Ngày 30 Tháng Tư 1975:

Máu xương và nước mắt

Phan Đức Minh

Saturday, April 25, 2009

(Kính tặng các chiến hữu, đồng bào và những người bạn trẻ của tôi)


Ngày kỷ niệm đau buồn 30 tháng 4 lại tới... Nói đến chuyện đó, trước hết ta nên nhớ lại câu nói hàm chứa cả một âm mưu, tham vọng của Lenine, cha đẻ của cách mạng tháng 10 ở Nga, của Đệ Tam Quốc Tế cộng sản, sư phụ của Hồ Chí Minh, sư tổ của phong trào cộng sản thế giới “First, we will take eastern Europe, then the masses of Asia, then we will encircle United States which will be the last bastion of capitalism. We will not have to attack. - Lenin - it will fall into our hands like an overripe fruit...”
(The Death Of A Nation - John A. Stormer - 1978.- Liberty Bell Press,. Florissant, Missouri - U.S.A - Page 14). Tư tưởng, tham vọng này từ lâu đă sai bét hết cả rồi!

Nhà lănh tụ được coi là vĩ đại nhất của phong trào cộng sản quốc tế này, trước đó hơn nửa thế kỷ, đă từng vạch ra một chiến lược để đánh thắng Hoa Kỳ mà không cần phải tấn công trực tiếp vào Hoa Kỳ, chỉ cần đem phong trào cộng sản đến thống trị Đông Âu, rồi thống trị khối nhân dân khổng lồ ở Á Châu, sau đó bao vây Hoa Kỳ, thành luỹ cuối cùng của chế độ tư bản. Hoa Kỳ sẽ như trái cây chín nẫu, rơi vào tay cộng sản. Chủ quan ghê gớm thật!

Biết như vậy rồi, bây giờ chúng ta bắt đầu nh́n lại những biến cố đă xẩy ra trên đất nước ḿnh: ngày 30-4-1975, để rồi cùng nhau dựa vào kinh nghiệm lịch sử, vào trào lưu tiến hoá nhân loại, cầu xin các đấng thiêng liêng phù trợ mà t́m ra một phương cách tự cứu lấy bản thân, cứu lấy dân tộc, quê hương, đất nước của ḿnh.

- Ngày 6-1-1975: Tỉnh Phước Long và Thị Xă Phước B́nh, cách Sài G̣n 60 dặm về phía Bắc, rơi vào tay quân cộng sản Bắc Việt. Sau vụ “Muà Hè đỏ lửa “ ở vùng địa đầu giới tuyến Quảng Trị, năm 1972 th́ Phước B́nh là thị trấn đầu tiên của Nam Việt Nam bị quân cộng sản đánh chiếm. Không Quân Việt Nam Cộng Ḥa thiệt hại 20 máy bay trong công cuộc bảo vệ tỉnh Phước Long. Nhiều máy bay bị bắn hạ bằng hoả tiễn SA-7 của Liên Xô
(The South Vietnamese Air Force loses 20 planes defending the province, many to SA-7 missiles made by the Soviet Union).

Sự thiếu phản ứng quân sự của Hoa Kỳ càng xúi giục cộng sản làm tới v́ các chiến lược gia của cộng sản biết rằng đă đến lúc Hoa Kỳ phải rời bỏ Việt Nam. Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Việt Nam Lê Duẩn và Bộ Chính Trị của Đảng cộng sản quyết định tăng cường các cuộc tấn công trên toàn lănh thổ Nam Việt Nam để phát động một cuộc tổng nổi dậy vào năm 1976. Cộng sản chỉ dám mong điều đó vào năm 1976 mà thôi.

- Ngày 28-1-1975: Tổng Thống Hoa Kỳ, Gerald Ford, yêu cầu Quốc Hội tăng thêm quân viện cho Nam Việt Nam và Kampuchia với ngân khoản 522 triệu Mỹ kim v́ lúc này Tổng Thống Ford được biết quân cộng sản Bắc việt đă có mặt tại Nam Việt Nam tới mức 289.000 người. Xe tăng, trọng pháo, hỏa lực pḥng không, do Liên Xô và Trung Quốc chi viện rất hùng hậu. Để giữ vững “Một tiền đồn chống Cộng” ở Đông Nam Á Châu th́ ngân khoản 522 triệu đô la có là bao? Thế mà cũng không xong. Người ta đă muốn bỏ đi rồi.

- Ngày 5-2-1975: Đại Tướng Bắc Việt Văn Tiến Dũng vào Nam để chỉ huy quân đội cộng sản.

- Ngày 10-3-1975: Quân Bắc Việt, với những Sư Đoàn thiện chiến, phương tiện chiến tranh hiện đại của Liên Sô và Trung Quốc, tấn công Ban Mê Thuột từ ngày 10-3. Ba ngày sau, quân cộng sản tràn ngập thị trấn này, trong khi những trận đánh lớn khác bùng nổ trên mặt trận Cao Nguyên Trung Phần.

- Ngày 14-3-1975: Sau khi họp bàn với một số tướng lănh và nhân vật thân cận (?),Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ra lệnh rút quân, bỏ vùng cao nguyên Trung Phần và các Tỉnh phiá Bắc của Nam Việt Nam. Các Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn 2, Phạm Văn Phú, và Quân Đoàn I, Ngô Quang Trưởng, ngỡ ngàng, sửng sốt, không biết tại sao lại bỏ những vùng đất quan trọng, cửa ngơ, quyết định sự sống chết của Nam Việt Nam vào lúc này, chưa đánh nhau chi cả, trong khi các lực lượng chiến đấu của 2 Quân Đoàn
(Army Corps) Việt Nam Cộng Hoà rất hùng mạnh, sẵn sàng đọ sức với quân đội cộng sản. Mất Ban Mê Thuột đâu có nghĩa là phải mất luôn cả Quân Khu I và Quân Khu 2! ông Thiệu làm như thế để gây áp lực với chính phủ Mỹ: phải quyết tâm tăng cường viện trợ mọi mặt cho Nam Việt Nam, nếu không th́ “Tiền đồn chống cộng ở Đông Nam Á Châu của Mỹ” là Nam Việt Nam sẽ sụp đổ. ông Thiệu khờ khạo quá trời quá đất. Ô! Tại sao? - Bởi v́ người Mỹ đă t́m cách tháo lui khỏi cái “Vũng lầy Việt Nam” để ra đi một cách ít phũ phàng, ít mất mặt chừng nào hay chừng đó, sau khi ông cố vấn an ninh quốc gia của Tổng Thống Mỹ, Henry Kissinger, đă cố dọn đường, mở lối cho Tổng Thống Richard Nixon sang Trung Cộng năn nỉ với Mao Trạch Đông vào năm 1972, qua sự giàn xếp của Tổng Thống Hồi Quốc Yahya Khan. Mao Trạch Đông với sức mạnh đàn anh, từng viện trợ, cố vấn tích cực cho cộng sản Hà Nội, đă ép cộng sản Hà Nội bớt ương ngạnh, ngưng chơi trội và bắt bí Mỹ ở Hội Nghị Paris, diễn ra tại Salle de Conférence Kléber. Trong vụ này, Mỹ được tí chút lợi lộc là kư được cái “Hiệp Định Ngưng Bắn - Agreement of Cease-Fire” để tháo lui có văn bản đàng hoàng, mà phe cộng sản coi như mớ giấy lộn, chẳng có giá trị ǵ cả, nhưng trong đó Mỹ phải bấm bụng làm lơ, không được nói năng chi tới cái chuyện quân Bắc Việt đă vào Nam cả mấy chục Sư Đoàn (Divisions) rồi. Tội vạ đổ lên đầu người bạn đồng minh Việt Nam Cộng Hoà hết cả... Phái đoàn Việt Nam Cộng Hoà phản đối mấy cũng hoài hơi mà thôi v́ “Xếp” đă chơi đ̣n “tháu cáy” rồi th́ ráng mà chịu cho quen. Dân nhược tiểu chơi với anh bạn khổng lồ là vậy!

Việc Mỹ làm cú đi đêm
(Furtive Conspiracy) liên kết với Trung Cộng để chống Liên xô th́ kể như 2 bên cùng có lợi, nhưng riên phần Trung Cộng th́ lời to: Trung Cộng nhẩy vào ngồi cái ghế “Hội viên thường trực - Permanent Member” của Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, với quyền phủ quyết (Veto) đáng giá cả tỉ Mỹ Kim, đánh văng ông Quốc Dân Đảng Trung Hoa ra Đài Loan mà chơi luôn, mặc dầu Trung Cộng đánh thắng và kiểm soát lục địa Trung Hoa từ năm 1949. Thêm cái lợi nữa là chính quyền Nixon phải lén lút, giấu diếm bán vũ khí tối tân cho Trung Cộng để chống Liên Xô mà không được cho ai biết hết, nhất là Liên Xô, kể cả Quốc Hội, dân chúng và báo chí Mỹ nữa. Đó! Mỹ đă t́m cách tháo lui bằng mọi giá, với thế bị đánh bại rồi th́ ông Thiệu có bỏ 2 Quân Khu 1 và 2, chớ ông Thiệu có bỏ luôn cả Quân Khu 3, Quân Khu 4 và Biệt Khu Thủ Đô, bỏ hết miền Nam Việt Nam chăng nữa th́ Mỹ cũng chẳng bao giờ dại dột quay đầu trở lại để cứu Nam Việt Nam nữa.

Nếu nói là cứu th́ cứu hết sức từ 1965 đến 1973, với 58 ngàn quân nhân Mỹ hi sinh, mấy ngàn người mất tích, hàng trăm ngàn bị thương, hàng triệu người đau khổ, mất mát, mà đâu có cứu nổi! Nay trong lúc đă tan hàng, bỏ chạy th́ c̣n cứu cái nỗi ǵ nữa đây? Rút mau chừng nào hay chừng đó! ông Thiệu phải biết chớ! Dù cách nào đi nữa, ông Thiệu ra lệnh bỏ 2 Quân Khu, bắt 2 Quân Đoàn phải bỏ chạy khi chưa đánh nhau với ai cả th́: Làm rối loạn hàng ngũ quân đội và dân chúng, làm mất nước mà không chiến đấu, không kháng cự ǵ cả là tội to tầy trời của ông Thiệu! Lịch sử cận đại Việt Nam không thể bỏ qua chỗ này! Đại quân cộng sản đă từng chiếm đóng thành phố Huế trong dịp Tết Mậu Thân 1968, đă từng đánh chiếm Quảng Trị và kiểm soát hoàn toàn Thị Trấn An Lộc trong Mùa Hè đỏ lửa 1972 mà có Quân Khu nào bị mất, phải bỏ chạy đâu? Trái lại, Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà đă phản công một cách vô cùng anh dũng, để giành lại những địa điểm chiến lược đă rơi vào tay giặc. Thế th́ tại sao mới mất có Ban Mê Thuột mà phải bỏ Quân Khu I, trong khi Danh Tướng Ngô Quang Trưởng của Mùa hè Đỏ Lửa 1972, từng được thế giới biết đến và kính phục, luôn luôn nắm vững t́nh h́nh Quân Khu của ông, trong khi Tướng Phạm Văn Phú, Tư Lệnh Quân Khu 2, phải lớn tiếng cự lại Tổng Thống Thiệu trong hệ thống liên lạc vô tuyến siêu tần số, dù ông biết rằng làm như thế là có thể mất lon, phải ra trước Toà Án Quân Sự Mặt Trận. Tướng Phú đang sẵn sàng chờ địch tiến đánh Pleiku, v́ Tướng Phú biết rằng: đánh th́ chưa chắc đă chết, nhưng tự dưng bỏ chạy th́ chắc chắn cả lính lẫn dân đều phải chết bi thảm trong cảnh hỗn loạn, dưới những làn mưa băo pháo binh, hoả tiễn của cộng sản, tự do hoành hành mà không gặp sức chống trả.

Năm ngày sau, khi quân đội và dân chúng đang tháo chạy một cách thê thảm, hỗn loạn th́ ông Thiệu lại ra lệnh cho Tướng Ngô Quang Trưởng là phải “Tử thủ thành phố Huế”
(...five days later, Thieu orders Hue held at all costs...) ông Thiệu vốn được chính giới coi là khôn ngoan, mưu mô, xảo quyệt từ ngày c̣n là Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, tham gia đảo chính lật đổ ông Diệm năm 1963, rồi lên làm Trung Tướng Chủ Tịch Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia, rồi lên làm Tổng Thống Việt Nam, Đệ Nhị Cộng Hoà, nhiệm kỳ I, kỳ 2, rồi c̣n định vận động Quốc Hội sửa đổi Hiến Pháp để ông làm luôn tổng thống keo thứ 3 nữa, mà sao lúc này ông Thiệu lại khờ khạo đến mức độà nhiều người, nhất là nhiều sĩ quan trong quân đội cho là (xin lỗi) đại ngu xuẩn, để ra lệnh bỏ 2 Quân Khu, không đánh đấm chi cả, trong khi 2 Quân Đoàn Việt Nam Cộng Hoà đang trong tư thế sẵn sàng chờ địch để thêm một lần nữa cho cộng sản học lại những bài học Mậu Thân 1968 và Muà Hè Đỏ Lửa 1972. Tướng Ngô Quang Trưởng trả lời là: không thể nào làm được việc đó v́ trước đó 5 ngày, ông Thiệu đă hạ lệnh rút bỏ Quân Khu I. Quân đội và cả triệu dân chúng hỗn loạn rút chạy suốt 5 ngày rồi, làm sao mà trở lại vị trí cũ, tổ chức, phối trí lực lượng để mà “tử thủ!” Ông Thiệu là tướng lănh, là tổng thống, tổng tư lệnh quân đội mà không biết việc đó hay sao? Chẳng lẽ ông ta (xin lỗi) điên hay ngu dại đến mức kỳ lạ như vậy?

- Ngày 24-3-1975: Thấy t́nh thế thuận lợi, cộng sản Hà Nội quyết định chính thức mở màn Chiến dịch Hồ Chí Minh. Hà Nội giao cho Tướng Văn Tiến Dũng một “Thời khoá biểu” phải kịp thời đánh chiếm hoàn toàn Nam Việt Nam trước khi mùa mưa bắt đầu vào tháng 5. Muốn vậy, quân Bắc Việt phải vào chiếm Sài G̣n chậm nhất là tuần lễ cuối cùng của tháng 4, trước khi quân đội miền Nam có thể tái phối trí lực lượng hầu bảo vệ Sài G̣n và Quân Khu 4 ở miền Tây.

- Ngày 25-3-1975: ông Thiệu ra lệnh bỏ thành phố Huế. Trong có mấy ngày mà ra lệnh bỏ Quân Khu 1, có Huế trong đó, rồi lại ra lệnh tử thủ Huế, rồi lại ra lệnh bỏ Huế! Đúng là điên hạng nặng! Vào lúc này, dân chúng đông tới hàng triệu người. Họ không quên cảnh cộng sản tàn sát tập thể dân chúng cũng như viên chức chính quyền, nhân vật Đảng Phái vào dịp Tết Mậu Thân - 1968 - nên đă kéo nhau tràn xuống thành phố Đà Nẵng, lúc đó đang bị quân cộng sản tấn công từ xa bằng hoả tiễn 122 ly của Trung Cộng và đại bác 130 ly của Liên Xô. ông Thiệu c̣n ra lệnh: Không giữ được Huế th́ cũng phải cố mà giữ lấy vùng duyên hải Đà Nẵng, coi như vị trí chiến lược làm đầu cầu cho quân đội Mỹ đổ bộ lên, một khi chính quyền Mỹ quyết định trở lại cứu vớt Việt Nam Cộng Ḥa, đương đầu với cuộc xâm lăng đại quy mô của cộng sản. Trời Đất quỷ thần ơi! Tới lúc này mà ông Thiệu c̣n hi vọng Mỹ trở lại cứu Việt Nam Cộng Ḥa th́ trên thế gian này, lănh tụ quốc gia, tổng tư lệnh quân đội chỉ có ông là một mà thôi! Không thể có kẻ thứ 2 kiểu như thế ở cơi đời này! ông Thiệu là Tổng Thống, “chơi” với Mỹ, đồng minh thân thiết của Mỹ, lănh tụ “Tiền đồn chống cộng” của Mỹ tại Đông Nam Á Châu mà ông Thiệu đâu có biết ǵ về Mỹ: ngày 29-6-1973 Hạ Viện Hoa Kỳ đă biểu quyết dự luật cấm các hoạt động quân sự của Hoa kỳ trên toàn lănh thổ Đông Nam Á Châu. Dự luật này được Lưỡng Viện Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua ngày 21-9-1973. Kế theo đó, ngày 12-10-1973, Lưỡng Viện lại thông qua dự luật hạn chế quyền của Tổng Thống Mỹ trong việc đưa quân đội Hoa Kỳ ra ngoại quốc
(sau bài học cay đắng tại Việt Nam). Kissinger, trong chuyến “đi đêm” với Trung Quốc, đă nâng ly “vui vẻ” với Chu Ân Lai, Thủ Tướng Trung Quốc: “...Quư vị hăy ngăn chặn, chỉ cho Hà Nội đánh chiếm hoàn toàn Nam Việt Nam, sau khi quân đội Mỹ của chúng tôi đă ra đi an toàn, với khoảng cách thời gian đủ coi là... chúng tôi không thua trận, bỏ chạy, và Nam Việt Nam sụp đổ là do lỗi của họ không chịu chiến đấu để bảo vệ chính ḿnh...” Cay đắng chưa!

Nếu Kissinger bỏ chạy, nhưng Hoa Thịnh Đốn vẫn tiếp tục viện trợ cho Nam Việt Nam, nhất là phương tiện chiến đấu cần thiết như Cộng Sản Quốc Tế đang viện trợ tối đa cho Hà Nội th́ dù cho Kissinger và Hoa Thịnh Đốn có bỏ chạy đi nữa, quân đội Việt Nam Cộng Ḥa vẫn dư sức đánh bật cộng sản trở lại bên kia vĩ tuyến 17 như “Mùa Hè Đỏ Lửa 1972” để luôn luôn giữ vững trận địa của ḿnh. ông Thiệu lúc này loạng quạng, quáng gà là đúng thôi v́ ông không biết ǵ về người bạn đồng minh và cũng chẳng biết ǵ về công việc phải làm của ḿnh nữa...

- Ngày 29-3- 1975: Cộng sản chiếm thành phố Đà Nẵng, đang rối loạn, mà chẳng tốn 1 viên đạn nào. Dân chúng t́m mọi cách thoát khỏi vùng này bằng mọi giá, chấp nhận chết chóc, đau đớn chia ĺa trong máu và nước mắt. Kẻ viết bài này kẹt lại Đà Nẵng, rồi đi tù cải tạo hơn 12 năm v́ trước đó phi đạo Đà Nẵng bị hỏa tiễn Trung Cộng cầy nát, không sử dụng được nữa, trực thăng không có, tầu Hải Quân Việt Nam Cộng Ḥa từ trong Nam kéo ra băi biển Mỹ Khê, Quận 3 Đà Nẵng cứu nạn, nhưng đủ thứ người trốn chạy cộng sản giành nhau leo lên tầu bằng đủ mọi cách đă gây nên cảnh kinh hoàng, người già, trẻ con rơi xuống biển như những chiếc lá mùa thu. Kẻ này phải vỗ vai Đại Úy Từ Khánh Sinh, Quản Đốc Quân Lao Đà Nẵng, cựu đại đội trưởng nhẩy dù: “Không đi bằng cách này được! Mấy đứa trẻ này sẽ chết hết!” Đại Úy Sinh kiếm được tay nghĩa quân, đàn em, hắn lôi cái thuyền nhỏ xíu d́m dưới nước lên và tính chuyện ra khơi, lên tầu Mỹ. Ngay tức khắc, hàng chục mũi súng AK của du kích địa phương đă chĩa vào cái thuyền: thuyền ra là bắn tất cả ngay! Cả 2 chúng tôi cùng đi tù cải tạo với nhau nơi rừng sâu, núi thẳm ghê người! Điều an ủi cho kẻ này là trước đó chỉ non một ngày, nhân danh sĩ quan cấp chức cao nhất của 2 Ṭa Án Quân Sự Mặt Trận và Thường Trực tại Quân Khu I c̣n có mặt, tôi đă ra lệnh phóng thích tất cả non 1 ngàn quân phạm, bất kể loại nào, tiểu hay đại h́nh, xếp hàng, cứ 10 người một chạy ra khỏi quân lao, về lo chuyện gia đ́nh trước họa cộng sản đang tràn đến... Ai cũng có thân nhân, gia đ́nh, ai cũng là người cả!

- Ngày 6 đến 15-4-1975: 2 Trung Đoàn thuộc Sư Đoàn 2 Bộ Binh V.N. Cộng Hoà cùng với 1 Lữ Đoàn nhẩy dù được đổ xuống phi trường Phan Rang vào ngày 6 để hi vọng đánh trận phản công. Cộng sản thấy hơi khó ăn v́ ngán quân nhẩy dù nên để cho t́nh h́nh yên tĩnh 3 ngày. Thế là Lữ Đoàn nhẩy dù được bốc đi Xuân Lộc là nơi đang có trận đánh lớn giữa Sư Đoàn 18 Bộ Binh VN. Cộng Hoà dưới quyền chỉ huy của Tướng Lê Minh Đảo với 2 Sư Đoàn quân Bắc Việt. Thay thế cho lữ đoàn nhẩy dù thiện chiến, người ta đưa tới đó 1 đơn vị Biệt Động Quân. Lập tức quân cộng sản cho xe tăng T-54 của Liên Xô ào ạt tiến vào, chọc thủng pḥng tuyến Phan Rang và chiếm đóng vùng này không khó khăn.

- Ngày 7-4-1975: Lê Đức Thọ, ủy viên Bộ Chính Trị cộng sản Hà Nội, tới Tổng Hành Dinh quân cộng sản ở Miền Nam, đóng tại Lộc Ninh để xem xét t́nh h́nh và quyết định kế hoạch cho giai đoạn chót của cuộc đánh chiếm miền Nam. Lúc này, cộng sản đă kiểm soát được 2/3 lănh thổ Nam Việt Nam.

- Ngày 8 đến 21-4-1975: Sư Đoàn 18 Bộ Binh VN Cộng Hoà do Tướng Lê Minh Đảo chỉ huy, chống giữ oanh liệt trước sức tấn công vũ băo của 2 Sư Đoàn cộng sản nhằm tiến chiếm Sài G̣n bằng cách phá vỡ pḥng tuyến cuối cùng này. Một Trung Đoàn thuộc Sư Đoàn 5 Bộ Binh và Lữ Đoàn nhẩy dù từ Phan Rang được đưa vào tăng viện. Tướng Cộng Sản Văn Tiến Dũng phải tung vào mặt trận này 2 Sư Đoàn nữalà 4 Sư Đoàn tất cả để ḥng dứt điểm càng sớm càng tốt. Đánh chiếm miền Nam Mùa Xuân năm 1975, đây là mặt trận duy nhất quân cộng sản gặp sức chiến đấu dũng mănh, oanh liệt của quân đội VN Cộng Hoà, cộng sản phải dùng số quân 4 đánh 1, trong lúc thế mạnh mọi mặt đang ở phía chính họ. Tướng Homer Smith, tùy viên Quốc Pḥng Mỹ tại Sài G̣n, ngày 13, đă gửi 1 bức điện văn cho Tướng George S. Brown, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu Hoa Kỳ, ca ngợi ư chí và tinh thần chiến đấu can đảm, dũng mănh tuyệt vời của Quân Dội Việt Nam Cộng Ḥa, dù những bất lợi đang đè nặng trên vai họ. Tướng Smith, sau khi theo dơi cuộc chiến đấu tại Xuân Lộc, đă nói: “Sự dũng cảm và chiến đấu anh hùng của quân chính phủ Miền Nam, kể cả địa phương quân tỉnh Long Khánh đă chứng tỏ họ chiến đấu giỏi hơn đối phương của họ rất nhiều...”

Nếu ông Nguyễn Văn Thiệu không ra lệnh bỏ 2 Quân Khu 1 và 2 ngay từ lúc chưa đánh nhau chi cả th́ quân đội miền Nam Việt Nam sẽ có biết bao nhiêu trận đánh oanh liệt như thế này, và nếu chính quyền Mỹ không cố ư bỏ chạy khỏi Việt Nam th́ làm sao cộng sản chiếm nổi Nam Việt Nam một cách dễ dàng như đă xẩy ra? Cuối cùng pḥng tuyến Xuân Lộc chỉ rơi vào tay quân cộng sản, đông và hoả lực mạnh gấp 4 lần, vào ngày 21-4- 1975, khi Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn 3 ra lệnh rút bỏ pḥng tuyến cuối cùng này v́ ông không nỡ bắt những chiến sĩ anh hùng dũng cảm này phải hy sinh tất cả, bị tiêu diệt trong thế trận bất quân b́nh quá lớn lao, cay nghiệt này.

- Ngày 21 đến 25-4-1975: Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bị áp lực từ nhiều phía, phải tuyên bố từ chức, chuyển giao quyền hành cho Phó tổng Thống Nguyễn Văn Hương để ra ngoại quốc, đem theo những ǵ ông đă lo liệu từ trước cho cuộc sống ở nước ngoài, bỏ lại đằng sau: quê hương, chiến hữu và đồng bào của ông, là những ǵ thiêng liêng mà ông đă từng long trọng tuyên đọc lời thề khi nhậm chức tổng thống, cũng như trong các dịp quốc lễ là sẽ sống chết bảo vệ đến hơi thở cuối cùng.

- Ngày 23-4-1975: Tại Hoa kỳ, Tổng Thống Ford
(Gerald Rudolph Ford -Tổng thống thứ 38 - ông tổng thống duy nhất của Hoa Kỳ làm tổng thống mà không hề được dân chúng, cử tri bầu vào chức vụ Tổng Thống hay Phó Tổng Thống, dù là chỉ 1 phiếu) nói “Chiến tranh Việt Nam kể như chấm dứt ”. Dư luận hiểu rằng “Chính quyền Mỹ lúc đó đă buông tay và chạy làng” bằng mọi giá, trong khi Liên Xô và Trung Cộng hồ hởi, phấn khởi là đă hoàn thành nhiệm vụ “Dứt điểm tiền đồn chống Cộng của Mỹ tại Á Châu”.

(C̣n tiếp)