.”
Vẫn theo lời kể của Đại-tá
Dơng:
“ … Kể cũng thật ghê gớm.
Vẫn tại Cần-Đót, hôm trước
chúng ta giải tỏa, hôm sau
địch lại kéo tới, đông hơn.
Các chiến đĩnh của ta đụng
địch liên tục. Tôi c̣n nhớ
một chiếc Monitor của Giang
Đoàn 42 Ngăn Chận bị trúng
82ly không giựt trực xạ,
khiến 3 nhân viên và Thiếu
tá Phạm Ngọc Lộ, khóa 12,
chỉ huy trưởng, bị thương.
Máu đầy mặt, nhưng tất cả
vẫn ở trong các ổ súng, tiếp
tục bắn. Cứ như thế, ta và
địch giằng co, ’gặp nhau’
đều đều. Trong khi đó, pháo
122ly của địch hàng ngày câu
hàng trăm trái vào Long-An,
gây rất nhiều đổ nát, thương
vong cho dân chúng. Đạn rơi
cả vào nhà thương, khiến
những người đă bị thương lại
bị thương một lần nữa. Thân
nhân của họ vội tản thương
khỏi nhà thương. Sư Đoàn 22
Bộ Binh, từ miền Trung di
tản về đang được tái trang
bị, dưới sự chỉ huy của
tướng Phan Đ́nh Niệm, đem
một Trung-đoàn ra giải tỏa
áp lực địch tại Cầu-Voi,
nhưng áp lực địch vẫn rất
nặng nề. Ta và địch giằng co
nhau nhưng Cầu-Voi vẫn không
bị phá, giao thông trên quốc
lộ 4 nhiều lúc khó khăn
nhưng không hề bị cắt, v́
được người Nhái của ta ngày
đêm tận t́nh bảo vệ. Những
phen Nhái ta và Nhái địch
quần nhau ở chân cầu Long-An
đầy cam go, hồi họp. Rồi lợi
dụng đêm tối, Nhái của chúng
lội ra giữa sông, leo lên
các chiến đĩnh của người
Nhái ta, nhưng chúng ta đă
phát giác kịp thời., tất cả
Nhái của địch đều bị Nhái
của ta hạ sát khi vừa xuất
hiện bên mạn chiến đĩnh,
ch́m mất xác dưới ḷng sông.
Cũng chính v́ thế các chiến
đĩnh không bao giờ được neo
ngủ, phải luôn luôn di động
và dùng lựu đạn ném quanh
tàu. Nhiều chi tiết rất
khiếp đảm trong việc chống
lại người Nhái địch, nói ra
không hết. Một thủy thủ đứng
gác trên nóc chiến đĩnh bỗng
thấy mặt nước khua động, rồi
một cái đầu ló lên, một cách
tay bám vào mạn chiến đĩnh,
rất nhanh như một phản xạ,
một trái lựu đạn được quăng
xuống nước, nổ ục, tung một
quầng nước lớn đỏ thẫm những
máu. Tên Nhái địch buông
tay, ch́m. Mặt nước lại lững
lờ trôi như không có ǵ xảy
ra. Đêm cũng như ngày, có
thể nói sự nguy hiểm có mặt
ở sát bên ḿnh.”
Bằng một giọng nửa đùa cợt,
nửa thắc mắc, Ông nói:
“Không biết tụi nó tưởng
tàu ḿnh bằng giấy bồi, lính
của ḿnh là lính gỗ chắc.
Hết Nhái của tụi nó bơi ra,
lại có cả những ghe gỗ, chở
lính, cũng cứ nhào ra, một
lúc mấy chiếc. Chúng dùng đủ
loại súng bắn vào các chiến
đĩnh của ta. Đạn súng nhỏ
bắn vào thành chiến đĩnh rào
rào như mưa. Chúng ta phản
pháo bằng súng thường không
xuể. Các ghe chở đầy lính
của địch lại túa ra. May mà
hai chiếc Zippo vừa nạp đầy
nhiên liệu, loại xăng đặc
dùng cho bom Napalm, đă sẵn
sàng. Hai chiếc Zippo, dưới
sự bảo vệ của các chiến đĩnh
khác, tiến sát vào bờ, lưỡi
lửa phun ra dài cả trăm
thước. Trong nháy mắt cả một
vùng bờ cây xanh từ gốc tới
ngọn cháy rực, găy đổ, lửa
khói bốc cao, khét lẹt. Từng
lớp người ở sát bờ sông ngă
ra, tràn xuống mặt nước. Các
đợt xung phong dại dột của
địch khựng lại, pḥng tuyến
địch rối loạn. Nhưng quân
trên bờ của địch, người ở
đâu vẫn đen đặc, kêu thét
chạy tán loạn, đặc nghịt.
Pḥng tuyến của chúng vỡ.
Ông Tỉnh-trưởng Trần Vĩnh
Huyến chứng kiến cảnh này,
lắc đầu. Ta không đủ quân để
lên bờ thu chiến lợi phẩm.
Nhưng thiệt hại của chúng
không dưới một tiểu đoàn.
Sau trận ‘hỏa công’ này, mặt
trận hai con sông Vàm-Cỏ trở
nên yên tĩnh. Có lẽ nhờ thế
chúng đă không thể nào vượt
qua 2 con sông Vàm-Cỏ, để áp
đảo Sài-G̣n. Nh́n mấy chiếc
ghe cháy xám, trôi lềnh
bènh, đúng là những chiếc
thuyền ma, ḷng vừa giận,
vừa thương, vừa hú vía…”.

Loại
Zippo phun lửa |
Lau mồ hôi và thở một hơi
dài, Đại-tá Dơng lại tiếp:
“Mấy ngày sau, mặt sông
có những xác người trôi đen
đặc. Mùi tử khí bay nồng
nặc. Nghĩ lại cuộc chiến
thật đau ḷng…” Vẫn lời của
Đại-tá Dơng: ”Đó là một
trong những cuộc tao ngộ
chiến, mà sau này đọc tài
liệu của họ tôi mới biết.
Lực Lượng Đặc Nhiệm 99 đă
cản đường tiến của đoàn 232,
tương đương với 1 Quân Đoàn,
do tướng Lê Đức Anh chỉ huy,
nằm ém quân bất động ở ngă
ba sông Vàm-Cỏ, đợi sẵn khi
có thể là vượt sông, tiến
vào Sài-G̣n. Tại đó, Lực
Lượng Đặc Nhiệm 99 lúc nào
cũng có 6 chiến đĩnh hiện
diện. Vậy mà chúng nín khe,
suốt mười mấy ngày không một
tiếng súng bắn ra. Bây giờ
cuộc chiến đă tàn. Mọi việc
đă nhạt nḥa như không có
thực. Nhưng giả thử Cộng
quân không bị cản đường,
chúng qua được sông Vàm-Cỏ,
nằm sẵn ở 2 bên sông
Ḷng-Tào và Soài-Rạp, khi
đoàn tàu thuyền trong đêm 29
rạng 30 tháng 4, chở đầy
quân, dân, đàn bà và trẻ con
túa ra biển, những điều ǵ
đă phải xẩy ra. Với hỏa lực
của mấy sư đoàn địch trên bờ
và mấy trăm cổ hải pháo trên
các chiến hạm cùng thi nhau
nhả đạn, hai con sông
Ḷng-Tào và Soài-Rạp chắc
chắn sẽ là hai con sông kinh
hoàng ngập máu, sẽ tàn khóc
và rùng rợn nhiều lần hơn
Đại Lộ Kinh Hoàng trong mùa
hè Đỏ Lửa 1972”.
(Người viết thoát khỏi
Sài-G̣n trên Dương Vận Hạm
Thị-Nại, HQ502, một con tàu
hư hỏng, chỉ c̣n một máy, do
HQ Thiếu tá Nguyễn Văn Tánh
làm Hạm-trưởng. Trên tàu chở
theo 5000 người. Trong đó có
vợ và 4 con của Đại tá Dơng
thoát đi vào phút chót cùng
với gia đ́nh Trung-tá Ṭng,
mà Đại-tá Dơng không hay.
Đại-tá Dơng nhiều ngày sau
mới gặp lại gia đ́nh tại khu
Liều Vải, Orote Point, ở
Guam. Khi Cộng sản đă vào
Dinh Độc-Lập, ông Minh đă
tuyên bố đầu hàng, con tàu
HQ 502 chết máy, vẫn chưa ra
khỏi cửa sông Soài-Rạp, và
vẫn tiếp tục vớt thêm người
từ các ghe dân táp vào tàu..
Có nghĩa là cho đến trưa
ngày 30 tháng 4, địch chưa
hiện diện trên khúc sông
này, sông Soài-Rạp vẫn c̣n
an ninh. Được như thế tất
nhiên không phải là môt sự
t́nh cờ. Đó là công lao to
lớn cụ thể của đơn vị hậu
bị, Lực Lượng Đặc Nhiệm 99,
và do sự khéo léo dự trù của
Đô Đốc Chung Tấn Cang, Tư
Lệnh Hải Quân, Bộ Tham Mưu
và sự hợp tác của tất cả
Thủy Thủ Đoàn mọi cấp bậc.
Nếu không, thí dụ chỉ một
trái B40 bắn vào HQ502, tàu
bốc cháy, 5500 người trên
tàu sẽ là nạn nhân trong một
ḷ lửa… Chỉ mới nghĩ thế,
tôi đă thấy rung ḿnh.)
Được hỏi “Khi đoàn chiến hạm
ra đi, Đại-tá có được thông
báo không”.
Đại-tá Dơng đáp:
“Có chứ. Trước khi hạm
đội khởi hành. Đô-đốc Cang
có hỏi tôi là an ninh thủy
tŕnh sông Ḷng-Tào và sông
Soài-Rạp ra sao. Tôi xác
nhận là an ninh tốt. Rồi
trong đêm 29 tháng 4, Đô-đốc
Cang đă 2 lần nhờ Đại-tá Cổ
Tấn Tinh Châu,
Chỉ-huy-trưởng Đặc Khu Rừng
Sát và Trung-tá Dương Hồng
Vơ t́m tôi, kêu tôi hăy mau
rời vùng hoạt động, ra khơi
với đoàn tàu.”
Một thắc mắc được nêu lên.
Đại-tá đă ra đi bằng cách
nào. Và Lực Lượnf Đặc Nhiệm
99 vào phút chót ra sao. Và
chẳng may ông kẹt lại, ông
sẽ nghĩ ǵ, phản ứng ra sao…
Đại-tá Dơng cười và tiếp:
“Lúc đoàn tàu ra khơi,
tôi c̣n lênh đênh trên ngă
ba sông Vàm-Cỏ. Vẫn cố giữ
sự hiện diện của ḿnh ở đây
để cản đường tiến của địch,
như nhiệm vụ đă được thượng
cấp giao phó. Nếu chẳng may
mà kẹt lại th́ cũng đành
vậy, rồi liệu sau. Có điều
lúc ấy, đâu đă rơ t́nh h́nh
ra sao. Đại-tướng Minh đâu
đă đầu hàng. Trên bờ th́
khác, chứ trên sông nước,
ḿnh vẫn c̣n bảnh lắm… Rồi
như chúng ta đều biết, hôm
sau, 30 tháng 4, trước khi
ông Minh ra lệnh đầu hàng
mấy phút, tôi trở lại
Long-An, nhà Ba tôi, đón hai
đứa con tôi. Cho đến 16 giờ
hôm ấy, 30 tháng 4, tất cả
chiến đĩnh thuộc Lực Lượng
Đặc Nhiệm 99 đều có mặt tại
ngă ba sông Soài-Rạp. Bên
cạnh tôi có Đại-úy Hải
CHT/GĐ59 Tuần Thám, tôi đích
thân ra lệnh giải tán Lực
Lượng. Tôi đă nghẹn lời có
nói một câu ngắn rằng: ‘Hẹn
gặp lại anh em…’
Qua lời kể của Đại-tá Dơng,
ta thấy trận chiến kinh
khiếp như thế, đạn bắn vào
tàu như mưa, là người chỉ
huy và trực tiếp xông pha
cùng với đoàn viên các cấp,
một câu hỏi đùa:
“Chắc ông
có bùa Miên, nên đạn đă
tránh ông”. Đại-tá Dơng cười
đáp:
“Đâu có. Nhiều lần tôi đă bị
thương. Nhưng lần đi trận
cuối, và bị thương lần cuối
là ngày 17 tháng 4 năm 1975,
tại Long-An. Nhẹ thôi. Cũng
không biết ḿnh bị bắn lúc
nào. Một mảnh đạn nhỏ ghim
vào ngực bên trái. Hồi 9 giờ
15, hay tin tôi bị thương,
Đô-đốc Phú đă phóng PBR lên
tại mặt trận thăm tôi, hỏi
tôi có chịu đựng được không.
Lúc đó v́ đang đụng nặng,
tôi đă vui vẽ đáp là không
có ǵ, chỉ biết là bị thương
ở ngực thôi, và bị rát quá,
máu ra chút đỉnh thôi. Khi
mặt trận đă văn, tôi về đến
nhà, nên nhớ là nhà tôi ở
Long-An, Bác-sĩ Truyền đă
cứu chữa cho tôi ngay, lấy
viên đạn ra. May là viên đạn
không vào sâu bên trong. Tôi
có báo cáo cho Đô-đốc Cang,
nhưng Trung-tá Vĩnh Giang,
bạn cùng khóa nghe tin, liền
thông báo cho các bạn là tôi
bị thương nặng, sắp chết.
Vết thương này, cả tháng
sau, khi đă ra khỏi trại
Indiantown Gap, mới thực sự
b́nh phục.”
Vẫn lời Đại-tá Dơng:
“Sau khi giải tán Lực
Lượng 99, tôi và Đô-đốc Phú
dự định dùng 2 chiếc PCF để
ra đi, cuối cùng HQ 402 đi
qua. Anh em trên tàu thấy
chúng tôi trên LCM8, nên kêu
gọi, tôi lên HQ402, sau tôi
mời Đô-đốc Phú lên. Trên
HQ402, tôi và ông sau 2 ngày
nhịn đói, ăn chung một đĩa
cơm do Thượng-sĩ Vơ Văn Hiếu
đưa lên. Rồi ông từ giă tôi
lên Soái Hạm, ông không nói
ǵ, nhưng ánh mắt ông nh́n
tôi như nói lên tất cả. Tánh
ông thế. Qua Mỹ, h́nh như
ông không liên lạc với ai.
Ông có gọi thăm tôi tất cả 5
lần. Ông buồn, mới mất,
chẳng để lại một nhắn gửi ǵ”.
Đại-tá Dơng nói thêm:
“Có một chuyện ít ai biết
là chiều ngày 29 tháng 4,
tôi và Đô-đốc Phú ngồi trên
một PBR đậu tại bến đ̣
Long-An. Cầu Long-An, thị xă
Long-An chưa lọt vào tay
địch. Tại đây chúng tôi đă
làm được 2 việc như sau:
-Thứ
nhứt là khi ra lệnh cho Liên
Đoàn Đặc Nhiệm ở G̣-Dầu-Hạ,
Thiếu-tá Sơn có hỏi tôi, có
ông Quân-trưởng G̣-Dầu-Hạ
xin tháp tùng, có cho đi
không. Tôi đáp chở hết và
đánh đắm tất cả các chiến
đĩnh hư hỏng, đi vận tốc tối
đa ra sông Soài-Rạp. Sơn hỏi
‘Lệnh của ai’. Tôi đáp có
‘một sao’ ngồi đây. Đô-đốc
Phú cười. Lần đầu tiên trong
đời tôi thấy ông cười. Và
đoàn giang đĩnh G̣-Dầu-Hạ đă
ra đến Soài-Rạp an toàn trưa
ngày 30 tháng 4. Nếu Liên
Đoàn Đặc Nhiệm ở Tuyên-Nhơn
của Thiếu-tá Lê Anh Tuấn lên
máy liên lạc với tôi, tôi
cũng sẽ bảo đi như
G̣-Dầu-Hạ. Tiếc thay!
-Thứ
hai là, cho đến phút chót,
chúng tôi vẫn giữ đuợc trật
tự, an ninh trên tất cả
chiến đĩnh thuộc Lực Lượng
Đặc Nhiệm 99 và cho Đại Đội
Tuần Giang và Giang Cảnh
Long-An tháp tùng ra sông
Soài-Rạp. Tiếc rằng Bộ Chỉ
Huy Tiểu Khu và Ông
Tỉnh-trưởng Long-An từ chối
không ra đi, ở lại. Một điều
nữa là cho đến giờ này tôi
rất yên ḷng là suốt thời
gian đụng nhiều trận nặng,
trước những đợt tấn công ào
ạt biển người của địch, như
đă mô tả ở trên, nhưng chỉ
có mấy anh em bị thương
(khoảng 5 người)
mà không mất mát người nào,
cho đến khi tôi lên HQ402,
giă từ nhiệm vụ Chỉ huy Lực
Lượng Đặc Nhiệm 99.”
Lên HQ402, một con tàu hư
hỏng với trên 2000 người
trên tàu. Chính Đại-tá Dơng
đă nhọc công lái HQ402 ra
biển, chỉ huy con tàu ấy,
cho đến khi tất cả số người
trên tàu được chuyển sang
tàu khác. HQ402 được lệnh
đánh ch́m.
(Hoàn cảnh của
HQ402 đă được Bà Diệp Mỹ
Linh kể lại rất chi tiết
trong cuốn HQVNCH Ra Khơi,
nơi trang 261, 262).
Một Chút
Riêng Tư
Hải Quân là một quân chủng,
nhưng trên thực tế lúc đông
nhất chỉ trên Bốn Chục Ngàn
người. Với những sĩ quan cấp
tá, th́ hầu như ai cũng biết
nhau. Biết khá kỹ về khả
năng, tính t́nh của nhau.
Ông này điềm tĩnh, uyên
thâm, hợp với vai tṛ tham
mưu. Ông kia trầm tĩnh, chịu
sóng, thích đi tàu. Ông khác
th́ ồn ào, xông xáo chỉ
thích hợp với các đơn vị
trong sông… Nhưng trường hợp
của Đại-tá Dơng th́ hơi
khác. Tuy xuất thân khóa 8,
khóa đầu tiên được giảng dạy
bằng việt ngữ của trường Sĩ
Quan Hải Quân Nha Trang, ra
trường năm 1960, nhưng ông
đă may mắn trải qua những
thời gian đi biển, đi sông,
đă từng giữ các chức vụ
Hạm-trưởng, đă đi du học, đă
làm Hạm-trưởng vượt
Thái-B́nh-Dương, đem tàu từ
Mỹ về nước. Đặc biệt chỉ 4
năm sau khi ra trường, ông
đă được chỉ định làm
Chỉ-huy-trưởng Hải Đoàn 22
Xung Phong, một đơn vị khét
tiếng với những chiến công
trong sông. Và cuộc chiến
trong sông hầu như rất thích
hợp với ông. Ông liên tiếp
tạo được nhiều thành tích,
khiến ông vừa từ giă Hải
Đoàn này, lại tiếp tục Chỉ
huy Giang Đoàn khác. Cùng
lúc với cuộc chiến bùng lên,
Hải Quân bành trướng mau lẹ,
ông là vị sĩ quan khóa 8 đeo
lon Đại-tá sớm nhất, vượt
qua nhiều khóa đàn anh.
Chúng tôi có hỏi: “Yếu tố
nào đă khiến ông ra gia nhập
Hải Quân. Và lúc vào Hải
Quân ông có nghĩ rằng, mới
ngoài 30 tuổi, ông đă đeo
lon tới Quan Năm tàu thủy
không"… Ông cười và đáp:
“Trong một buổi tối, ngồi
chơi tại bến Bạch-Đằng, nh́n
những thủy thủ lên xuống
chiến hạm, thấy những con
tàu xám uy nghi, tôi xúc
động và t́m cách vào Hải
Quân qua người bạn thân là
Đại-tá Nguyễn Ngọc Rắc. Lúc
vào trường c̣n đội nón như
Hạ-sĩ-quan, vành nón đen
bóng, chỉ mong sớm măn khóa
để có cái vành vàng vàng
trên nón là thích rồi. Ra
trường, đơn vị đầu tiên của
tôi là HQ330, Hạm-trưởng là
Hải-Quân Trung-úy Lê Triệu
Đẩu, cũng là Sĩ quan
Đại-Đội-trưởng Khóa 8. Lúc
ấy lên cấp khó khăn, từ
Hạm-trưởng, Hạm-phó,
Cơ-khí-trưởng…ai cũng là
Trung-úy cả. Tôi cũng chỉ
mong đến lúc có 2 vạch trên
vai như mọi người thôi. Ai
dè cuộc đời đưa đẩy…”
Dù sao cuộc chiến cũ cũng đă
nhạt nḥa, có điều ǵ được
coi là vui, là đáng nhắc
lại. Đại-tá Dơng đáp:
“Quê tôi là Long-An, cùng
quê với ông Huỳnh Duy Thiệp.
Tôi sinh năm 1936. Qua đây
thấp thoáng gần 30 năm. Cuộc
đời chẳng c̣n mấy chốc. Tôi
cũng mới nghỉ hưu. Tụi nhỏ 6
đứa đều đă nên người, 5 đứa
đă có gia đ́nh. Sao mà nhớ
lại những ngày tháng cũ, vẫn
cứ bồi hồi. Kỷ niệm vui nhất
là vào khoảng tháng 4 năm
1964, tôi được ân thưởng một
Anh Dũng Bội Tinh Ngôi Sao
Đồng do Đại-tướng Lê Văn Tỵ
kư. Đó là kết quả sau cuộc
hành quân tại
Lương-Ḥa-Thượng, sông
Vàm-Cỏ-Đông. Hải Đoàn được
tăng phái một Đại Đội Biệt
Động Quân. Chỉ-huy-trưởng
Hải-đoàn lúc đó là HQ Đại-úy
Huỳnh Duy Thiệp. Ông đă ủy
nhiệm cho tôi ‘làm ăn’, với
câu dặn ḍ: ‘Ê, đ.m. Đây là
chuyến thử lửa đầu tiên của
mày đó nha mậy’, rồi ông
cười hề hề coi như chuyện
nhỏ. Tôi cố gắng và thi hành
tốt đẹp chuyến hành quân
này. Từ đó, ông hoàn toàn
tín nhiệm tôi 100%, dù cuộc
hành quân trên kết quả rất
khiêm nhường: tịch thu 1 CKC
và 40 quả lựu đạn. Tôi đi
sát ông. Tôi có thể nói rằng
cấp bậc Đại-Tá mà tôi có
được, một phần không ngỏ là
do vị CHT Huỳnh Duy Thiệp
tạo nên. Do những kinh
nghiệm của ông mà tôi tiếp
nhận được, cũng như những tư
cách chỉ huy, rất b́nh tĩnh
khi đụng trận, nhất là những
quyết định bất ngờ, dứt
khoát mà chỉ những người có
thiên tư về chiến trận mới
có được. Những bài học máu
xương trong sông tôi đă học
được từ ông. Ông đă bắt cái
cầu qua sông để tôi tự vạch
rừng, làm đường mà tiến.
(Phải không anh Thiệp).”
Đại-tá Dơng đă nói rất thiết
tha với tất cả sự chân
thành.
Ngưng một lát rồi ông êm ả
nó:
“Đối với người trên tôi
đă học được là từ anh Thiệp.
Nhưng như chúng ta đều biết,
ở trong quân trường, có bài
học nào dạy chúng ta tác
chiến trong sông đâu. Trên
thế giới, nói đến Hải Quân
là nói đến những con tàu lớn
hoạt động trên các đại
dương, nói đến trận Eo
Đối-Mă, trận tấn công
Trân-Châu-Cảng của Hải Quân
Nhựt. Nói đến những luồng
nước, những tai ương, bấc
trắc của thời tiết… Có chiến
trường nào đầy sông rạch như
châu thổ Cửu-Long-Giang. Một
vựa lúa của miền Nam, một
vùng đất śnh lầy chằng chịt
những kinh rạch như mạng
nhện. Chính nơi này, nói
không ngoa, là vùng đất mà
suốt cuộc chiến ngày đêm,
mùa nắng cũng như mùa mưa,
những người lính Hải-quân
chúng ta lầm lủi, đối đầu
với địch. Chúng ta đă có
những chiến công hào hùng,
nhưng cũng đầy gian lao khốn
khổ. Từ U-Minh, Đồng-Tháp,
G̣-Quao, Tuyên-Nhơn,
Năm-Căn, Tam-Giác-Sắt.. khắp
vùng sông nước mịt mùng đó,
chúng ta đă gian khổ đi qua,
và không thiếu bạn bè ta đă
nằm xuống. Có người đem được
xác về. Có người sau một
tiếng ḿn bung nước, mất
tăm. Những kinh nghiệm máu
xương đó, với tôi, tôi đă
học được từ những người lính
dưới quyền. Nhiều người đă
chỉ cho tôi những lắt léo,
nguy nan cần phải tránh.
Nhiều người mà sự can
trường, ḷng dũng cảm khiến
tôi phải kính cẩn cúi đầu.
Cấp bậc của tôi, tôi đă mang
trên vai, như một vinh dự,
đồng thời c̣n là một ân
nghĩa từ tất cả những ai mà
tôi đă có dịp cùng nhau
chiến đấu tạo nên.
Nhớ lại, viết ra không thể
hết. Một số những gương anh
dũng tôi đă ghi lại dưới
đây. Trong đó không thiếu
những điều gần như huyền bí,
lạ lùng, không thể nào giải
thích, nhưng hoàn toàn có
thực. Bây giờ cuộc chiến đă
phai tàn. Tôi xin mượn những
ḍng này để tạ ơn những đóng
góp của các chiến hữu một
thời xa xưa. Cũng xin thắp
một tuần hương gửi tới anh
linh những ai đă ngă xuống
trên vùng sông nước quê nhà.
Cũng xin gởi lời chào thân
quư tới tất cả bè bạn áo
trắng bốn phương, cũng như
c̣n ở nơi quê cũ. Và nếu
những tiết lộ trên đây về
cuộc chiến, có lọt tới gia
đ́nh nạn nhân ở phía bên
kia, tôi cũng cầu xin cho
anh linh những người đă chết
được êm đềm siêu thoát. Các
anh, dưới áp lực này, hay lư
do kia mà phải lao đầu vào
vùng lửa đạn. Các anh chẳng
thể nào lùi. C̣n chúng tôi ở
miền Nam, chúng tôi cũng đâu
có thể làm khác. Định mệnh
hay vận nước chẳng may khiến
chúng ta gặp nhau nơi trận
địa. Chúng ta cùng khốn khổ
như nhau. Gần 30 năm đă qua,
biết ra th́ hầu như đă trễ.
Tôi đă ghi lại những điều
trung thực, hầu để thế hệ
sau có thêm tài liệu để hiểu
thêm về nỗi đau đớn của một
cuộc tương tàn mà người Việt
Nam dù Nam hay Bắc, đă không
làm chủ được. Chúng ta đều
có nỗi đau chung.”
Lê Hữu Dơng, kể
Phan Lạc Tiếp, ghi
|