NGƯỜI LÍNH TRONG NHẠC NGUYỄN VĂN ĐÔNG

Lê Hữu
"Anh như ngàn gió,
ham ngược xuôi theo đường mây..."
(Mấy dặm sơn khê, Nguyễn Văn Đông)
Hôm ấy, tôi c̣n nhớ, một chiều hè năm 1969, chúng tôi ngồi ở một
quán nước quen dọc bờ biển Nha Trang. Bên cạnh tôi là H., người bạn
học cũ. Đă lâu lắm chúng tôi mới gặp lại nhau kể từ ngày rời xa mái
trường cũ ở một thị trấn miền cao nguyên đất đỏ. H. cho biết anh sắp
sửa nhập ngũ, th́ giờ rảnh rỗi như thế này sẽ chẳng c̣n được bao lâu
nữa. Anh ta có người yêu ở thành phố biển này. Tôi th́ vẫn lang
thang trên sân trường đại học, tấm giấy chứng chỉ hoăn dịch trong
tay vẫn c̣n hiệu lực...
Trên mặt bàn là những chai bia đă cạn và câu chuyện cũng đến lúc cạn
đề tài. Chúng tôi ngồi im lặng, cùng phóng tầm mắt nh́n ra vùng biển
bao la trước mặt, chờ mặt trời lặn để ngắm cảnh hoàng hôn trên băi
biển trong lúc tiếng nhạc bập bùng vọng ra từ một góc quầy.
Người đi giúp núi sông
hàng hàng lớp lớp chưa về, hàng hàng nối tiếp câu thề
giành lấy quê hương...
"Bài ǵ vậy?" H. quay sang tôi, hỏi.
"‘Hàng hàng lớp lớp'," tôi trả lời.
"Tên ǵ lạ vậy?"
"Gọi tắt là vậy," tôi cười, "tên đầy đủ là ‘Khúc t́nh ca hàng hàng
lớp lớp'."
H. lặng thinh, có vẻ chăm chú lắng nghe. Lời ca tiếng nhạc khi réo
rắt, khi trầm bổng...
C̣n đây đêm cuối cùng
nh́n em muốn nói chuyện người Kinh Kha
ngại khơi nước mắt, nhạt nḥa môi em...
"Giọng Hà Thanh phải không?" H. lại hỏi. "C̣n giọng nam?"
"Hùng Cường."
"Thiệt sao?" giọng hỏi thoáng chút ngờ vực.
Tôi hiểu, anh bạn tôi đâu biết rằng, ngoài những bài "tủ" như "Vọng
ngày xanh", "Ông lái đ̣", "Sơn nữ ca"..., ca sĩ Hùng Cường-một nghệ
sĩ cải lương khá nổi tiếng thời ấy - với chất giọng ténor khoẻ
khoắn, c̣n hát rất "tới" một ít bài tân nhạc khác nữa, đặc biệt là
những bài của Nguyễn Văn Đông.
Bài hát chúng tôi đang nghe là của Nguyễn Văn Đông.
Anh bạn tôi đă nương theo câu hát ấy mà đi vào cuộc chiến. Anh đă
nhập vào "hàng hàng lớp lớp" những đoàn người "nối tiếp câu thề
giành lấy quê hương".
Mùa hè năm sau, tôi cũng "lên đường nhập ngũ ṭng quân", nghĩa là
chỉ sau anh bạn H. một năm. Bạn bè tôi kẻ trước người sau lục tục
vào lính. Chiến cuộc ngày càng leo thang, càng trở nên khốc liệt...
H., anh bạn cùng ngồi với tôi buổi chiều ấy, cùng nghe với tôi bài
nhạc ấy, cùng ngắm nh́n hoàng hôn trên băi biển ấy, đă không c̣n
nữa. Anh đă nằm sâu dưới ḷng đất. H. đă hy sinh trong chiến trận ít
năm sau đó, như biết bao người lính khác, như hơn một nửa bạn bè tôi
đă nằm xuống trên khắp các mặt trận trong cuộc chiến nghiệt ngă ấy.
Chiến tranh như con quái vật khổng lổ đă nuốt chửng bao nhiêu bè bạn
tôi, anh em tôi.
Đă nhiều năm, nhiều năm trôi qua, h́nh ảnh một chiều nào biển xanh
cát trắng và những câu hát của Nguyễn Văn Đông giữa biển trời mênh
mông vẫn c̣n đậm nét trong kư ức tôi, mặc cho những lớp sóng của
thời gian như từng đợt sóng biển cứ "hàng hàng lớp lớp" xô nhau, xô
nhau tràn măi vào bờ, rồi lại rút xuống trong con nước thủy triều
của buổi hoàng hôn...
Người lính Nguyễn Văn Đông
Anh bạn tôi khi c̣n sống đă thích bài nhạc ấy v́ hai lẽ: thứ nhất,
đấy là một bài nhạc lính khá hay, gợi nhiều cảm xúc; thứ hai, nội
dung bài hát khá "hợp t́nh hợp cảnh" đối với anh ta vào lúc ấy.
Chỉ nghe cái tựa thôi, "Khúc t́nh ca hàng hàng lớp lớp", người ta
cũng biết được rằng đấy là bài t́nh ca viết về lính, viết cho lính.
Người đi giúp núi sông, hàng hàng lớp lớp chưa về... Không chỉ là
"chưa về", trong số "hàng hàng lớp lớp" những "người đi giúp núi
sông" ấy, đă có biết bao người đi không về, không bao giờ về lại
nữa. Trong số những người đi măi không về ấy có anh bạn của tôi,
người "yêu" câu hát ấy của Nguyễn Văn Đông, trong lúc tôi và những
người lính khác, những chiến hữu, những bè bạn của anh, đă may mắn
hơn anh, đă sống sót trở về sau cuộc chiến; và hơn thế nữa, đă được
định cư trên miền đất tự do này để nhớ về những đồng đội cũ đă hy
sinh hay c̣n ở lại trong nước, kéo dài cuộc sống lây lất, âm thầm
của những người lính già trong buổi hoàng hôn của đời người.
Trong số những người lính vẫn c̣n ở lại trong nước ấy có người lính
Nguyễn Văn Đông, tác giả "Khúc t́nh ca hàng hàng lớp lớp". Ông hiện
sống ở Saigon, và hầu như không c̣n viết nhạc nữa. Điều này không có
ǵ lạ, đối với một nhạc sĩ vốn sở trường và khá nổi tiếng về những
bài "nhạc lính". Không chỉ v́ chiến tranh đă đi qua, t́nh trạng đất
nước hiện nay chắc không phải là môi trường thuận lợi giúp ông t́m
lại được nguồn cảm hứng để tiếp tục sáng tác.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông sinh trưởng tại Saigon
(nguyên quán thuộc
tỉnh Tây Ninh). Ngay từ thời niên thiếu, năm 14 tuổi, ông đă có cơ
hội học hỏi về âm nhạc từ các giáo sư người Pháp trong thời gian 5
năm theo học tại trường Thiếu Sinh Quân Việt Nam. Đây cũng là nơi
ông sáng tác ca khúc đầu tay, "Thiếu Sinh Quân Hành Khúc", năm 16
tuổi, được trường chính thức công nhận và sử dụng làm bài "đoàn ca"
trong các sinh hoạt tập thể. Ông là thành viên của dàn quân nhạc gồm
trên 40 "nhạc sĩ" thiếu niên, từng thi thố tài năng qua nhiều buổi
ḥa nhạc do một nhạc trưởng người Pháp điều khiển trong các lễ duyệt
binh long trọng, đồng thời cũng là thành viên ban nhạc nhẹ của
trường, sử dụng thuần thục nhiều nhạc cụ như kèn, trống, mandolin,
guitare hawaïenne...
Ngoài sự nghiệp sáng tác, những nét chính về hoạt động âm nhạc có
thể kể ra được của chàng nghệ sĩ "tay súng, tay đàn" Nguyễn Văn
Đông:
Từ năm 1958, là Trưởng Đoàn Văn Nghệ V́ Dân
(với sự góp mặt của các
nghệ sĩ và ca nhạc sĩ tên tuổi, như Kiều Hạnh, Kim Cương, Khánh
Ngọc, Minh Diệu, Vân Hùng, Ba Vân, Bảy Xê, Trần Văn Trạch, Quách
Đàm, Mạnh Phát, Minh Kỳ, Thu Hồ, Hoài Linh, vũ sư Trịnh Toàn...).
Cũng từ năm 1958, là Trưởng Ban Nhạc Tiếng Thời Gian, đài phát thanh
Saigon, quy tụ các ca nhạc sĩ quen thuộc thuở ấy như Lệ Thanh, Khánh
Ngọc, Tâm Vấn, Minh Diệu, Hà Thanh, Anh Ngọc, Quách Đàm, Mạnh Phát,
Thu Hồ, Trần Văn Trạch... (Từ năm 1962, được tăng cường thêm các ca
sĩ Thái Thanh, Thanh Thúy, Minh Tuyết, Duy Khánh, Nhật Trường, Thanh
Vũ, Hùng Cường... và ban nhạc Y Vân).
Từ năm 1960 đến 1975, cùng người bạn là Huỳnh Văn Tứ, một nhà doanh
nghiệp ở Saigon, đứng ra thành lập các hăng dĩa và băng nhạc
Continental và Sơn Ca
(được sự cộng tác của các nhạc sĩ tân và cổ
nhạc Nghiêm Phú Phi, Văn Phụng, Lê Văn Thiện, Y Vân, Văn Vỹ, Năm Cơ,
Hai Thơm...), gửi đến giới yêu nhạc nhiều chương tŕnh âm nhạc chọn
lọc. Đây cũng là trung tâm băng và dĩa nhạc đi tiên phong trong việc
thực hiện một số album nhạc cho từng ca sĩ. Một số ca sĩ "thành
danh" trong làng ca nhạc trước năm 1975 như Thanh Tuyền, Giao Linh,
Phương Dung, Hà Thanh... nhờ vào sự hướng dẫn và giới thiệu của nhạc
sĩ Nguyễn Văn Đông, Giám đốc Nghệ thuật của các hăng dĩa này.
Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông c̣n sử dụng các bút danh V́ Dân, Phượng
Linh, Phương Hà... cho các thể loại và chủ đề nhạc khác nhau. Ít
người được biết, ngoài những sáng tác về tân nhạc, ông c̣n viết nhạc
nền cho trên 50 vở tuồng cải lương thuộc loại kinh điển ở miền Nam
như "Mưa rừng", "San hậu", "Nửa đời hương phấn", "Sân khấu về
khuya", "Tiếng hạc trong trăng"...
và hàng trăm chương tŕnh "tân cổ
giao duyên", một h́nh thức "phối hợp nghệ thuật" giữa tân và cổ nhạc
khá phổ biến trong đại chúng vào thời ấy, cũng với các bút danh
trên.
Sau những "bước nhẹ tênh" ấy là cánh cửa mở rộng cho "chàng trai trẻ
độc thân" Nguyễn Văn Đông đặt những bước chân đầu tiên lên "đoạn
đường chiến binh", để từ đó dấn thân vào cuộc sống mới đầy hứng thú,
đầy sôi động và cũng đầy ư nghĩa trong những năm dài quê hương ch́m
trong khói lửa chiến tranh. Chàng lính trẻ ấy từng phục vụ ở các đơn
vị tác chiến, từng đóng quân tại các vị trí được xem là "điểm nóng"
của các cuộc giao tranh như chiến khu Đồng Tháp Mười, vùng Tam Giác
Sắt..., từng tham dự những trận chiến ác liệt tại các địa danh Ấp
Bắc, Kinh 12 và tuyến lửa Thông B́nh, Cái Cái
(Tân Thành)..., từng
được ân thưởng nhiều huy chương về các chiến tích, trong đó có "bảo
quốc huân chương" là huân chương cao quư nhất của quân lực Việt Nam
Cộng Ḥa.
Hầu như khắp bốn vùng chiến thuật, nơi đâu cũng in hằn dấu chân
người lính Nguyễn Văn Đông
(đúng như "Mấy dặm sơn khê", tên một bài
nhạc khá nổi tiếng của ông). Ông đă cầm súng chiến đấu v́ yêu quê
hương này, v́ yêu dân tộc này. Ông đă yêu đời lính như yêu mảnh đất
này, như yêu những đồng đội, như yêu người ḿnh yêu... H́nh ảnh
người lính chiến thể hiện qua ḍng nhạc của ông xem ra cũng không
khác ǵ lắm với h́nh ảnh "người lính Nguyễn Văn Đông", cũng "áo anh
mùi thuốc súng", cũng "ngược xuôi theo đường mây", cũng "tóc tơi bời
lộng gió bốn phương".
(Ông không phục vụ ở Cục Tâm Lư Chiến như
nhiều người vẫn lầm tưởng)... Mặc dầu không hề "tơ vương khanh
tướng" v́ "người đi giúp nước nào màng danh chi", nhưng do ḷng "tận
trung báo quốc" qua các thành tích chiến đấu và phục vụ, ông cũng đă
leo dần lên măi những nấc thang binh nghiệp với chức vụ sau cùng là
sĩ quan tham mưu cao cấp Bộ Tổng Tham Mưu. Có lẽ Đại tá Trần Văn
Trọng
(nhạc sĩ Anh Việt, tác giả "Bến cũ", "Thơ ngây"...)
và ông
được kể là những người "lính" có cấp bậc cao nhất trong số các nhạc
sĩ phục vụ trong quân ngũ.
Sau "ngày tàn chiến cuộc" năm 1975, như số phận của "hàng hàng lớp
lớp" sĩ quan kẹt lại ở trong nước, ông đă phải lầm lũi đi vào những
trại tập trung, những ḷ cải tạo (Suối Máu, Chí Ḥa) để trả giá cho
các thành tích trong quân ngũ và trong hoạt động âm nhạc.
Không rơ ông đă "học tập" được những ǵ, có điều là cơ thể ông đă
"tiếp thu" đủ thứ mầm bệnh trong những năm "cải tạo" ấy khiến sức
khỏe ông có lúc suy kiệt đến trầm trọng. Chứng phong thấp, căn bệnh
quái ác, đă khiến các đốt xương ngón tay của ông sưng tấy lên, các
ngón tay co quắp đến gần như không c̣n cử động được nữa.
"Anh xem này," ông nói với người bạn "tù cải tạo" ở cùng trại Suối
Máu, giọng bùi ngùi. "Bàn tay tôi như thế này coi như ‘phế bỏ vơ
công' rồi, làm sao c̣n chơi đàn được nữa!"
Tay đă thế, chân lại càng tệ hơn, các khớp xương đầu gối biến dạng
và đau nhức đến mức ông phải nằm điều trị nhiều năm trong các bệnh
viện ở Saigon trước khi rời bỏ đôi nạng để đi đứng được b́nh thường
trở lại.
Về đây ngơ ngác chim bay t́m đàn
Về đây hoang vắng lạnh buốt cung đàn...
Như là câu hát trong bài "Về mái nhà xưa" của ông, sau đúng mười năm
"học tập cải tạo" (ông được thả về đầu năm 1985), tác giả bài nhạc
ấy đă về lại sau cuộc chiến, về lại sau những năm đọa đầy, về lại
với một thân xác đầy tật bệnh, với một tâm hồn đầy thương tích. Xa
lạ trước cuộc sống mới, trước một xă hội có lắm đổi thay sau cuộc bể
dâu, ông bày tỏ sự hối tiếc đă lăng phí những năm dài do không t́m
lại được nguồn cảm hứng nào cho hoạt động âm nhạc cũng như không
đóng góp được chút ǵ có ư nghĩa cho đời. Đối với con người nghệ sĩ
tài hoa, đầy sức sáng tạo, và có thói quen làm việc không ngưng
nghỉ, không mệt mỏi như ông th́ đấy quả là một sự "hối tiếc vô bờ"
như ông nói.
"Tại sao ông không xin định cư ở nước ngoài trong lúc có đủ điều
kiện của người tù cải tạo?" Trả lời câu hỏi này, ông cho biết,
"Do những căn bệnh ngặt nghèo tưởng như ‘hết thuốc chữa' và do tinh thần
suy sụp đến tột cùng, có lúc tôi đă nghĩ rằng ḿnh không c̣n sống
được bao lâu nữa nên chẳng c̣n thiết tha bất cứ chuyện ǵ, chỉ muốn
từ bỏ tất cả để được thảnh thơi yên nghỉ ở cuối đời."
Vậy mà, nhờ "thần dược" hay nhờ... phép lạ, ông vẫn sống sót được
đến ngày hôm nay. Vợ chồng ông có một cửa hàng tạp hóa nhỏ
(nơi gia
đ́nh ông cư ngụ), là nguồn thu nhập chính cho "kinh tế gia đ́nh".
Tuy sức khoẻ có sa sút, tuy cuộc sống có chật vật, "người lính
Nguyễn Văn Đông" vẫn có lúc quên đi nỗi đau của riêng ḿnh, vẫn có
lúc để ḷng ḿnh nghiêng xuống những số phận rủi ro, những số kiếp
hẩm hiu của bao người kém may mắn hơn ḿnh. Những bản tin tôi đọc
được ở trong, ngoài nước nói về các công tác cứu trợ những mảnh đời
rách nát, những kiếp người lầm than, vẫn nhắc đến bàn tay nhân ái,
trái tim nhân hậu của người lính, người nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông.
Nhạc lính, nói sao đi nữa cũng từng là "nhạc thời trang" ở miền Nam
Việt Nam một thời nào. Loại nhạc thời trang "đặc biệt" này khá phổ
biến và có tuổi thọ đo được bằng chiều dài của cuộc chiến tranh hai
miền Nam-Bắc, nghĩa là kéo dài hơn bất cứ loại nhạc thời trang nào
khác, có lúc trở thành cực thịnh, là thời kỳ cường độ cuộc chiến gia
tăng đến mức khốc liệt nhất. C̣n chiến tranh là c̣n nhạc lính.
Trong những năm dài chinh chiến ấy, có rất nhiều ca khúc khá hay
viết về người lính và đời lính của một số tác giả ở trong và ngoài
quân ngũ, ngợi ca tinh thần chiến đấu anh dũng, sự hy sinh cao cả và
thầm lặng của người lính chiến. "Nhạc lính Nguyễn Văn Đông" là một
trong số ấy. Hơn thế nữa, nhạc lính của ông có những nét rất
"riêng", mang sắc thái đặc biệt, được rất nhiều người yêu nhạc
(lính
hoặc không phải lính) yêu thích.
Trong phạm vi nói về "nhạc lính" của Nguyễn Văn Đông, những ca khúc
quen thuộc của ông nhưng không kể là "nhạc lính" (đôi lúc được ông
kư dưới những tên khác) sẽ không đề cập trong bài này hoặc chỉ nói
sơ qua.
Những năm trước ngày chiến tranh kết thúc, ngoài những bài "chiến
đấu ca" trong quân đội và những bài hát cộng đồng, có vẻ những bài
nhạc đề cao lư tưởng, chính nghĩa, tinh thần chiến đấu và hy sinh
của người lính ngày càng ít đi
(trừ ít bài ngợi ca những tên tuổi cá
biệt của người lính đă đền nợ nước, như "Huyền sử ca một người mang
tên Quốc" của Phạm Duy, "Anh không chết đâu anh", "Người ở lại
Charlie" của Trần Thiện Thanh...). Không c̣n nghe thấy nữa những bài
nhạc một thời làm nức ḷng chiến đấu của người lính v́ nước quên
ḿnh:
Khi nước nhà phút ngả nghiêng,
em mơ người trai anh dũng,
mang thân
thế hiến giang san,
chí quật cường hiên ngang...
("Chiến sĩ của ḷng em", Trịnh Văn Ngân)
Em chúc cho chàng lập chiến công oai hùng,
vang vang lời chiến
thắng,
muôn thu danh chàng lừng lẫy với núi sông...
("Chàng đi theo nước", Hiếu Nghĩa)
Anh đi mai về chiến thắng,
khi súng quân thù thôi vang trên non
sông,
tươi thắm màu cờ vui reo trên kinh thành...
("Anh đi mai về", Hoàng Nguyên)
Anh đi xây chiến thắng,
dưới màu cờ quật cường, c
ho loài người ḥa
b́nh...
("Dặn ḍ", Thanh Châu)
Anh sẽ là anh đàn em nhỏ,
là con của mẹ giữ quê hương...
("T́nh quê hương", Đan Thọ & thơ Phan Lạc Tuyên)
Không quên lời xưa đă ước thề,
dâng cả đời trai với sa trường...
("Anh đi chiến dịch", Phạm Đ́nh Chương)
Và ít bài nhạc khác như "Lá thư gửi mẹ"
(Nguyễn Hiền & thơ Thái
Thủy), "Bức tâm thư"
(Lam Phương), "Trên bốn vùng chiến thuật"
(Trúc
Phương), "Biệt kinh kỳ"
(Minh Kỳ & Hoài Linh), "Anh về thủ đô"
(Y Vân), "Mười sáu trăng tṛn"
(Trần Thiện Thanh)...
Nhạc lính Nguyễn Văn Đông, trong lúc ấy, trước sau vẫn dạt dào t́nh
yêu quê hương, đất nước, vẫn ngợi ca người lính chiến, vẫn đề cao lư
tưởng và chính nghĩa cuộc chiến đấu của quân dân miền Nam (mà không
phải... "tuyên truyền tâm lư chiến").
Nhạc lính Nguyễn Văn Đông không có những "tô son điểm phấn" cho đời
lính kiểu "anh tiền tuyến, em hậu phương", "người yêu của lính"...
Trong lời nhạc của ông không có những mộng mơ, lăng mạn kiểu "anh là
lính đa t́nh"
("T́nh lính", Y Vân), hay "ba-lô thay người t́nh yêu
dấu..."
("Ai nói với em", Minh Kỳ & Huy Cường), hay "những đóm mắt
hỏa châu là hoa đăng ngày cưới..."
("Những đóm mắt hỏa châu", Hàn
Châu), cũng không có những lời thở than hoặc cay đắng như "nhiều
đông lắm hạ nối tiếp đi qua, thiếu bóng đàn bà..." hoặc "đến với
tôi, hăy đến với tôi, đừng yêu lính bằng lời..." ("Kẻ ở miền xa",
Trúc Phương) vân vân...
(Người viết chỉ nêu những khác biệt, không
có ư b́nh phẩm).
Nhạc lính Nguyễn Văn Đông, như đời lính của ông, là cuộc chiến đấu
gian khổ, là những lần xông pha trận mạc, là những cuộc hành quân
không giống như là đi... picnic để "đem cánh hoa rừng về tặng em"
("Người yêu của lính", Trần Thiện Thanh), mà luôn kề cận những bất
trắc, những hiểm nguy... Ở một đôi bài Nguyễn Văn Đông, giai điệu có
lúc gần gụi với nét nhạc phóng khoáng, mênh mang của Lâm Tuyền
(tác
giả "Tiếng thời gian", "Khúc nhạc ly hương", "H́nh ảnh một buổi
chiều"...). Lời nhạc Nguyễn Văn Đông như có "khẩu khí" riêng, đôi
lúc phảng phất cái khẩu khí đầy vẻ thi vị trong thơ Quang Dũng, Thâm
Tâm hoặc trong... "Chinh phụ ngâm khúc", tạo nên sắc thái đặc biệt
tiêu biểu cho ḍng nhạc lính của ông. Có thể nói, Nguyễn Văn Đông là
một trong những nhạc sĩ sử dụng sớm nhất những từ ngữ "đường mây",
"sơn khê", "giang đầu", "khanh tướng", "sa trường", "biên thùy",
"khu chiến", "tang bồng", "hội trùng dương"... Những từ khá cổ điển
nhưng qua nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ thích ứng, lại đặc biệt có vẻ
phù hợp với "lính tráng", làm dậy lên những cảm xúc rất "lính",
khiến nhạc lính Nguyễn Văn Đông có một "khí hậu" riêng, mang mang
thi vị của hơi thơ cổ, nhuốm vẻ hùng tráng và lăng mạn như bức họa
đẹp và buồn của một "thuở trời đất nổi cơn gió bụi".
(2)
Anh như ngàn gió, ham ngược xuôi theo đường mây...
(Mấy dặm sơn khê)
Ngoài mưa khuya lê thê, qua ngàn chốn sơn khê...
(Mấy dặm sơn khê)
Sao c̣n đứng ngóng nơi giang đầu?...
(Chiều mưa biên giới)
Ḷng trần c̣n tơ vương khanh tướng...
(Chiều mưa biên giới)
Thương mầu áo gửi ra sa trường...
(Chiều mưa biên giới)
Chốn biên thùy này xuân tới chi?...
(Phiên gác đêm xuân)
Xưa từ khu chiến về thăm xóm...
(Sắc hoa màu nhớ)
Ḷng này thách với tang bồng...
(Khúc t́nh ca hàng hàng lớp lớp)
Hội trùng dương hát câu sum vầy...
(Hải ngoại thương ca)
Chữ "đường mây" chẳng hạn
("đường mây chân núi xa...", "ngược xuôi
theo đường mây...") là từ rất cũ, từ thuở... "Chinh phụ ngâm khúc"
(Sứ trời sớm giục đường mây), được đưa vào ca từ Nguyễn Văn Đông,
lại như có vẻ "mới" và nghe rất "lính".
Trong một lần trả lời phỏng vấn báo chí trước năm 1975, nhạc sĩ
Nguyễn Văn Đông cho biết ông chịu ít nhiều ảnh hưởng của nền văn hóa
Pháp trong các sáng tác âm nhạc và nhắc đến tên vài bài nhạc cũ của
những thập niên 40's, 50's như "J'attendrai", "Ma Normandie", "La
Vie en Rose"...
· "Ḷng này thách với tang bồng"...
Người lính trong nhạc Nguyễn Văn Đông là lính trận, là lính tác
chiến, là những người lính "áo anh mùi thuốc súng", là những người
lính vừa trở về từ chiến trường lửa đạn.
Hơn bất cứ một nhạc sĩ nào khác viết về lính, nhạc Nguyễn Văn Đông
làm nổi bật lư tưởng của người quân nhân cầm súng chiến đấu. Mặc "ai
công hầu, ai khanh tướng", người đi v́ lư tưởng đă vẽ lên những h́nh
tượng đẹp, lăng mạn và đầy hào khí của những chàng Kinh Kha thời
đại.
Người đi giúp núi sông
hàng hàng lớp lớp chưa về, hàng hàng nối tiếp câu thề
giành lấy quê hương...
Người đi giúp nước nào màng danh chi
cầu cho đất nước vượt ngàn gian nguy...
(Khúc t́nh ca hàng hàng lớp lớp)
Ḷng trần c̣n tơ vương khanh tướng
th́ đường trần mưa bay gió cuốn
c̣n nhiều anh ơi...
(Chiều mưa biên giới)
"Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh" (3)
Những chàng trai đất Việt
nặng một lời thề, mang tổ quốc trên vai, mang t́nh yêu nước trong
tim, hàng hàng lớp lớp theo nhau lên đường. Từng đoàn người tiếp
bước những đoàn người đi viết tiếp những trang sử hào hùng của dân
tộc Việt.
Đời tôi quân nhân, chút t́nh gửi cho núi sông...
(Sắc hoa màu nhớ)
Nước non c̣n đó một tấc ḷng
không mờ xóa cùng năm tháng...
(Mấy dặm sơn khê)
Đời dâng cho núi sông
dù ngàn nắng lửa mưa dầu
ḷng người nhất quyết không đầu, giành lấy mai sau...
(Khúc t́nh ca hàng hàng lớp lớp)
Khi đời đă "dâng cho núi sông", khi ḷng đă "nhất quyết không đầu",
th́... "mẹ thà coi như chiếc lá bay"
(4)
Đời lính thân con nề chi...
Mẹ hiền ơi chớ buồn v́ con, nước non chưa tṛn...
(Lá thư người lính chiến)
Chút t́nh riêng đành gác lại, v́ t́nh nước sâu hơn t́nh lứa đôi.
Đường đi biên giới xa...
ḷng này thách với tang bồng
đừng sầu má ấy phai hồng, buồn lắm em ơi...
Hỡi người anh thương, chưa trọn thề ước
nhưng t́nh đất nước ôi lớn lao không đành ḷng
dệt mối thắm riêng tư...
(Khúc t́nh ca hàng hàng lớp lớp)
Vầng trăng xẻ đôi, vẫn in h́nh bóng một người...
(Chiều mưa biên giới)
"Chiều mưa biên giới"
(1956), một trong những bài nhạc lính quen
thuộc của Nguyễn Văn Đông, là trường hợp khá đặc biệt, nổi tiếng do
hai sự kiện: thứ nhất, nhờ sự tŕnh diễn thành công của nghệ sĩ Trần
Văn Trạch qua làn sóng phát thanh ở Paris, dẫn đến một hợp đồng thu
thanh bài hát bằng hai thứ tiếng Việt và Pháp với một hảng dĩa lớn
cùa Pháp
(là việc chưa tứng có trong lịch sử tân nhạc Việt thời bấy
giờ); thứ hai, nhờ quyết định... cấm phổ biến của Bộ Thông Tin thời
ấy, lư do là lời nhạc không thích hợp.
Tại sao cấm phổ biến? Tại sao "lời nhạc không thích hợp"? Nghe lại
"Chiều mưa biên giới", tôi không thấy có "vấn đề" ǵ đáng gọi là cấm
kỵ. Có thể là những lời lẽ dưới đây chăng(?):
Chiều mưa biên giới anh đi về đâu
sao c̣n đứng ngóng nơi giang đầu?...
Về đâu anh hỡi mưa rơi chiều nay?...
Người lính chiến... mất phương hướng, không biết sẽ đi đâu, về
đâu(?). Hoặc:
Ḱa rừng chiều âm u rét mướt...
Một vùng mây nước cho ḷng ai thương nhớ ai...
Cờ về chiều tung bay phất phới
gợi ḷng này thương thương nhớ nhớ...
Người đi khu chiến thương người hậu phương...
Người lính chiến "nh́n trời hiu quạnh", ḷng c̣n vương vấn chút
t́nh... riêng(?).
Nếu không phải v́ những lời nhạc kể trên, có thể là do giai điệu u
uẩn, man mác của bài nhạc làm... nản ḷng binh sĩ, làm suy giảm tinh
thần chiến đấu của quân đội(?).
Dù với bất cứ lư do ǵ, những câu hát này thực sự chẳng thấm tháp
vào đâu so với những bài bản "phản chiến" ít năm sau đó, phổ biến
tràn lan một thời mà chẳng ai cấm nổi, chẳng hạn "tôi có người yêu
chết trận Pleime..."
("T́nh ca người mất trí", Trịnh Công Sơn),
"quyết chối từ chém giết anh em..."
("Chính chúng ta phải nói",
Trịnh Công Sơn), hoặc "anh trở về bại tướng cụt chân..."
("Kỷ vật
cho em", Phạm Duy & Linh Phương), "ngày mai đi nhận xác chồng...,
anh lên lon giữa hai hàng nến chong..."
("Tưởng như c̣n người yêu",
Phạm Duy & Lê Thị Ư)...
"Chiều mưa biên giới" bị cấm phổ biến chỉ v́ ra đời... sớm vài năm,
trở thành một trong những bài nhạc đầu tiên được khoác cho tên gọi
là "phản chiến".
"Chiều mưa biên giới" trở thành bài nhạc lính tiêu biểu của Nguyễn
Văn Đông, gắn liền với tên tuổi của ông, gắn liền với giọng hát Trần
Văn Trạch, gắn liền với câu hát
"ḷng trần c̣n tơ vương khanh tướng
th́ đường trần mưa bay gió cuốn c̣n nhiều..." vừa mang tính "triết
lư" về đời lính, vừa đượm vẻ... "lăng mạn Nguyễn Văn Đông".
Lăng mạn Nguyễn Văn Đông
"Chàng tuổi trẻ vốn gịng hào kiệt
xếp bút nghiên theo việc đao cung"
(2)
Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc luôn có những năm thái b́nh
thịnh trị và những năm chinh chiến điêu linh. Khi vận nước ngả
nghiêng, những chàng trai thời loạn đă hiến dâng tuổi trẻ, lên đường
theo tiếng gọi của non sông, bỏ lại sau lưng những mộng ước chưa
tṛn... H́nh tượng người lính chiến qua ḍng nhạc Nguyễn Văn Đông,
ngoài lư tưởng, ḷng yêu nước thương dân, tinh thần hy sinh và chiến
đấu, vẫn không thiếu nét lăng mạn của "chí lớn chưa về bàn tay
không, th́ không bao giờ nói trở lại..."
(4)
Nh́n em muốn nói chuyện người Kinh Kha
ngại khơi nước mắt nhạt nḥa môi em...
(Khúc t́nh ca hàng hàng lớp lớp)
Mấy ai ra đi hẹn về dệt nốt tơ duyên...
(Mấy dặm sơn khê)
Lăng mạn Nguyễn Văn Đông đẹp tựa câu thơ cũ, "chàng từ đi vào nơi
gió cát..."
(2), câu thơ về những chàng trai, những người lính chiến
ôm mộng hải hồ, bạn cùng sương gió. Trên khắp các nẻo đường đất
nước, từ miền địa đầu giới tuyến đến những nơi đầu sóng ngọn gió, từ
những tuyến đầu lửa đạn đến những tiền đồn heo hút xa xăm, nơi đâu
cũng in hằn dấu chân người lính.
Anh như ngàn gió
ham ngược xuôi theo đường mây
Tóc tơi bời lộng gió bốn phương...
(Mấy dặm sơn khê)
Lăng mạn Nguyễn Văn Đông đẹp tựa huyền thoại "trăng treo đầu súng"
trong một "phiên gác đêm xuân" giữa vùng hành quân đồi núi chập
chùng.
Xác hoa tàn rơi trên báng súng
ngỡ rằng pháo tung bay, ngờ đâu hoa lá rơi...
(Phiên Gác Đêm Xuân)
Đêm nằm gối súng, chung ánh trăng
cho người này gợi nhớ thương người kia...
(Khúc t́nh ca hàng hàng lớp lớp)
Câu hát gợi nhớ câu lục bát Nguyễn Du,
"Vầng trăng ai xẻ làm đôi /
Nửa in gối chiếc, nửa soi dặm trường..." Lăng mạn Nguyễn Văn Đông
không chỉ ở những bản t́nh ca gợi nhớ những mùa xuân thanh b́nh một
thuở, như là "chiều nay hoa xuân bay nhiều quá..." hay là "chiều nay
thấy hoa cười chợt nhớ một người..."
(Nhớ một chiều xuân), mà c̣n ở
trong những câu hát của một mùa chiến chinh. T́nh yêu, bên cạnh
những nỗi bất trắc, vẫn nở hoa, như những đóa hồng vẫn nở bên những
hầm hố và hàng rào kẽm gai. Vẫn có chút t́nh yêu làm quà tặng và lẽ
sống cho những người lính cầm súng chiến đấu, vẫn có những ánh mắt,
"nụ cười xinh tươi" trong câu chuyện t́nh thời chiến, câu chuyện
t́nh "người hùng và giai nhân".
C̣n đây giây phút này
c̣n nghe tiếng hát, nụ cười xinh tươi
c̣n trông ánh mắt, c̣n cầm tay nhau...
(Khúc t́nh ca hàng hàng lớp lớp)
T́nh yêu thường xen lẫn thân phận người lính xa nhà, xa người ḿnh
thương yêu. "Chàng th́ đi cơi xa mưa gió / Thiếp lại về buồng cũ gối
chăn"
(2), một người đi, một người ở lại và những năm chờ tháng đợi
mỏi ṃn.
Một người gối chiếc cô pḥng
c̣n người góc núi ven rừng, chân mây đầu gió...
(Khúc t́nh ca hàng hàng lớp lớp)
Con đường đấu tranh gian khổ c̣n dài, những chuyến về thăm, những
lần về phép, người lính chiến dừng chân trong chốc lát, rồi lại lên
đường, lại miệt mài đi khi quê hương c̣n tiếng súng, khi máu xương
c̣n rơi...
Anh đến thăm, áo anh mùi thuốc súng...
Anh đến đây, rồi anh như bóng mây...
Anh hỡi anh, đường xa vui đấu tranh...
(Mấy dặm sơn khê)
Tôi lại đi giữa trời sương gió
Mầu hoa thắm vẫn sống trong tôi...
(Sắc hoa mầu nhớ)
Người nghe đôi lúc bắt gặp đâu đó trong lời nhạc Nguyễn Văn Đông
những câu hát thật là đẹp.
Cầm tay nhau đi anh
tơ trời quá mong manh...
(Mấy dặm sơn khê)
"Tơ trời"?... Là sợi nắng lung linh hay sợi mưa phùn giăng mắc? Tơ
trời mong manh hay những phút giây gần nhau cũng mong manh như những
sợi... tơ trời?
Người lính trong nhạc Nguyễn Văn Đông vẫn có những phút để hồn ḿnh
lắng xuống, để ḷng ḿnh bâng khuâng v́ một sắc hoa, một mầu áo...
Chiều hành quân nay qua lối xưa
giữa một chiều gió mưa
xác hoa hồng mênh mông...
Nh́n mầu hoa vừa tan tác rơi
nhớ muôn vàn... nhớ ơi
hát trong mầu hoa nhớ...
(Sắc hoa mầu nhớ)
Cuộc đời lính chiến, nhờ vậy, cũng sẽ đẹp thêm lên một chút.
Người lính trong nhạc Nguyễn Văn Đông không phải là "không có trái
tim đắm say mộng mơ" ("Ai nói với em", nhạc Minh Kỳ & Huy Cường).
Những ước mơ của người lính thật đơn sơ và "trắng như mây chiều".
Ước mong nhiều đời không (cho) bấy nhiêu
v́ mơ ước trắng như mây chiều...
(Phiên gác đêm xuân)
"Mơ ước" ǵ vậy? Nếu không phải là nỗi ước mơ của những người đi đấu
tranh để mang về mùa xuân mới cho quê hương.
Mong sao nước Việt đời đời
anh dũng oai hùng chen chân thế giới...
Người về đây giữa non sông này
hội trùng dương hát câu sum vầy
Về cho thấy con thuyền nước Nam
đi vào mùa xuân mới sang
xa rồi ngày ấy ly tan...
(Hải ngoại thương ca)
"Người lính già không bao giờ chết"...
"Hải ngoại thương ca" cũng là trường hợp đặc biệt khác, sau "Chiều
mưa biên giới". Không rơ động lực nào, hoàn cảnh nào đă khiến nhạc
sĩ Nguyễn Văn Đông cho ra đời ca khúc ấy. Trước và sau ông hầu như
chưa có nhạc sĩ nào viết về đề tài tương tự. Điều thú vị, các "cán
bộ" văn hóa văn nghệ ở trong nước đă lầm tưởng "Hải ngoại thương ca"
là "sáng tác mới" của Nguyễn Văn Đông, đến lúc hiểu ra rằng đấy là
bài nhạc cũ (1963), đă phải thốt lên, "Làm sao mà ở miền Nam ngày
trước lại có bài nhạc hay đến như thế, lại phù hợp với hiện t́nh đất
nước đến như thế!"
Cái "hay" trong lời ngợi khen ấy có thể hiểu là cái hay của nội dung
bài nhạc được diễn dịch theo chiều hướng có lợi và phù hợp với chính
sách kiều vận, với chủ trương "ḥa hợp và ḥa giải dân tộc" của "nhà
nước ta" đối với "khúc ruột ngàn dặm" là cộng đồng người Việt ở nước
ngoài, một "bộ phận" không thể tách rời của dân tộc. Cái "hay" ấy là
cái hay của những câu hát được xem là thể hiện "tâm tư t́nh cảm" của
bà con "Việt kiều yêu nước" trong chuyến về thăm quê nhà:
Một mùa thương kết muôn hoa ḷng
người về đây nối câu tâm đồng...
Tôi đi giữa trời bồi hồi
cờ bay phất phới quên chuyện ngày xưa...
Người về đây giữa non sông này
hội trùng dương hát câu sum vầy...
Không có ǵ đáng ngạc nhiên khi các báo trong nước đưa tin "Hải
ngoại thương ca" là một trong những bài đầu tiên được Cục Nghệ thuật
Biểu diễn thuộc Bộ Văn hóa Thông tin nhanh chóng duyệt qua, trong số
18 ca khúc của Nguyễn Văn Đông được phép lưu hành trong nước kể từ
năm 2003.
(Trong số, có vài ca khúc quen thuộc, như "Nhớ một chiều
xuân", "Về mái nhà xưa", "Thầm kín", "Khúc xuân ca", "Núi và gió",
"Trái tim Việt Nam"... Tất nhiên là không có những bài... nhạc
lính).
Trong lúc "Hải ngoại thương ca" được viết với nhạc điệu slow rock
khá thịnh hành giữa thập niên 60's, thể hiện t́nh cảm phấn khởi như
những bước chân đi tới, như niềm tin phơi phới vào một vận hội mới
về trên quê hương, "Mấy dặm sơn khê" có tiết tấu chậm răi hơn, t́nh
cảm sâu lắng hơn, phác họa nét đẹp của người lính ngược xuôi trên
khắp các nẻo đường đất nước. "Khúc t́nh ca hàng hàng lớp lớp" là bức
tranh hoành tráng về đời lính được vẽ bằng những giai điệu, những
khúc hát dạt dào t́nh nước, khi réo rắt, khi trầm bổng, khi lăng mạn
như một khúc t́nh ca, khi hùng tráng như một khúc quân hành.
Nhạc lính Nguyễn Văn Đông từng được thể hiện qua những giọng ca khác
nhau, từ Thái Thanh, Lệ Thanh, Hà Thanh, Khánh Ngọc, Lệ Thu... đến
Trần Văn Trạch, Hùng Cường, Thanh Hùng, Duy Trác, Elvis Phương, Anh
Khoa... và cả những ca sĩ "học tṛ" của ông. "Chiều mưa biên giới"
phù hợp với chất giọng "nam bộ" và làn hơi ấm áp của nghệ sĩ Trần
Văn Trạch, trong lúc "Khúc t́nh ca hàng hàng lớp lớp" lại phù hợp
với chất giọng Huế mềm mại, ngọt ngào của Hà Thanh quyện với giọng
ténor vang lộng của Hùng Cường
(đến nay chưa có ca sĩ nào hát "hàng
hàng lớp lớp chưa về, hàng hàng nối tiếp câu thề..." hay hơn Hùng
Cường). Người nghe "Mấy dặm sơn khê" qua giọng hát Thái Thanh và Hà
Thanh đều nhận ra mỗi giọng có cái hay riêng, có nét đẹp riêng trong
cách thể hiện.
H́nh tượng người lính chiến, khắc họa qua ḍng nhạc Nguyễn Văn Đông,
như được "nâng" lên ở tầm mức cao hơn và đẹp hơn. Lư tưởng của những
người trai anh dũng hiến thân v́ tổ quốc như được tô đậm hơn; chính
nghĩa của cuộc chiến đấu gian khổ của quân dân miền Nam như được soi
sáng hơn. Người đời, qua đó, thấy yêu mến và gần gũi hơn những người
lính, thấy cảm kích và ngưỡng phục những hy sinh cao cả và thầm lặng
của người chiến binh v́ nước quên ḿnh. Vậy th́ không thể nào không
cám ơn ông, cám ơn người nhạc sĩ đă gieo vào ḷng người những mối
cảm xúc sâu đậm, những ấn tượng đẹp và sắc nét về người lính và đời
lính.
Chiến tranh đă đi qua, những bài nhạc lính như thế ngày nay ít c̣n
được nghe hát, thế nhưng dư âm lời ca tiếng nhạc của một mùa chinh
chiến ấy và h́nh tượng hào hùng của người lính chiến quân lực Việt
Nam Cộng Ḥa vẫn c̣n đọng lại măi trong tâm tưởng biết bao người,
như câu nói bất hủ của một danh tướng Hoa Kỳ, Douglas MacArthur:
"Những người lính già không bao giờ chết; họ chỉ nhạt mờ đi thôi"
(Old soldiers never die; they just fade away").
Sau bao mùa tang thương dâu bể, sau bao nhiêu giông tố dập vùi,
"người lính già" Nguyễn Văn Đông, ở độ tuổi 75, vẫn một niềm tin sắt
son vào hồn thiêng sông núi, vẫn chưa mất niềm tin vào vận mệnh đất
nước, vẫn c̣n nguyên vẹn trái tim chàng lính trẻ Nguyễn Văn
Đông-nặng trĩu t́nh quê t́nh nước-của những ngày đầu bước chân vào
đời quân ngũ.
Non nước ơi, hồn thiêng của núi sông
kết trong ḷng thế hệ
ngh́n sau nối ngh́n xưa...
(Mấy dặm sơn khê)
"Ngh́n sau nối ngh́n xưa", những thế hệ tiếp nối những thế hệ, những
bàn chân tiếp bước những bàn chân, rộn ràng theo nhau lên đường đi
xây lại những ước mơ chưa thành tựu của những người đă nằm xuống cho
một ngày mai tươi sáng về trên quê hương Việt Nam mến yêu.
"Mai sau dù có bao giờ", nghe lại những khúc hát về người lính và
đời lính, những khúc hát của một mùa nào ly loạn, hẳn người đời vẫn
c̣n nhớ tới những người hùng tên tuổi hay những chiến sĩ vô danh,
những người con yêu của tổ quốc, những người "nhẹ xem tính mệnh như
mầu cỏ cây"
(2), những người đă hy sinh cả xương máu, đă hiến dâng
cả tuổi trẻ, cả những năm tháng tươi đẹp nhất của đời người cho t́nh
yêu đất nước.
"Chinh chiến đă qua một th́" (5), nhưng những bài hát về người lính
anh dũng cầm súng chiến đấu để bảo vệ từng tấc đất quê hương, như
những bài nhạc lính Nguyễn Văn Đông, mỗi lần nghe lại là mỗi lần
nghe dậy lên một niềm kiêu hănh, một nỗi tự hào về một thiên anh
hùng ca của dân tộc.
Cám ơn anh, người lính già, người nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông.
Lê Hữu
(1) Trả lời phỏng vấn, Hoàng Lan Chi (đài “Việt Nam hải ngoại”, WA.
DC, 19/5/07)
(2) Chinh Phụ Ngâm Khúc, Đặng Trần Côn/Đoàn Thị Điểm
(3) Tây Tiến, thơ Quang Dũng
(4) Tống Biệt Hành, thơ Thâm Tâm
(5) Người Về, nhạc Phạm Duy
Nhạc Nguyễn Văn Đông hay, cuộc đời đầy thành quả đẹp và con người
Nguyễn Văn Đông đáng phục, như anh Lê Hữu đă viết quá hay và đầy đủ,
e không ai có thể viết hay hơn
Tôi cũng chỉ đồng ư với anh Lê Hữu mà thôi
Có một điều tôi nhận thấy là nhạc Nguyễn Văn Đông như sau:
Thường người ḿnh hay phân loại, tôi tạm dùng nhạc "nhạc tiền chiến"
và "nhạc phổ thông"
(không có đúng nghĩa hoàn toàn nhưng tôi tránh
dùng chữ "nhạc sang" và "nhạc sến" v́ không thấy xuôi ... tai)
Các ca sĩ hát nhạc tiền chiến như Anh Ngọc, Duy Trác, Trần Thái Hoà,
Thái Thanh, Mai Hương, Ư Lan ... thường không hát được hay những bản
nhạc phổ thông như Những Đồi Hoa Sim
(Dzũng Chinh-Hữu Loan)
Các ca sĩ hát nhạc phổ thông như Tuấn Vũ, Chế Linh, Hương Lan, Thanh
Tuyền ... mà hát nhạc tiền chiến như Tiếng Chuông Chiều Thu
(Tô Vũ) th́ ... không xong rồi
Nhạc Nguyễn Văn Đông cả hai giới ca sĩ hát đều hay. Thí dụ Sắc Hoa
Mầu Nhớ, Duy Trác hay Tuấn Vũ hát đều hay.
Đó là chưa kể những nghệ sĩ hát nhạc đặc biệt như Hà Thanh
(chuyên
hát nhạc Huế), Trần Văn Trạch (chuyên nhạc hài hước), Hùng Cường
(chuyên hát cải lương) ... hát nhạc Nguyễn Văn Đông đều hay
Và do đó thính giả thích nghe nhạc tiền chiến hoặc các thính giả
thích nghe nhạc phổ thông hoặc các thính giả thích các nhạc loại đặc
biệt đều thích nghe nhạc Nguyễn Văn Đông và đều thấy là hay
Đó là một điểm son của NS Nguyễn Văn Đông, không thấy ai khác có,
trong âm nhạc Việt Nam
Mời đọc bài viết của Lê Hữu về Nhạc Sĩ Nguyễn Văn Đông
Và nghe nhạc Nguyễn Văn Đông:
Nhớ Một Chiều Xuân (Trần Thái Ḥa):
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=chYp8k6oz_
T́nh Anh Lính Chiến (Ư Lan):
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=ue1PrPFmYX
Sắc Hoa Mầu Nhớ (Thế Sơn và Như Quỳnh):
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=MSOTLnyLtg
Hải Ngoại Thương Ca (Lệ Thu):
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=TdiUboGXFw
Phiên Gác Đêm Xuân (Elvis Phương):
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=VzOmoJzJau
Khúc T́nh Ca Hàng Hàng Lớp Lớp (Hà Thanh):
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=lxhJRHi_hU
Chiều Mưa Biên Giới (Trần Văn Trạch):
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=gA4nD0lpmO
Mấy Dặm Sơn Khê (Hùng Cường)
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=BbeivPCHLF
Về Mái Nhà Xưa (Thái Thanh):
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=L1LGcP8SJT
Lá Thư Người Lính Chiến (Hoàng Oanh):
http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=IUaQFbyY-5
PAD
trong Người Lính Già Không Bao Giờ Chết