|
Phần XVIII:
Người Tù Bất Khuất
(Trong Hồi Kư: NNTCC)
Tác Giả:
Phạm G.
Đại
(Kính
dâng lên anh linh của anh Cả chúng tôi là Phạm Gia Quang, khóa 20 Vơ
Bị Quốc Gia Đà Lạt và dâng lên anh linh của em họ tôi Trung Úy Công
Binh Kiến Tạo Tạ Mạnh Cường, người tù bất khuất.)
Đất nước chúng ta trải qua bốn ngàn năm văn hiến đă thành tựu trong
việc gầy dựng lên một quốc gia hùng mạnh và đầy sức sống mănh liệt
cũng như trong công cuộc giữ nước đă bảo vệ được đất đai của tổ tiên
chống lại không biết bao nhiêu lần ngoại xâm từ phương Bắc.
Chúng ta đă có những triều đại lẫy lừng như Đinh, Lê, Lư, Trần với
những nền văn minh rực rỡ và mỗi khi tổ quốc lâm nguy th́ lại xuất
hiện nhiều anh hùng hào kiệt để giải nguy và cứu nước.
B́nh Định Vương Lê Lợi với mười năm nằm gai nếm mật để đánh đuổi
quân Minh và phục hồi giang san lấy lại Thăng Long thành.
Vua Quang Trung Nguyễn Huệ với chiến thuật chuyển quân thần tốc đă
đại phá quân Thanh chiếm lại kinh đô trong hào quang ngời sáng.
Vua nhà Trần với quốc sư Trần Thủ Độ, với danh tướng như Hưng Đạo
Vương Trần Quốc Tuấn, đă ba lần bẻ gẫy mộng xâm lăng của quân Mông
Cổ làm rạng danh đất Việt và làm quân thù thất kinh hồn vía.
Lư Thường Kiệt đă xuất quân chinh phạt Tống và chiếm ba Quận phía
Nam Trung Hoa viết nên trang sử vàng cho dân Việt.
Nhưng qua thế kỷ Hai Mươi th́ vận nước bắt đầu suy vong và ngày
20-7-1954, Hiệp Định Genève đă chia cắt Việt Nam thành hai miền Nam
Bắc qua vĩ tuyến 17 và hàng triệu người đă phải bỏ lại quê hương đất
Bắc sau lưng mà di cư vào miền Nam lánh nạn Cộng Sản.
Một chế độ Tự Do đă dần dần h́nh thành một cách vững mạnh trong miền
Nam và Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa cũng dần dà trưởng thành trong
khói lửa của chiến tranh v́ Miền Bắc theo chế độ Xă Hội chủ Nghĩa,
đă theo mệnh lệnh của Cộng Sản Quốc Tế Nga – Tầu, lại xua quân qua
vùng Phi Quân Sự để tấn công miền Nam, vi phạm trắng trợn Hiệp Định
Genève vừa kư kết.
Khi ấy trong miền Nam đang vui hưởng cảnh thanh b́nh và an lạc nhưng
các chàng trai, các thanh niên đă lần lượt phải giă từ bút nghiên
lên đường nhập ngũ theo tiếng gọi của núi sông để bảo vệ nền Tự Do
cho miền Nam chống lại họa Cộng Sản muốn nhuộm đỏ cả giải đất h́nh
chữ “S”.
Họ đă trở thành những người lính, những sĩ quan tài giỏi thao lược
và trở thành những anh hùng lưu danh muôn thủa trong các binh chủng
của QLVNCH, nối gót cha ông và nối gót tiền nhân, đi trên khắp các
nẻo đường của đất nước để bảo vệ quê hương chống họa xâm lăng từ
phương Bắc.
Hầu như gia đ́nh nào cũng có con em nhập ngũ trong những năm đầu của
thập niên sáu mươi tại Sài G̣n và khắp các tỉnh miền Nam.
Gia đ́nh tôi có chín anh em không kể “con bé dại”, Mẹ tôi vẫn gọi
đứa em gái vắn số của tôi như vậy khi nó mất đi mới có vài tháng tại
Hải Pḥng lúc đó tôi nhớ c̣n ở đường Cát Dài chưa dọn về Cầu Đất.
Tôi tuy sanh đẻ tại Nam Định nhưng trong kư ức không c̣n nhớ ǵ về
thành phố nơi chôn nhau cắt rốn này của ḿnh, bởi mới sanh ra th́ Ba
Mẹ tôi đă đi tản cư liên miên ra khỏi Nam Định v́ các thành phố lớn
đều là mục tiêu cho các cuộc tấn công và phá hoại của Việt Minh và
giao tranh của Pháp-Nhật tại Đông Dương. Người dân lành chỉ c̣n biết
trốn chạy lúc th́ trốn Việt Minh, lúc th́ trốn quân phiệt Nhật để
qua vùng Pháp kiểm soát, lúc th́ trốn các cuộc giao tranh giữa Pháp
- Việt Minh, thật vô vàn cơ cực.
Thành phố Hải Pḥng là nơi thiếu thời của tôi và ba ông anh lớn và
là nơi mà tôi c̣n ghi lại được nhiều kỷ niệm, nhất là những năm
tháng theo học tại trường Ḍng Saint Joseph. Hai đứa em út th́ sanh
trong Nam nhưng ba em gái tôi sanh tại miền Bắc lúc đó cũng quá nhỏ
nên tôi không nhớ tụi nó nhiều hay có nhiều kỷ niệm như với ba ông
anh trai.
Bốn anh em trai lớn trong gia đ́nh tôi mà Ba Mẹ đặt tên Quang,
Minh, Chính, Đại, thực tế th́ tính t́nh lại không giống nhau và
có những cuộc đời cũng khác nhau dù là cùng một cha một mẹ.
Ông anh Cả th́ hiền lành và đạo đức nhưng có khuynh hướng thiên về
quân sự ngay từ nhỏ khi thích bầy binh bố trận với các tên lính bồng
súng và các xe jeep bằng thiếc mà Ông Nội tôi đúc cho và anh cũng
rất say mê họa các h́nh vơ tướng ngày xưa như vua Quang Trung, Lê
Lợi , Trần Hưng Đạo với áo măo gươm đai.
Ông thứ Hai th́ tinh khôn trước tuổi và có lẽ lấy hết sự khôn lanh
của ông anh đầu, có lẽ vậy mà sau này khi di cư vô Nam mới hai mươi
tuổi đă lấy vợ và sống tự lập từ khi vừa xong hai cái Tú Tài ở Trung
Học Vơ Tánh, Nha Trang.
Ông thứ Ba th́ trầm tĩnh hơn, khôn ngoan và chín chắn hơn trong bốn
anh em, có vẻ như già trước tuổi mà hồi bé tôi vẫn gọi anh là “ông
cụ non”. Cũng không ngờ là “ông cụ non” ấy sau này lại là thủ khoa
của khóa 13 sĩ Quan Hải Quân Nha Trang.
Khi anh đậu thủ khoa th́ một số người ngạc nhiên bởi lẽ trong khóa
13 có một anh là cháu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu nên ai cũng nghĩ
rằng anh này, v́ con ông cháu cha, sẽ là thủ khoa. Nhưng xét lại
điểm th́ anh Ba tôi hơn anh kia đến 27 điểm, quá xa để có thể thay
đổi thứ bậc được và đây cũng là một điệm son của chế độ VNCH chúng
ta, khác hẳn chế độ Cộng Sản mọi việc đều do chỉ định theo giai cấp
và đảng tịch chứ không do tài cán.
C̣n tôi khi di cư vào Nam mới lên chín tuổi và tính vốn hiền và nhút
nhát từ nhỏ nên bảo sao làm vậy là yên thân và được Ba Mẹ khen ngoan
chứ không hay bị la rầy v́ nghịch ngợm như ông anh thứ Hai.
Ba Mẹ tôi cứ nói là ông anh thứ Hai lanh quá nên lấy hết cái khôn
ngoan của ông anh Cả rồi nhưng không ngờ khi lớn lên th́ ông anh Cả
lại nổi danh hơn nhiều so với ông thứ Hai dù là cả hai anh em đều là
sĩ quan phục vụ cho Sư Đoàn 5 Bộ Binh đóng tại Lai Khê, B́nh Dương.
Khi chúng tôi lớn lên th́ vận mệnh đất nước nổi trôi lại đưa bốn anh
em tôi đi theo bốn con đường khác nhau, ngay sau khi mỗi người vừa
đỗ xong bằng Tú Tài toàn phần.
Anh Cả sau một thời gian vài năm đi dậy học các trường tư thục tại
Sài G̣n th́ t́nh nguyện vào trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt khóa 20 và
trong thời gian thụ huấn anh có biệt hiệu là “Quang Râu” v́
có bộ râu quai nón đẹp rất là con nhà vơ. Anh tôi đă theo chân cậu
em họ là Tạ Mạnh Huy đang theo học khóa trước là khóa 19.
Ông thứ Hai vào ngành Quân Y và thuyên chuyển về Sư đoàn 5 Bộ Binh
tại B́nh Dương để lo về y tế cho các thương bệnh binh hay cùng hành
quân với tiểu đoàn. Một vài người lính của anh tôi về phép Sài G̣n
ghé lại nhà chơi thường cười nói với Mẹ tôi là ông Trung Úy Minh,
tên anh Hai tôi, bây giờ “ngon” rồi chứ lúc đầu ông ấy thấy máu là
muốn xỉu à, vậy th́ làm sao mà cấp cứu thương binh?
Ông thứ Ba vào khóa 13 sĩ quan Hải Quân Nha Trang và vui với những
chuyến hải hành lấy biển khơi làm nhà, ít có dịp lên “Bờ”.
Có một thời gian anh tôi phục vụ trong đoàn Biệt Hải phối hợp với
toán người Nhái oai hùng của HQVN để thi hành những hải vụ nguy hiểm
tại vùng Phi Quân Sự làm cho Mẹ tôi nhiều khi cũng ăn ngủ không yên,
nhưng làm sao được v́ người trai trong thời loạn ly lúc đó th́ chỉ
có một chí hướng duy nhất là chống lại sự xâm lăng của đám vô thần
cuồng tín Cộng Sản Bắc Việt để giữ vững miền Nam bằng mọi giá.
Anh Ba tôi những khi từ Nha Trang về phép Sài G̣n và khi ngồi ăn
trong không khí ấm cúng của gia đ́nh vừa nhấm nháp các món ăn mà Mẹ
và các em gái tôi nấu, thường hay kể về người Nhái HQVN với giọng nể
phục.
Anh kể về những trận đánh hầu như huyền thoại, về các cuộc hành quân
chớp nhoáng rồi rút lui của toán Biệt Kích người Nhái này mà ít khi
nói về đoàn Biệt Hải của anh, nhưng tôi ngầm hiểu rằng anh tôi cũng
là những sĩ quan đă tham dự trong các trận chiến âm thầm nhưng vô
cùng hiểm nguy với cái chết và cái sống chỉ cách nhau gang tấc đó
nữa nhưng anh không kể ra v́ sợ Mẹ lại lo buồn.
V́ từ khi Ba tôi mất th́ Mẹ tôi đă ở vậy nuôi con lúc mà cậu em út
của tôi mới lên một, và tất cả t́nh thương th́ Mẹ đă hết dành cho
chúng tôi dù là hầu như các con đều đă lớn. Ngược lại th́ anh em
chúng tôi cũng dồn t́nh yêu thương dành cho Mẹ và luôn làm vừa ḷng
cũng như tránh làm ǵ cho Mẹ phải lo nghĩ.
Các anh tôi nhất là anh Cả và anh Ba luôn hiếu thảo, mỗi tháng lănh
lương xong là anh Cả cho vài người lính về phép để ghé nhà đưa hầu
như toàn bộ số lương cho Mẹ tôi. Anh Ba th́ trong thời gian huấn
luyện tại trường sĩ quan Hải Quân Nha Trang lănh lương Trung sĩ một
ngàn ba một tháng th́ chỉ giữ lại đúng một trăm đồng bỏ túi và trừ
các khoản chi phí th́ gửi hết phần c̣n lại về cho Mẹ. Tháng nào tôi
cũng đạp xe lóc cóc ra Bưu Điện Sài g̣n để lănh tiền lương anh gửi
về và những dịp Tết, Trung Thu th́ lại lóc cóc đạp xe ra Bưu Điện để
gửi bánh trái ra Nha Trang cho anh.
Nhưng có điều tôi ít ngờ tới là cuộc đời tôi và anh Cả tôi lại có
những thời gian gắn bó bên nhau trong những năm tháng lưu đầy nơi
đất Bắc sau khi mất miền Nam.
Tôi lớn lên trong thành phố Sài G̣n hoa lệ. Sài G̣n là thủ đô miền
Nam nhưng với tôi Sài G̣n là tất cả, là thời niên thiếu, là thời hoa
niên học tṛ tại trường Trần Lục, Tân Định, là Chu Văn An trong Chợ
Lớn, là nơi tôi đă trưởng thành trên con đường Trương Minh Giảng
thân thương với rạp hát Văn Lang gần bên, trường Lê Bảo Tịnh trước
cửa, là nhà cô ruột tôi với các cậu em họ trong ngơ hẻm bên cạnh, và
quá nhiều kỷ niệm.
Trước khi thi Tú Tài, tôi cũng theo anh Cả đi dậy kèm các trẻ em tư
gia để kiếm thêm giúp cho Mẹ. Cho đến lúc đỗ Tú Tài toàn phần xong
th́ một hôm, tôi t́nh cờ đọc một tin trên báo Chính Luận, cái tin
tức mà đă hoàn toàn thay đổi cuộc đời sinh viên của tôi.
Đó là Không Quân Hoa Kỳ trong căn cứ Tân Sơn Nhất của KQVN tại Sài
G̣n đang cần tuyển nhân viên. V́ muốn giúp cho Mẹ nhiều hơn là đồng
lương ít ỏi của kèm trẻ tại tư gia nên tôi tham dự thi tuyển và được
tuyển dụng về Phân Đội Sáu của Đệ Thất Không Đ̣an, một đơn vị quân
báo của không quân Hoa Kỳ.
Tôi bắt đầu bước vào ngành t́nh báo lúc nào không hay nhưng tôi lại
cảm thấy rất thích thú với vịêc làm mới mẻ này của ḿnh v́ hai lẽ.
Thứ nhất, tôi sẽ giúp cho gia đ́nh vững vàng hơn với số lương tháng
đưa về cho Mẹ nhiều hơn, v́ sau khi Ba tôi mất th́ Mẹ nói là c̣n nợ
nần nhiều với chi phí cho nhà thương Grall bao nhiêu tháng trước kia.
Thứ hai là tôi có dịp góp mặt trực tiếp vào công cuộc chống lại họa
xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt và diệt trừ lũ Cộng phỉ VC đang ngày
đêm đốt phá xóm làng giết hại dân lành.
Trước đó khi nghĩ đến ba anh trai tôi đang xông pha ngoài chiến trận
mà ḿnh th́ cứ măi trong học đường làm nhiều lúc tôi cũng không yên
trong thâm tâm và mang mặc cảm tội lỗi với cuộc sống quá yên b́nh
tại Sài G̣n.
Nhất là có lần tôi đă đến tham dự buổi khao quân của anh Cả tôi lúc
đó là Trung Úy, đại đội trưởng đại đội Trinh Sát của Trung Đoàn 7,
Sư Đoàn 5 BB ở Lai Khê về các chiến công lẫy lừng của đại đội Trinh
Sát. Những chiến công th́ nhiều nhưng nổi bật có thể kể đến trận Ấp
Ba, trong đó đại đội đă quét sạch được VC ra khỏi Ấp mà đơn vị không
bị một tổn thất nào trong khi tiểu đoàn bạn đă không thể vào nổi mà
c̣n khiêng ra ngoài gần chục lính bị thương; và chuyến nhẩy trực
thăng vận xuống mật khu VC phá hủy một căn cư “hậu cần” của địch.
Tôi đă thấy Trung Đoàn Trưởng lúc đó là Trung Tá Lê Nguyên Vỹ lên
micro biểu dương chiến công của đại đội Trinh Sát trực thuộc trung
đoàn này, gắn huy chương cho các sĩ quan binh sĩ Trinh Sát có nhiều
công trận và anh tôi được Anh Dũng Bội Tinh với nhành dương liễu.
Tôi có dịp nói chuyện với các sĩ quan trẻ tuổi trong đại đội trinh
sát và thấy họ thật dễ mến hiền ḥa nhưng lại rất dũng cảm hoàn
thành được nhiều cuộc hành quân gian khổ mà Trung Đ̣an giao cho.
Mỗi Trung Đoàn của Sư Đoàn 5 Bộ Binh chỉ có một đại đội Trinh Sát
được trang bị với toàn những vũ khí tối tân và được xem như đơn vị
tác chiến cơ động với hỏa lực mạnh nhất, thiện chiến nhất và là “con
cưng” của Trung Đoàn. Đơn vị Trinh Sát này luôn trong t́nh trạng ứng
chiến và nhận lệnh thẳng từ Ban Chỉ Huy của Trung Đoàn và thường
được giao cho những nhiệm vụ khó khăn mà tiểu đoàn bạn không thể
thực hiện được.
V́ thế mà anh Cả tôi ít khi thấy về phép mà mỗi tháng chỉ cho hai
người lính về Sài G̣n thăm gia đ́nh họ rồi nhân tiện đem tiền lương
của anh về cho Mẹ tôi mà thôi. Riết rồi anh Cả tôi không những nổi
tiếng trong Trung Đoàn là một cấp chỉ huy không sát quân mà c̣n là
một người con rất hiếu thảo.
Mẹ tôi mỗi tháng khi thấy chiếc xe jeep quân đội ngừng trước cửa
hàng, lúc đó Mẹ tôi đă chuyển qua bán quần áo trẻ em, trên đường
Trương Minh Giảng th́ lại phập phồng lo sợ cho đến khi hai người
lính nói là ông đại đội trưởng gửi lương tháng về cho Mẹ.
Thời gian đó, tôi thấy một niềm tự hào không những về anh ḿnh mà về
cả đại đội trinh sát thiện chiến của anh, về Trung Đoàn 7 BB, về Sư
Đoàn 5 BB và cả về QLVNCH nữa đang trải rộng những hành quân ngày
đêm ra trên khắp bốn vùng chiến thuật trong công cuộc tiễu trừ Cộng
phỉ này ra khỏi miền Nam.
Bởi thế nên tôi đă quyết định dấn thân và và lao ḿnh vào làm việc
với hơn năm năm trời với Phân Đội Sáu của không quân HK.
Tôi bay đi về từ Sài G̣n ra Đà Nẵng thường xuyên để cùng phối hợp
với các đơn vị quân báo VN của Quân Đoàn I. Những khi ở Sài G̣n th́
tôi cùng Phân Đội này ghé lại làm việc tại Trung Tâm Chiêu Hồi Thị
Nghè để phối hợp thêm tin tức về những hoạt động của VC trong Quân
Đoàn III.
Trong thời gian này tuy tôi dồn hết nỗ lực vào làm việc cho Phân Đội
Sáu nhưng vẫn cố theo học ban Cử Nhân Anh Văn tại Đại Học Văn Khoa
Sài G̣n dù gập rất nhiều khó khăn v́ không thể đến trường thường
xuyên. Số tôi luôn có quí nhân phù trợ cho nên có một anh bạn thân
thời học chung trường Chu Văn An là Nguyễn Đ́nh Phương đă lấy dùm
“cua” cho tôi đầy đủ và năm đó không hiểu có sao may mắn chiếu vào
hay sao mà tôi đậu luôn hai chứng chỉ Văn Minh VN khóa I và đậu Văn
Chương Văn Minh Mỹ khóa II.
Có một kỷ niệm mà tôi không quên được là khi tôi vừa xong một chuyến
công tác ra Đà Nẵng, khi bay về Sài G̣n th́ ngày hôm sau phải vào
vấn đáp cho chứng chỉ Văn Chương Văn Minh Mỹ.
Hai giáo sư theo như sinh viên th́ thầm th́ đều khó như nhau. GS
Diệm th́ nhớ mặt các SV thường xuyên tới lớp và GS người Mỹ th́
“quay” SV tối tăm mặt mũi lại về các tiêu thuyết phải đọc trong
chương tŕnh. Một SV lên trước tôi là người mà không hề vắng mặt th́
lại bị thầy Diệm hỏi là sao tôi không thấy anh đến lớp bao giờ và bị
đánh trượt oan mạng. Khi tôi có tên lên kế tiếp th́ chắc mẩm là sẽ
ăn một quả trứng to tướng v́ tôi chẳng hề đến lớp thấy bao giờ nhưng
thật lạ lùng là thầy hỏi thẳng vào cuốn tiểu thuyết The Scarlet
Letter như vậy là tôi trúng tủ v́ học quyển này rất kỹ.
Đến khi qua pḥng bên vào vấn đáp với GS Mỹ th́ chính ông này lại
hỏi là tôi có thường đến lớp hay không mới lạ chứ? Tôi bèn tŕnh bầy
sự thật là v́ chiến tranh đang lan rộng và tôi đang phục vụ cho Phân
Đội Sáu, một đơn vị Quân Báo của Đệ Thất Không Đoàn HK, nên không
thể có mặt được thường xuyên - nhưng nếu mà GS thông cảm cho tôi 10
điểm th́ tôi sẽ đậu chứng chỉ này và tôi hứa sẽ thu xếp thời gian để
có mặt tại giảng đường nhiều hơn. Chả hiểu ông bà phù hộ hay sao mà
ông GS Mỹ này cho tôi đúng 10 điểm như yêu cầu.
Quả là học tài thi phận. Mẹ tôi có dịp lại khen tôi trước mặt các bà
bạn của Mẹ hay với các chị đang giúp may vá trong nhà. Riêng tôi khi
gập mấy cô bạn của các em gái th́ có vẻ hơi làm cao một tí.
Thế rồi chiến sự bùng ra khắp bốn vùng chiến thuật. Sau hai lần VC
mở cuộc tổng tấn công Tết Mậu Thân 1968 th́ tôi cảm thấy người Mỹ
h́nh như đang muốn rút bớt quân số của họ đang tham chiến tại miền
Nam về nước.
Một hôm trong năm 1969, các người bạn Mỹ trong Phân Đội Sáu nói với
tôi là họ đang chuẩn bị rời VN và muốn giới thiệu tôi qua Ṭa Đại Sứ
Mỹ tại Sài G̣n. Tôi đến Ṭa Đại sứ Mỹ nộp đơn để tham dự một kỳ thi
và trúng tuyển vào làm cho họ nhưng cũng có duyên nghiệp với ngành
t́nh báo hay sao, cho nên từ Ṭa Đại Sứ họ chuyển chúng tôi gồm 27
nhân viên qua yểm trợ cho Phủ Tổng Thống, nhưng nhiệm sở thực tế lại
là Phủ Đặc Ủy Trung ương T́nh Báo (PĐUTƯTB) trực thuộc Phủ Tổng
Thống.
Chính v́ thế mà sau khi miền Nam sụp đổ, tôi thường hay bị giam
chung với các người tù thuộc các ngành ANQĐ, CSĐB hay PĐUTƯTB, hay
Quân Báo.
Trong chế độ VNCH trước kia của chúng ta, có rất nhiều các quân dân
cán chính tài giỏi và anh hùng, không những khi đối mặt với quân thù
ngoài trận tuyến nhưng ngay cả khi họ sa vào trong ngục tù, và lưu
đầy, họ cũng âm thầm chịu đựng một cách can trường mọi sự trả thù
tàn nhẫn và phi nhân bản mà kẻ thù dành cho họ.
Thời gian lưu đầy ở ngoài Bắc có một dịp tôi được gập những người
Biệt Kích nhẩy toán ra Bắc thời Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm. Các anh
đều sống rất kỷ luật, vẫn tôn trọng cấp bậc quân đội, và buồng giam
đều giữ sạch sẽ ngăn nắp. Khi ngồi tâm sự với nhau, các anh cũng nói
tới cái niềm đau không thể diễn tả được khi nghe t́n Sài G̣n đâ mất
ngày 30-4-1975.
Lần đầu tiên, nhiều anh đă không c̣n cầm được nước mắt v́ chính
trong thâm tâm các anh cũng như đồng bào miền Bắc đều trông đợi một
ngày nào đó QLVNCH trong Nam sẽ ra giải phóng miền Bắc và các anh sẽ
thoát cảnh tù đầy rồi trở về mái nhà xưa; nhưng tất cả đă hoàn toàn
sụp đổ một cách chua cay và đen tối.
Khi nước mất th́ nhà tan, ngoài anh Ba tôi được cử đi tu học một
khóa HQ tại Rhode Island, HK và gia đ́nh vợ con anh qua cơ quan
D.A.O đă đi thoát được trước ngày Sài G̣n sụp đổ th́ ba anh em c̣n
lại đều vào tù.
Bên gia đ́nh cô Hanh là em út của Ba tôi với tám trai bốn gái th́
bẩy con trai đă trong quân đội và năm người đi “cải tạo” sau ngày
30-4, chỉ trừ một cậu là hạ sỹ quan và một cậu nữa giải ngũ th́
tránh được cảnh ngục tù c̣n cậu út th́ được miễn dịch.
Nhà Mẹ tôi th́ ngoài mặt đường Trương Minh Giảng, nhà cô tôi th́
trong hẻm nhưng chỉ cách nhau vài trăm thước nên bốn anh em trai
chúng tôi rất thân với các cậu em họ dù là vài anh lớn tuổi hơn
chúng tôi nhiều. Trong những năm của thập niên sáu mươi th́ hai gia
đ́nh từ từ vắng người dần bởi các anh tôi và các em họ tôi đều đă
nhập ngũ.
Mẹ tôi vẫn nói là cô ruột tôi rất là can đảm v́ một lúc mất đến bốn
người con trai sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản.
Anh Hải là anh lớn th́ sau một hai năm “cải tạo” đă trốn được ra
khỏi trại giam ở trong Nam và trốn vào rừng nhưng mất tích và không
nghe tin tức ǵ từ đó. Điều lạ lùng là một thời gian cả chục năm sau,
có lần tôi lại nằm mơ thấy anh y như lúc anh c̣n sống, và anh dắt
tôi vào trong một khu rừng rồi chỉ vào một gốc cây rồi nói với tôi
rằng: “Đại ơi! Tôi ở chỗ này này”. Gốc cây ấy to như gốc cổ thụ và
phát ra nhiều ánh sáng trong khi những thân cây khác ở chung quanh
th́ mờ mờ trong bóng tối làm cho tôi tin rằng anh đă mất tại gốc cây
này và đă hiển linh.
Khi tỉnh dậy tôi nhớ giấc mộng đó như in và thông báo cho gia đ́nh
bên cô tôi biết mà làm ma chay cho anh bởi lẽ cô tôi nhất định tin
rằng anh đă trốn được qua Thái Lan dù là hơn mười năm đă trôi qua
không hề có một chút tin tức nào về anh.
Anh thứ tư là Trường và thứ sáu là Linh th́ mất tích và chết trên
biển trên đường đi t́m Tự Do sau khi ra khỏi trại giam vài năm.
Anh Trường chết trong t́nh trạng rất là tôi nghiệp v́ khi ra tù th́
anh nguyện ăn chay trường cho nên khi thuyền lênh đênh trên biển
nhiều ngày và hết lương thực, mọi người vớt được cá và sống sót
nhưng anh nhất định không chịu ăn cá và nhịn đói - anh là người duy
nhất thiệt mạng trên chuyến tầu đó.
Nhưng câu chuyện về anh Cường là con thứ ba của cô ruột tôi mới là
câu chuyện bi thương và hùng tráng nhất của một người tù bất khuất
đă có những hành động phi thường làm cho kẻ thù phải khiếp đảm.
Anh Cường, Tạ Mạnh Cường từ nhỏ đă ưa thích vơ nghệ nên được cô chú
tôi cho đi học vơ cùng với người em là Tạ Mạnh Trường tại vơ đường
của Tổ Sư Lộc người sáng lập ra môn phái Vovinam ở Hà Nội.
Tôi nhớ lúc đó tôi mới năm tuổi cùng ba ông anh tôi được Ba Mẹ cho
lên chơi Hà Nội ở nhà cô tôi ba tháng Hè. Anh Cường đă huấn luyện vơ
cho chúng tôi với thế tập đầu tiên là lộn mèo qua lưng một người
khác trước khi có thể tập tự ḿnh tung người lên trên không và lộn
một ṿng. Các anh th́ đều tập được nhưng tôi có lẽ c̣n quá nhỏ và
không có năng khiếu vơ thuật hay sao mà lộn hoài không xong. Lúc ấy
anh Cường thường nh́n tôi mỉm cười lộ chiếc răng vàng ra và cho tôi
miễn tập làm cho tôi vô cùng khoái chí v́ “ông thầy” không phạt.
Anh kể rằng Tổ Sư Lộc vơ nghệ uyên thâm không biết đâu mà lường và
là người mà lần đầu tiên trong đời anh thấy Tổ Sư chỉ ngồi tại bàn
giấy và nghe tiếng gió mà tránh hết các đ̣n tấn công của học tṛ
đứng chung quanh.
Anh Cường khi di cư vào Nam th́ đă lên đẳng cấp Vơ Sư và tôi đă có
dịp hân hạnh được xem anh và phái đoàn Vovinam biểu diễn tài nghệ
tại rạp Thống Nhất lúc đó tên là rạp Norodome tại Sài G̣n vào khoảng
năm 1956. Đặc biệt của Vovinam là biểu diễn không có nệm tapis như
Nhu Đạo hay các môn vơ khác mà quật nhau thẳng trên sàn gỗ và dao sử
dụng là con dao thiệt. Dưới khán giả cũng có nhiều môn phái bạn ngồi
xem như Vơ Sư Lộc của Nhu Đạo và tôi cũng như tất cả khán giả đều vỗ
tay tán thưởng nhiệt liệt khi anh Cường biểu diễn cú chặt bằng cạnh
bàn tay đánh rơi con dao của một vơ sinh khác đóng vai tấn công và
màn anh tung người nhẩy qua một vơ sinh để dùng hai chân cặp cổ quật
một vơ sinh khác.
Vơ sinh bị chặt rớt con dao th́ cổ tay vẫn c̣n đau ê ẩm v́ anh Cường
biểu diễn thật, và vơ sinh bị cặp cổ th́ dù đă lộn người theo thế
quật nhưng sau đó vẫn c̣n hăi sợ v́ chút nữa th́ bị trặc cổ.
Tôi thấy Vơ sư Lợi và nhiều người trong đó có chú bé con là tôi cũng
đứng lên vỗ tay hoan hô mấy màn biểu diễn của anh Cường.
Có lần tôi qua nhà cô tôi chơi, thấy cô em họ nấp sau cánh cửa cầm
cái gáo bằng nhựa định hù anh ḿnh, nhưng khi anh Cường vừa bước
chân qua cánh cửa th́ cô ta đập cái gáo vào đầu anh Cường. Phản xạ
tự nhiên, anh vung tay chém một cái và cái gáo bay tuốt ra sân, c̣n
cô em họ tôi th́ mất cả hồn vía ôm mặt khóc hu hu làm tôi không nhịn
được cười.
Anh gịng giỏi con nhà vơ v́ chú ruột của anh có một gánh xiếc lưu
diễn khắp miền Bắc qua nhiều tỉnh thành và từ vùng trung du lên cả
mạn ngược, thời gian trước năm 1954. Đi đến đâu th́ gánh xiếc này
cũng đều gặt hái thành công. Gánh xịêc họ Tạ này nổi danh v́ ông chú
của anh là một người vơ nghệ cao cường thường tay không chế ngự được
con cọp và điều khiển nó theo ư ḿnh.
Anh như vậy là nối giơi con đường vơ nghệ theo chân ông chú chứ Ba
của anh th́ vơ vẽ chẳng biết một tí ǵ và chỉ chuyên về buôn bán.
Tuy hai anh em đều theo học cùng lúc với Tổ Sư Lộc nhưng anh Cường
tài nghệ giỏi hơn người em cho nên khi vào trong Nam một thời gian
sau th́ anh Cường được mời làm huấn luyện viên cho Cảnh Sát Quốc Gia
tài Sài G̣n.
Tôi nhớ có một lần tụi tôi cũng năm sáu người bên tôi và cô tôi ra
Mai Hương ngồi ăn kem và nh́n ông đi qua bà đi lại cho vui.
Khi ấy, quán này có một toán cao bồi hay đóng đô tại đây và quấy
nhiễu các khách hàng mà chủ quán cũng không dám ho he ǵ v́ sợ chúng
phá quán. Bọn chúng đông cũng khoảng chục mạng, tay nào tay nấy ăn
mặc quần áo theo kiểu chim c̣ đúng là dân chơi cao bồi thứ thiệt, và
tính qua bàn chúng tôi cà khịa.
Anh Cường vẫn thản nhiên như không, vẫn cười nói với chúng tôi và
chỉ ngoái lại bàn phía sau nói với tên đầu đảng cao bồi này anh là
Huấn Luyện Viên vơ thuật cho Cảnh Sát và muốn hơn thua th́ đến Bộ Tư
Lệnh Cảnh Sát.
Nghe đến đó th́ chúng lấm lét rồi từ từ dông hết làm cho tôi vừa
phục anh vừa khoái chí nữa v́ “ông thầy” đă cho bọn chúng một bài
học nhưng không cần phải ra tay. Cũng từ đó th́ đám cao bồi này dời
“đô” đi nơi khác không c̣n thấy tại quán kem Mai Hương nữa.
Tôi hồi nhỏ ở Hải Pḥng th́ theo học tại trường Ḍng St. Joseph,
không biết có phải v́ kỷ luật và giáo dục tại trường này rất chặt
chẽ hay không mà tính tôi vốn nhút nhát lại càng thêm hay sợ hăi và
thiếu tự tin. Chính v́ thế mà hồi mới di cư vào Sài G̣n, đi đâu có
anh Cường hay các em họ con cô tôi th́ tôi rất là yên tâm và tụi tôi
thân với nhau nhất v́ toàn là con trai và mang tiếng là em họ nhưng
các anh ấy đều lớn tuổi hơn tôi nhưng vẫn thân mật gọi tôi bằng "anh"
theo đúng lễ giáo ngày xưa.
Bên bác Phán là chị ruột Ba tôi th́ ở Hải Dương và gia đ́nh bác lại
toàn con gái hay các anh th́ quá lớn không thèm chơi với bọn tôi cho
nên bốn anh em chúng tôi từ Hải Pḥng thường được Ba mẹ mua vé máy
bay mỗi dịp Hè để đến thăm cô tôi tại Hà Nội nhiều hơn, và những lúc
như vậy th́ có cơ hội tập hợp hết cả lũ con trai với nhau hơn chục
đứa và tha hồ nghịch phá bởi cô tôi rất dễ tính và lại hay chiều con
cháu.
Thế rồi Hiệp Định Genève di cư vào Nam, bốn anh em trai tôi lại có
dịp ở chung một thời gian với các cậu em họ trong nhà cô tôi tại Bến
Chương Dương cho đến khi cô tôi dọn về Trương Minh Giảng th́ chúng
tôi mới tách ra nhưng vẫn giữ t́nh anh em rất là thân thiết.
Rồi mỗi người vào quân ngũ và bay đi bốn phương trời cho đến ngày
mất miền Nam th́ tôi, anh Cả tôi và anh Huy là con trai thứ năm của
cô tôi bị đưa ra miền Bắc.
Anh Cường, Trường và anh Linh v́ là Trung Úy Công Binh và văn pḥng
nên bị giam giữ tại Suối Máu trong miền Nam. Ít năm sau th́ anh Linh
và anh Trường được thả về nhưng anh Cường vẫn bị giữ lại dù anh chỉ
là Công Binh Kiến Tạo xây dựng cầu đường mà thôi.
Lư do giản dị v́ anh là cái gai trong mắt của bọn cán bộ trại bởi
tính t́nh cương trực của anh hay bênh vực đồng đội nên anh bị ghép
vào tội chống đối "cải tạo và lao động".
Những khi họ đọc lệnh thi hành kỷ luật với người tù nào mà anh thấy
bất công là anh đứng lên phản đối, đ̣i lại sự công bằng.
Sau đó họ di chuyển anh về một trại trong vùng Tống Lê Chân gần biên
giới Việt-Miên và anh bị giam trong thùng "connex" sau lần bênh vực
một người bạn tù. "Connex" là một loại thùng lớn bằng tôn dầy của
quân đội Mỹ trước kia dùng để chứa các kiện hàng di chuyển cho dễ
theo đường biển cho quân đội Hoa Kỳ trong miền Nam.
Cái nắng khủng khiếp của vùng rừng núi nhất là vào giữa trưa như hun
đốt anh trong hỏa ḷ cộng với sự bỏ đói và bỏ khát là một h́nh thức
tra tấn tàn bạo của trại giam mục đích để tiêu diệt ư chí và dũng
khí của anh, nhưng anh vẫn không đầu hàng để được thả ra khỏi "connex"
sớm hơn.
Các bạn anh bên ng̣ai đă khôn khéo mua chuộc được mấy tay nhà bếp
nên anh đă được cho ăn khá hơn với miếng thịt nằm dưới ít khoai sắn
và họ đă chuyển vào cho anh được cái đinh bù loong mười phân. Chính
cái đinh này đă cứu anh sống sót sau hai tuần giam trong "connex".
Mỗi khi họ cho ít nước hay phần ăn ngày một lần th́ khi họ đóng cánh
cửa th́ anh lại nhét cái đinh này vào khe cửa, nhờ thế mà những trưa
Hè nắng như đổ lửa và anh sắp ngạt thở trong cái thùng bít bùng này
th́ anh ḅ lại gần khe cửa và ghé mũi sát vào cái khe hở nhỏ xíu đó
mà hít được ít hơi mát bên ngoài.
Sau hai tuần lễ hành h́nh trong thùng "connex" anh được khiêng ra
ngoài nhưng quả là họa vô đơn chí v́ chỉ một thời gian ngắn sau đó
th́ trực trại kêu anh ra "làm việc" v́ anh vẫn nhất định không chịu
kư tên vào biên bản nhận "tội" như họ đă viết sẵn.
Các anh em trong buồng đều bảo anh là không nên ra, mỗi người một
câu:
-"Cậu cáo ốm ở lại trong buồng th́ tụi nó làm ǵ được?"
-"Giăng mùng lên chui vào ngủ là xong, kệ nó."
-"Ḿnh cảm thấy lành ít dữ nhiều đó nha, nên cẩn thận."
Cáo ốm ở lại trong buồng th́ anh không thể làm được v́ như thế là tỏ
ra sợ chúng nó, anh vốn là con nhà vơ, hơn nữa lại là vơ sư không
thể để mất danh dự của môn phái, nên anh không chịu cáo ốm như vậy
vả lại anh nói trước sau ǵ cũng phải đối mặt với họ một lần:
-"Các cậu cứ để tôi ra xem chúng giở tṛ ǵ? Ḿnh trong tay nó mà,
hôm nay không ra gập chúng th́ ngày mai cũng phải gập thôi."
Anh từ từ đi ra ngoài cổng trại chiều hôm đó trong sự lo âu của các
bạn tù cũng là các sĩ quan chế độ cũ.
Khi anh ra đến nơi th́ thấy tay Thượng Úy chính trị viên đă ngồi sẵn
tại bàn với các cán bộ trực trại. Tên Thượng Úy mặt lạnh như tiền
đưa tờ giấy cho anh kư nhận "tôi trạng".
Anh b́nh tĩnh đưa lại tờ giấy:
-"Tôi không hiểu tôi mắc vào tội ǵ?"
Tên Thượng Úy đập bàn như hét lên:
-"Anh c̣n ngoan cố hả, không kư th́ bỏ tù cho rũ xương ra."
Hắn hầm hầm đứng lên và bước ra khỏi pḥng trực trại.
Anh chuẩn bị bước ra cửa để vào trại th́ mấy tay cán bộ như có dàn
cảnh trước đă ngăn anh lại:
-"Chúng tôi c̣n cần "làm việc" với anh chưa xong.
Anh cảm thấy một cái ǵ không ổn nhưng đă quá trễ để rút lui và chờ
xem chúng giở thủ đoạn ǵ.
Tay cán bộ vừa dứt lời th́ các cửa sổ được đóng kín lại chỉ chừa có
cửa ra vào là c̣n mở và từ ngoài bất ngờ hàng chục cán binh mang
theo gậy gộc xông vào pḥng. Lúc đó mấy tay trực trại mới chịu bước
ra ngoài.
Bấy giờ anh mới hiểu rơ dă tâm của bọn chúng kêu anh ra ngoài này
làm ǵ
Anh nh́n quanh, căn pḥng khá hẹp và anh lui dần vế phía góc pḥng.
Nếu ở bên ngoài th́ với một lũ tép riu này chỉ cần học tṛ của anh
cũng đủ dậy cho chúng một bài học nhưng mấy năm nay lao động khổ sai
và ăn uống kham khổ đă làm anh mất đi rất nhiều sức lực nên không
biết sao đây.
Dù sao th́ cũng phải cho chúng biết thế nào là một Vơ Sư được chân
truyền. Anh ngầm lấy sức vận nội công lên hai cánh tay và đôi chân
thủ thế.
Hầu như đă được chỉ thị trước, bọn cán binh đều không nói một lời
vung các gậy và các thanh sắt lên xông vào tấn công anh túi bụi,
nhưng v́ anh đă lui vào góc pḥng nên chỉ hai ba đứa có thể tấn công
một lúc v́ chúng sợ loạn đả vào nhau.
Thế rồi anh ra chiêu nhanh như gió và chỉ một loáng trước những con
mắt kinh hăi của đám cán binh, các vũ khí của chúng đều rơi gọn nhẹ
xuống đất. Đứa th́ ôm cổ tay đứa th́ ôm chân và lùi dần ra phía cửa.
Anh tính vọt ra cửa th́ đột nhiên hia họng súng đen ng̣m lên đạn
hướng về phía anh, th́ ra chúng đă tính trước là sẽ phải dùng đến
súng tiểu liên để đối phó với anh.
Anh đứng lại tại chỗ và hai tay khoanh trước ngực chờ đợi. Chúng
tiến lại gần và trói hai tay anh vào thanh sắt cửa sổ và trói hai
chân lại với nhau. Xong đâu đấy rồi th́ bọn cán binh, vốn đă được
nhồi nhét những tuyên truyền xuyên tạc mọi thứ xấu xa về các sĩ quan
"Ngụy" cho nên đều nhẩy vào dùng các thanh sắt quất anh không thương
tiếc.
Than ôi! Người Vơ Sư hào hùng ngày nào của vơ đường Vovinam, người
tù anh hùng đă bảo vệ cho bao nhiêu bạn ḿnh trước bạo quyền của
trại giam "tập trung cải tạo" của chế độ Cộng Sản, người sĩ quan
hiền ḥa vẫn xây dựng bao nhiêu đường xá cầu cống cho dân làng miền
Nam ngày trước, người tù bất khuất ấy bây giờ đă ngất xỉu trong đau
đớn tột cùng của thân xác.
Mắt anh mờ dần đi và anh thấy lấp lánh đâu đó là những giọt nước mắt
của Mẹ già tóc đă bạc phơ chỉ sau mấy năm Sài G̣n đă đổi tên và rồi
anh không c̣n biết ǵ nữa.
Khi anh tỉnh dậy có lẽ vài ngày sau đó th́ thấy những cặp mắt âu lo
của các bạn tù trong buồng giam.
-"Ê! Cường tỉnh dậy rồi nè."
-"Lấy ít cháo loăng thôi."
Một anh bạn đến gần:
-"Ráng ăn ít cháo đi rồi uống thang thuốc này. Ḿnh mới vào rừng hái
ít lá cây nấu lên uống để xổ máu bầm ra."
-"Cậu là vơ sư chứ người thường th́ chết rồi. Chúng dă man hèn hạ
quá. Loài thú chứ không phải loài người!"
Anh bị gẫy hết hai bên xương sườn, một chân bị dập một vai xương bị
nát. Rất may là các vết thương trên đầu không nặng sau trận đ̣n thù
đó.
T́nh h́nh trong trại mấy ngày sau đó cực kỳ căng thẳng, khi các anh
đi lao động chúng đều đem súng theo hườm sẵn và được lệnh sẽ băn
ngay nếu có nổi loạn.
Anh bèn bảo các bạn thân của ḿnh chuyển lời nói với các buồng chung
quanh là án binh bất động v́ anh không muốn v́ anh mà nhiều anh em
khác phải hy sinh. Anh đă là một biểu tượng oai hùng nhất trong con
mắt của những người tù đồng cảnh ngộ nên lời nói của anh đă được
nghe theo và đă tránh được một cảnh tắm máu v́ anh em đều sôi sục
căm hờn.
Từ ngày đó anh không c̣n khả năng đi ra ngoài lao động, không c̣n
những giây phút vào rừng sâu kiếm củi, nghe được tiếng chim hót ban
mai hay hưởng cái hơi mát lạnh của núi rừng khi chiều buông xuống.
Anh chỉ có thể khó khăn lắm mới lê từng bước một tập đi trong buồng
giam.
Năm sau, các bạn anh v́ là cấp Úy nên cũng từ từ được thả ra nhưng
anh là cấp Úy sau cùng ra khỏi trại giam đó.
Anh trở về gia đ́nh trong căn hẻm Trương Minh Giảng gần nhà Mẹ anh
và được thuốc thang chạy chữa nhưng v́ lục phủ ngũ tạng đều bị chấn
thương cho nên một thời gian ngắn sau anh qua đời trong sự thương
tiếc của gia đ́nh và bạn bè khắp nơi.
Anh mất đi lúc mới ngoài bốn mươi tuổi để lại người vợ c̣n trẻ và
mấy đứa con c̣n nhỏ dại. Cô tôi vừa khô nước mắt khóc hai đứa con đi
vượt biên mất tích lại mang thêm một cái tang nữa. Mẹ tôi ở gần bên
cạnh cũng chỉ biết qua nhà an ủi cô tôi mà thôi v́ chính Mẹ tôi
trong ḷng cũng ngày đêm lo sợ cho tôi và anh Cả tôi lúc đó đang bị
giam lưu đầy ngoài Bắc.
Đám ma anh Cường được tổ chức đơn sơ nhưng rất đông người tham dự kể
cả gia đ́nh họ hàng và nhất là gia đ́nh các bạn tù của anh cũng đến
thắp nén nhang để tưởng niệm người anh hùng yểu tử, vị vơ sư v́ bảo
vệ bạn tù, v́ bảo vệ Chính Nghĩa mà vong thân.
H́nh bóng của anh vẫn sống măi trong tâm khảm của mọi người. Anh là
một sĩ quan Công Binh Kiến Tạo tận tụy với nghề nghiệp được đơn vị
thương yêu, anh sống gần gũi với dân chúng và bảo vệ họ tại những
cùng thôn xóm làng mạc xa xôi.
Anh là một người chồng gương mẫu, một "ông thầy vơ" mà tôi kính phục
khi tôi c̣n thơ ấu, một vơ sư mà bao nhiêu vơ sinh dưới quyền nể
trọng nhưng trên hết anh là một người tù bất khuất, một anh hùng bất
tử.
Khi tôi được thả về, nghe tin anh mất thật là bàng hoàng và xúc động
bởi tuổi thơ của tôi đă nhiều kỷ niệm gắn bó với các em họ con cô
ruột tôi từ lúc c̣n ở Hải Pḥng và Hà Nội và ngay tại Sài G̣n trong
thời thanh niên. Tôi vẫn không quên được những bài học vỡ ḷng về
Vovinam mà anh dậy cho bốn anh em chúng tôi trên sân gác thượng của
nhà cô tôi ở Hà Nội.
Chùa Linh Giác đường Lư Thái Tổ là nơi mà gia đ́nh để ảnh của các
anh con cô tôi đă mất và cũng để ảnh của anh Quang, anh Cả tôi nữa.
Tôi đă đến ngôi chùa nhỏ ấy nhiều lần để thắp nén nhang dâng lên anh
Cả tôi , dâng lên các anh Hải, Trường, Linh và nhất là anh Cường với
bao niềm ngậm ngùi rằng thế hệ chúng tôi đă cống hiến hết cho công
cuộc bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ miền Nam chống lại Cộng Sản xâm lăng
trong hai thập niên, và mất hết những năm tháng đẹp nhất đời người
trong tù.
Không biết rồi mai này con cháu ḿnh có c̣n nhớ rằng ngày xưa đă có
những bậc anh hùng bất tử ghi lại bao chiến công oanh liệt không kém
ǵ tiền nhân trong quân sử của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa? Và trong
lịch sử của "trại giam tập trung cải tạo" của chế độ Cộng Sản tại
Việt Nam đă có những người tù bất khuất mà vơ sư Vovinam Tạ Mạnh
Cường là một?
Phạm Gia Đại
|