|
Nghĩ về người lính
VNCH
Nguyễn Thị Thu An
Tuesday,
December 21, 2010

LTS - Bài viết này, tác giả Nguyễn Thị Thu An viết dưới đề tựa
“Hăy Vinh Danh Người Lính VNCH.” Nay Trang Cựu Chiến Binh xin
mạn phép tác giả thay tựa của bài viết là “Nghĩ về người lính
VNCH” và chia thành nhiều bài ngắn trong mục Sổ Tay. Lư do v́
toàn bài viết tác giả đă nêu lên được tâm t́nh của người dân
Việt đă chỉ có sau khi cộng sản đă chiếm xong toàn lănh thổ mà
nếu đọc một lèo, người đọc có thể bị phân tán, rất uổng. Mong
tác giả Nguyễn Thị Thu An đồng t́nh với Trang Cựu Chiến Binh/Người
Việt.
Bài thứ I:
Người thanh niên tuổi trẻ Việt Nam từ khi bước vào quân trường,
khoác vội bộ đồ trận, lưng mang vác ba lô cho tới khi anh đứng
nghiêm với lời tuyên thệ Vị Quốc Vong Thân.
Người tuổi trẻ đă trở thành người lính. Anh trưởng thành hơn
bóng dáng của quê hương. Người lính với chiếc nón sắt xanh đậm
tṛn tṛn như nửa vầng trăng in rơ bóng trên nền trời xanh lơ.
Anh đă bước ra, tay ôm súng và chân mang giày trận, anh giẫm ṃn
nửa ṿng đất nước đi canh giữ cho quê hương.
Bắt đầu từ thập niên 60, khi kẻ thù phương Bắc, với xe tăng súng
cối, với những chủ thuyết ngoại lai, với những xích c̣ng nô lệ,
đă toan tính nhuộm đỏ quê hương, th́ từ đó, người lính đă hiện
diện trong tuyến đầu lửa đạn. Anh mang vác hành trang, chiếc ba
lô nặng cồng kềnh để chận bước quân thù, để bảo vệ miền Nam.
Đất nước hai mươi năm chiến tranh, hai mươi năm dài người lính
hầu như không ngủ. Hai mươi năm có tới mấy ngàn ngày để anh đi
từ sáng tinh mơ, chân giẫm ướt ngọn sương mai trên cỏ. Hai mươi
năm có tới mấy ngàn đêm, bóng anh mịt mờ trong núi rừng lạnh giá.
Hai mươi năm, anh nghe tiếng đại bác vang trời không nghỉ.

Tiếng mưa bom đạn réo bên ḿnh. Tiếng xe tăng nghiền nát đường
quê hương. Hai mươi năm, anh đă đem sinh mạng của ḿnh đặt trên
đường bay của đạn. Đă đem hy vọng cuộc đời đặt trên khẩu súng
thân quen. Hay đă đem t́nh yêu và nỗi nhớ đặt trên đầu điếu
thuốc. Hai mươi năm chiến tranh có bao ngày anh được ngủ yên
trên chiếc giường ngay ngắn. Có bao đêm anh mơ được trọn giấc
b́nh yên. Hay anh đă sống thân quen với đời gian khổ và đánh bạn
với gian nguy.
Anh với đầu đội súng và vai mang ba lô, lội qua những vũng śnh
lầy nước ngang tầm ngực. Anh đă đi qua những địa danh xa lạ:
Ashau, Ia Drang, Kontum, Pleime, nơi giơ bàn tay cũng không thấy
được bàn tay. Hay anh truy địch ở bờ sông Thạch Hăn lừng lững
sương mai, ở phá Tam Giang sóng vỗ kêu gào hay ở Cổ Thành xứ Huế
mù sương. Dài dọc xuống miền Nam với rừng Tràm, rừng Đước, đến
Đồng Tháp Mười anh đă nghe muỗi vo ve như sáo thổi.
Anh đă đến những nơi mà anh không tưởng, anh đi diệt địch và anh
đă ngă xuống địa danh chẳng quen dấu chân anh. Người lính nằm
xuống ở miền Nam xanh tươi ngọn mạ, ở những vùng trầm se rét
Miền Trung, hay ở miền Đông xác thân thối rữa từ Ấp Bắc, Đồng
Xoài, B́nh Giả... cho tới Tống Lê Chân, An Lộc, B́nh Long, người
lính đă căng rộng tấm poncho để che kín bầu trời miền Nam được
yên ấm tự do. Nối gót tiền nhân, người lính, mỗi người lính đă
đem 3.8 lít máu tươi, tưới cho thắm tươi hoa lá ruộng đồng, đă
đem mỗi một trong 206 lóng xương khổ nạn của ḿnh cắm trăm nẻo
đường quê hương muôn ngă, để cho chính nghĩa quốc gia tự do được
tồn tại. Để cho người dân Quốc Gia được sống no ấm ở hậu phương.
Những người dân Quốc Gia không hề muốn trở thành dân Cộng Sản,
những người quốc gia luôn muốn bỏ chạy khi Cộng Sản tới và núp
bóng người lính để được sống an nhàn ở chốn hậu phương. Họ hoàn
toàn trao trọng trách bảo vệ quốc gia, ngăn thù dẹp loạn như một
thứ công việc và trách nhiệm của người làm nghề lính, như thể
không liên quan ǵ tới họ. Và họ tự trấn an lương tâm rằng người
lính sẽ không bao giờ buông súng và sẽ măi măi bảo vệ họ tới
cùng. V́ thế, họ luôn yên tâm sống ở hậu phương, yên tâm kiếm
tiền và tranh đua đời sống xa hoa phè phỡn trên máu xương của
người lính.
Bài thứ II
Và ở hậu phương, người lính đồng nghĩa với
nghèo, đời lính tức là đời gian khổ, và tương lai người lính đếm
được trên từng ngón tay. Thế nên, người lính về hậu phương, anh
ngỡ ngàng và lạc lơng. Bỗng h́nh như anh cảm thấy ḿnh như người
Thượng về Kinh. Như vậy th́ người ta tội nghiệp người lính và
yêu người lính để thể hiện t́nh quân nhân cá nước trong sách vở,
báo chí và truyền h́nh.
Người lính bị bắt cóc
vào văn chương tiểu thuyết là những người lính giấy, vào văn
chương để tự phản bội chính ḿnh, để thỏa măn cho những kẻ trông
con ḅ để vẽ con nai, và ngồi pḥng khách để diễn tả chiến
trường đỏ lửa. Người lính trên trang giấy ngang tàng và hung bạo,
chửi rủa chính phủ, chống chính quyền và ghét cấp chỉ huy, lính
la cà trong quán rượu, uống rượu chẳng thấy say, và càng say
càng đập phá. Người lính xuất hiện trên sân khấu th́ phong lưu
và đỏm dáng hay trắng trẻo no tṛn. Anh mặc đồ trận mới toanh
c̣n nguyên nếp gấp, ngọt ngào chót lưỡi đầu môi anh ca bài ca
mời gọi ái t́nh. Người yêu của anh lính là những cô mắt ướt môi
hồng, áo quần xa hoa lộng lẫy, thề non hẹn biển yêu lính trọn
kiếp trong ti vi. Như vậy th́ quá mỉa mai cho cái gọi là anh
trai tiền tuyến, em gái hậu phương. Trong khi đó, ở ngoài đời
những người vợ lính là những người chống giữ thầm lặng ở xă hội
hậu phương.
Đó là những người đàn
bà b́nh dị với tấm áo vải nội hóa rẻ tiền, với đôi guốc vông kẻo
kẹt, đóng vai vừa là người mẹ vừa là người cha nuôi con nhỏ dại,
gói ghém đời sống bằng lương người chồng lính chỉ vừa đủ mua nửa
tháng gạo ăn. Đó là những người đàn bà tất tả ngược xuôi, lăn
lộn thăm chồng ở các trung tâm huấn luyện, hay ở những nơi tiền
đồn xa xôi với vài ổ bánh ḿ làm quà gặp mặt. Đó là những người
âm thầm và lặng lẽ, chịu đựng và hy sinh để chồng luôn an tâm
chống giữ ngoài trận tuyến với đối phương.
Hạnh phúc của họ mong
manh và nhỏ bé, bất chợt như t́nh cờ. Có thể ở một thỏi son nhỏ
bé mà người lính mang về để tặng vợ, có thể là một chiếc nón bài
thơ, hay chút t́nh cờ ở một buổi tối người lính chợt ghé nhà
thăm vợ. Hạnh phúc ở trong chén trà thơm uống vội, hay ở lúc
nh́n đứa con bé nhỏ chào đời tháng trước.
Người vợ lính cũng là
những người hằng đêm thức muộn để lắng tai nghe tiếng đại bác
thâu đêm, rồi định hướng với lo âu trằn trọc. Đó là những người
đàn bà mà sau mỗi lần đơn vị chồng đụng trận, đi thăm chồng giấu
giếm mảnh khăn sô.
Trong nỗi chịu đựng hy
sinh, âm thầm và kỳ vĩ, họ vẫn sống và luôn gắng vượt qua để cho
người chồng an tâm cầm súng. Để anh, người lính, anh mang sự bất
công to lớn, sự bạc đăi phũ phàng, anh vẫn đi và vẫn sống, vẫn
chiến đấu oai hùng giữa muôn ngàn thù địch.
Ở chiến trường, anh
đối diện với kẻ thù hung ác, ở hậu phương anh bị ghét bỏ khinh
khi, trên đầu anh có những người sẵn sàng giẫm xác anh để cầu
vinh cho họ, đồng minh anh đợi bán anh để cầu lợi an thân.
Những người dân của
anh, những người anh hy sinh để bảo vệ từ chối giúp anh truy
lùng kẻ địch, và điềm nhiên để anh lọt vào ổ phục kích của địch
quân. Những người dân bán rẻ linh hồn cho quỷ, tiếp tay cho địch
thác loạn ở hậu phương, đó là những kẻ chủ trương đ̣i quyền sống,
trong đó không bao gồm quyền sống của anh.
Những kẻ để trái tim
rung động tiếc thương cho cái chết của kẻ thù nhưng dửng dưng
trước sự ngă xuống của anh. A dua, xu thời là bọn báo chí ngoại
quốc thiên tả, lệch lạc ng̣i bút, ngây thơ nhận định, mù quáng
trong định kiến. Tất cả vây quanh anh để tặng cho anh những đ̣n
chí tử. Người lính bi hùng và bi thảm. Anh chống địch mười
phương, tận ḷng trong đơn độc, anh vẫn hy sinh và chống giữ tới
hơi thở cuối cùng.

Bài III
Ngày ḥa b́nh, 27 tháng 1 năm 1973, Hiệp Định Paris được kư kết.
Ḥa b́nh thật đến trên trang giấy, đến với thế giới tự do. Thế
nên, thế giới tự do nâng ly để chúc mừng cho ḥa b́nh của họ và
nhận giải Nobel.
Nhưng ḥa b́nh đến ở Việt Nam tanh hôi mùi máu, đen ng̣m như tấm
mộ bia. Và anh, anh là vật thụ nạn trong cái ḥa b́nh bi thảm.
Người lính vẫn tiếp tục ngă xuống, đem xác thân đắp nên thành
lũy để ngăn bước quân thù. Từ Đông sang Tây, từ Nam chí Bắc, từ
ngàn xưa và cho tới ngàn sau, có một quân đội nào mang số phận
bi thương và oai hùng như người lính?
Những người lính chịu uống nước rễ cây và đầu không nhấc thẳng,
đi luồn dưới Rừng Sát suốt 30 ngày không thấy ánh mặt trời.
Những người lính đi hành quân mà không người yểm trợ để hai ngày
ăn được bốn muỗng cơm, hay ăn luôn năm trái bắp sống và những lá
cải hư mục ruỗng, miệng thèm một cục nước đá lạnh giữa cái nắng
cháy da.
Người lính, người ở địa đạo Tống Lê Chân ăn côn trùng để tử thủ
giữ ngọn đồi nhỏ bé. Người nằm xuống ở An Lộc, B́nh Long. Và thủ
đô, ṿm trời thân yêu mà anh mơ ước để tang truy điệu cho anh
chỉ có ba ngày. Ba ngày cho sinh mạng của năm ngàn người ở lại.
Người ta lại tiếp tục vui chơi và quên đi bất hạnh. Bởi bất hạnh
nào đó chỉ là bất hạnh của riêng anh.
Và anh, anh phải đóng trọn vai tṛ cầm súng ở tiền phương. Anh
đă chống giữ, chịu đựng từng đợt xung phong ở Ban Mê Thuột mỗi
ngày 24 giờ, không có ai yểm trợ, tiếp tế từ hậu phương. Nhưng ở
đó, anh vẫn phải tử thủ.
Và đồng minh của anh, người đồng minh đă từng sát cánh, cùng
chia sẻ nỗi gian nguy ở Hạ Lào, Khe Sanh dưới trời mưa pháo, nay
lại nghiễm nhiên nh́n anh đi những bước cuối cuộc đời. Phải
chăng nhân loại đang trút những hơi thở cuối cùng nên lương tâm
con người đang yên nghỉ?
Cho nên, cả thế giới lặng câm để nh́n anh chết. Không chỉ cái
chết riêng cho mỗi ḿnh anh, v́ bởi dưới đường đạn xuyên qua,
xác thân anh ngă xuống th́ đau thương đă vụt đứng lên. Cái bi
thương có nhân dáng lớn lên và tồn tại suốt ngang tầm trí nhớ.
Và người lính, anh vẫn kỳ vĩ và chịu đựng như vị thần Atlas mang
vác quả địa cầu, người lính đă mang vác và bảo vệ mấy trăm ngàn
người dân trên đường triệt thoái.
Trên những con đường từ cao nguyên không thiếu những người lính
gồng gánh cho những người cô dân chạy loạn. Tay anh dẫn em thơ,
tay dắt mẹ già chạy trong cơn mưa pháo. Và anh đă làm dù, làm
khiên đỡ đạn, cho nên thân xác anh đă căng cứng mấy đường cây số,
hay xác làm cầu ở tỉnh lộ 7B, anh đă chết ở cao nguyên lộng gió
và đếm những bước cuối đời ở ngưỡng cửa thủ đô.
Bởi lănh đạo (?)đầu hàng nên anh nghẹn ngào vất đi súng đạn. Với
nham nhở ḿnh trần, anh vẫn chưa tin đời đă đổi thay. Có thật
không? Hai mươi năm chiến tranh kết thúc? Giă từ những hy sinh
và gian khổ của hôm quả có thật không? Ngày buông rơi vũ khí,
anh mơ được về để an phận kẻ thường dân? Và có thật không? Anh
được đi, được sống giữa một quê hương rối loạn tràn ngập bóng
quân thù?
Anh đă khóc nhiều lần cho quê hương chinh chiến và đă khóc nhiều
lần cho những xác bơ vơ. Lính khổ lính cười, dân khổ để người
lính khóc. Và có ai, từng có ai trong chúng ta đă khóc thương
cho đời lính?
Thương cho người lính với trái tim tan vỡ từ lâu. Bởi trái tim
anh đă hơn một lần để lại dưới chân Cổ Thành Quảng Trị, ở một
mùa Xuân xứ Huế năm nào, ở Hạ Lào, Tống Lê Chân hay ở trong cái
nồi treo lủng lẳng trên ba lô khi anh hô xung phong để tiến vào
An Lộc? Người lính thật sự trái tim anh tan vỡ từ lâu.
Lịch sử đă sang trang, và loài người đă bắt đầu đi những bước
cuối cùng trên trái đất? Thế nên thời trang nhân loại là thứ
phấn hương tàn nhẫn, và môi tô trét thứ son vô t́nh. Cả thế giới
đồng thanh công nhận và gửi điện văn chúc mừng sự thống nhất ở
Việt Nam. Và người ta uống chén rượu mừng để truy điệu Việt Nam
đi vào cơi chết, chúc mừng Việt Nam có thêm 25 triệu nô lệ mới
nhập tên. Ḥa b́nh đă nở hoa trong cộng đồng thế giới, trong đời
người cộng sản, nhưng ḥa b́nh không thật đến ở Việt Nam.
Người cộng sản chân chính có truyền thống là những người không
hề biết ḥa b́nh, không sống được trong ḥa b́nh thật sự. Như
con giun, con dế sợ ánh sáng mặt trời. Thế nên họ dẫn dắt toàn
dân đi xây dựng văn minh thời thượng.
Khởi đầu là việc cày nát nghĩa trang Việt Nam Cộng Ḥa và hạ
tượng Người Lính Việt Nam Cộng Ḥa. Người Lính rơi xuống vỡ tan
trong ḷng đường phố, nhưng từ đó anh mới thực sự đứng lên, đứng
thẳng và oai hùng hơn trước trong trái tim của người dân Việt
miền Nam.
Bởi từ khi những người bộ đội cộng sản bước chân vào thành phố,
th́ người dân Quốc Gia mới thật sự hiểu được giá trị của anh. Và
những sự lầm lẫn và hối hận hôm nay h́nh như luôn theo nhau đi
vào lịch sử. Vậy th́, khi ta chết trên con đường chạy loạn, khi
ta chết ở băi Tiên Sa, ta vùi thân nơi vùng kinh tế mới hay ta
ch́m dưới đáy biển Đông, không phải v́ khẩu súng rơi trên tay
người lính, mà ta chết bởi viên đạn ích kỷ, viên đạn lănh đạm và
thờ ơ xuất phát từ trái tim bắn ngược lại chính ta. Bởi sự thật
về người cộng sản đă đi quá tầm tưởng tượng và sự hy sinh của
người lính vượt quá nỗi bi thương.
Hai mươi năm chiến tranh, hơn hai trăm ngàn người lính, hơn năm
trăm ngàn thương binh đă để lại hai trăm ngàn sinh mạng và năm
trăm ngàn những phần cơ thể để lại trên chiến trường khốc liệt.
Để cho chúng ta có một bầu trời để thở, có một khoảng không gian
đi đứng tự do, để cho tuổi thơ của chúng ta không phải đi lượm
ve, lượm giấy, không phải đeo khăn quàng đỏ và ngợi ca những
điều dối gạt chính ḿnh.

Để cho bàn tay thiếu nữ không chạm bùn nhơ thủy lợi, tuổi thanh
xuân không phải vùi chôn ở những gốc ḿ. Để cho bà mẹ già không
phải ngồi mơ ước miếng trầu xanh, và những giọt nước mắt thôi
không cần tuôn chảy.
Nhưng lịch sử đă sang trang, những trang hồng tươi màu máu cho
người cộng sản và cũng là những trang đẫm máu và nhơ bẩn nhất
cho cả lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Anh, người lính trong thời chiến thành người tù của thời b́nh.
Người lính chịu số phận bi thương của chiến tranh và cũng chịu
luôn số phận tàn nhẫn trong thời b́nh. Anh người lưu vong trong
ḷng dân tộc, và lưu đày ở chính quê hương anh.
Bởi Cộng Sản Việt Nam đă bắt đầu một cuộc chiến tranh mới và đẩy
anh xuống đáy trầm luân. Cũng chính từ chiến trường tù ngục này
mà cộng sản đă chứng minh được chúng và anh không là đồng loại.
Chúng, là lũ cộng sản cuồng tín, và tàn bạo nhất giữa thế giới
cộng sản và vô nhân. Chúng lập nên một vương quốc mới mang tên
là “lừa dối,” và mở ra một kỷ nguyên giết người theo kiểu mới,
giết người bằng những mỹ từ đẹp đẽ, bằng lao động vinh quang,
bằng thời gian không thể đếm.
Người lính bước vào trận chiến mới, chiến trường có tên là cải
tạo, và anh người tù nhân không có án. Ở đây anh không có lănh
đạo, không có đồng đội, không có hậu phương. Kẻ thù vắt cùng,
vắt kiệt sức lực anh trong rừng thẳm. đày đọa sỉ nhục anh dưới
hố xí tanh hôi, đem thanh xuân và tài hoa của anh vùi chôn ở
những ṿng khoai vớ vẩn. Đặt hy vọng của anh máng vào những mốc
thời gian.
Người lính đă trở thành vật thụ nạn thời b́nh. Anh chết đói bên
những ṿng xanh nở rộ do chính tay anh cày xới vun trồng. Anh
chết khát khi bên ngoài mưa rơi tầm tă. Giữa những trùng vây
sóng dữ, giữa bóng tối cô đơn, anh vượt qua sự chết để đem về
nghĩa sống. Anh đi xiếc qua những ranh giới tử sinh để chứng
minh được phẩm giá con người. Đôi mắt anh cao ngạo và chân đạp
chữ đầu hàng.
Từ trong tăm tối hận thù, anh thắp sáng lên ư nghĩa đời người.
Anh đă chiến đấu, để từ trong cơi chết anh bước ra mà sống. Để
anh trở về từ địa ngục trần gian. Bao đồng đội bất hạnh đă ngă
xuống trong rừng thẳm, cuối cùng anh đă trở về:
Ta về cúi mái đầu sương điểm
Nghe nặng từ tâm lượng đất trời
Cám ơn hoa đă v́ ta nở
Thế giới vui từ mỗi lẻ loi
(Tô Thùy Yên)
Nước mắt anh không rơi trong ngục tù cộng sản, nước mắt anh rơi
khi anh được trả tự do. Anh bước về, anh đi giữa ḷng quê hương.
Anh ngỡ ngàng như thức từ cơn mộng. Có thật chăng đất nước Việt
Nam, tàn hơn 30 năm chinh chiến và tù đày, để anh có được một
đất nước thanh b́nh điêu tàn hơn thời chiến?
Và tuổi trẻ, những mầm non đất nước hôm nay xa lạ như người
không cùng chung ḍng giống. Anh đi trên đường phố xưa, đường đă
đổi tên. Anh t́m bạn bè cũ, đứa c̣n đứa mất. Quê hương này không
có chỗ cho anh?
Hai mươi năm chiến chinh, mười mấy năm tù đày trên chính quê
hương để rồi anh phải tha hương biệt xứ. Người lính, mười bốn
năm lính, mười bốn năm tù, tài sẵn có, được trí trá vài đô la,
và mái đầu sương điểm để anh bước vào đời lần nữa.
Anh không có quyền bắt đầu, chỉ có quyền tiếp tục trôi theo ḍng
đời nghiệt ngă. Người lính cũ ngồi bán nước đá bào cho học tṛ
giờ tan học ở chính quê hương. Hay anh, người lính lưu vong ngồi
bán thuốc lá lẻ hằng đêm trong những tiệm Seven Eleven trên
đường phố Mỹ.
Ba mươi năm vết thương cũ hầu như chưa lần khép kín. Ôi, hai
mươi sáu chữ cái bắt đầu từ a, b, c, d,... dẫu sắp xếp khéo léo
tới đâu vẫn không đủ để viết nên những bi hùng anh đă đạt. Và
cần phải thêm vào bao nhiêu chữ nữa mới diễn tả lên sự xót
thương anh.
Chúng ta đă quá may mắn, quá vinh dự để trang sử Việt Nam có
thêm những anh hùng như người lính Việt Nam Cộng Ḥa, những anh
hùng vô danh và sống đời thầm lặng, những anh hùng b́nh thường
mà ta chưa có dịp vinh danh.
Nhưng cho tới nay, ta đă làm ǵ để tri ân người lính Quốc Gia.
Chúng ta những người dân Quốc Gia đi chung con thuyền miền Nam
do các anh chèo chống, đưa qua những con sóng dữ Việt Nam. Những
người Quốc Gia đă sang thuyền trong cơn quốc nạn, và đă để mặc
anh ch́m trong cơn Hồng Thủy của Việt Nam.
Chúng ta, những người Quốc Gia tầm gửi, đă sống nhờ trên máu
xương người lính, và chưa lần đóng góp nào cho chính nghĩa quốc
gia. Có phải giờ đây, chúng ta tiếc thương người lính bằng đầu
môi chót lưỡi, bằng những video, nức nở kêu gào, hay chúng ta
khóc cho người lính bằng những trang thơ vớ vẩn? Và có ai, có ai
trong chúng ta cảm thấy thẹn khi ta đă đôi lần hănh diện v́ ta
nói tiếng Anh trôi chẩy hơn họ, xe ta đẹp, nhà ta to.
Ngày nay, người cộng sản ở quê hương với đôi tay đẫm máu của
thuở nào cũng nói lời phản tỉnh. Vậy c̣n ta, bao nhiêu người
Quốc Gia sẽ thức tỉnh để vẽ chân dung kỳ vĩ và nhiệm màu của
người lính chúng ta. Có ai trong chúng ta sẵn sàng chi tiêu
những bữa tiệc đắt tiền trong những nhà hàng danh tiếng, mua
những tấm vé vào cửa của đại nhạc hội lừng tên mà ta tiếc bỏ
tiền ra để quyên góp, xây lại tượng Người Lính ở thủ đô đă ngă
xuống hôm nào.
Để một mai, khi quê hương không c̣n giống cộng sản, ta đem anh
về trở lại quê hương. Để anh được đứng lên chính nơi anh ngă
xuống như cùng thời với đất nước lúc hồi sinh.
Bao nhiêu chuyên gia nhóm họp nhan đề “xây dựng lại đất nước
trong thời hậu cộng sản.” Vậy có ai đă đặt kế hoạch tri ân cho
người lính ? Bởi, một ngày nào mà ta chưa biết tri ân người lính
và đặt họ ở một địa vị xứng đáng mà đáng lẽ họ phải ở từ lâu,
th́ làm sao ta có thể xây dựng được một xă hội đáng gọi là nhân
bản.
Hăy vinh danh người lính Việt Nam Cộng Ḥa... Hăy giữ ǵn và bảo
vệ tinh thần Vị Quốc Vong Thân của họ như giữ ǵn ngọn lửa
thiêng trong ḷng dân tộc, th́ dân tộc ta mới mong có được những
truyền nhân xứng đáng với thế hệ tương lai...
|
|