|
Lữ đoàn 147
Thủy Quân Lục Chiến
Monday, June 08, 2009
Mũ Xanh Phạm Văn Tiền
Lời mở đầu
Chúng ta đang bước vào những ngày lễ tưởng niệm
Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa 19 Tháng Sáu. Cuộc
chiến đấu một mất một còn với chủ thuyết Cộng
Sản toàn cầu đã chấm dứt hơn 34 năm về trước,
nhưng niềm đau xót khôn nguôi luôn ám ảnh vào
tâm khảm của mỗi chiến sĩ miền Nam tự do. Người
lính Việt Nam Cộng Hòa bị buộc phải thua đau
trong niềm tức tưởi nghẹn ngào. Còn kẻ chiến
thắng thì bàng hoàng ngơ ngác, không biết từ đâu
mà mình chiến thắng quá nhanh và dễ dàng như vậy.
Niềm oan ức về một sự sụp đổ một thể chế Cộng
Hòa suốt hơn 20 năm gầy dựng, ngày nay đã được
minh oan bằng những chứng cớ lịch sử. Chính
nghĩa của một chế độ đã được phục hồi cùng những
chiến sĩ can trường bất khuất trong cuộc chiến
đó. Những người lính VNCH đã nằm xuống trên mọi
miền đất nước nay đã được vinh danh, cùng những
thương phế binh đã mất một phần thân xác mình
cũng đã được phục hồi danh dự, bằng những buổi
ca nhạc gây quỹ “Cám Ơn Anh“với sự tham dự vài
chục ngàn người. Cờ Vàng chính nghĩa đã được
công nhận trên rất nhiều tiểu bang Hoa Kỳ, cùng
rất nhiều đài tưởng niệm chiến sĩ Việt Mỹ đã
được dựng lên, để tôn vinh và mãi mãi ghi nhớ
công lao của những anh hùng đã nằm xuống, và máu
xương đã đổ ra trong cuộc chiến đấu bảo quốc an
dân đó.
Tôi vẫn nhớ mãi cái ngày mà đơn vị tôi đã phải
tan hàng tại cửa biển Thuận An, Huế. Một cuộc
bại trận không phải do những người lính chúng
tôi không chịu chiến đấu, mà do từ lệnh trên của
các cấp thẩm quyền, ngoài khả năng hiểu biết của
anh em chúng tôi. Một cuộc lui binh chưa từng
được viết ra trong binh pháp, và cũng chưa đơn
vị nào đem ra áp dụng bao giờ. Ðó là lần đầu
tiên và cũng là lần cuối cùng trong quân sử miền
Nam VN.
Bài viết này xin dành tặng các chiến hữu TQLC
của tôi, những người đã may mắn không hiện diện
tại mặt trận phía Bắc Quảng Trị vào những ngày
cuối Tháng Ba gãy súng. Các anh có lệnh xuôi Nam
còn chúng tôi những Kình Ngư, Hắc Long, Mãnh Hổ,
Sói Biển, Thần Tiễn còn ở lại. Những diễn biến
có thật mà máu và nước mắt tưởng chừng như không
đủ để nói lên những oan trái xót xa đã dành sẵn
cho thân phận của một người lính Quân Lực Việt
Nam Cộng Hòa.
Ðầu Tháng Ba năm 1975, Cộng Sản Bắc Việt dốc
toàn lực lượng tấn công hầu cưỡng chiếm toàn bộ
miền Nam. Bình Long, An Lộc thất thủ. Thị xã Ban
Mê Thuột sau đó cũng bị bỏ ngõ hoàn toàn với sự
rút quân ồ ạt như nước vỡ bờ của Quân Ðoàn 2 về
Nha Trang và nhiều nơi khác. Trong khi đó phòng
tuyến phòng thủ phía Bắc do SÐ/TQLC đảm trách
vẫn còn là một vùng đất yên tĩnh trong sự cẩn
thận, dè dặt chờ đợi lẫn nhau.
Sau sự phối hợp nhịp nhàng của 2 sư đoàn tổng
trừ bị thiện chiến nhất là Nhảy Dù và TQLC, với
thế đánh gọng kìm liên tục từ 2 phía Ðông Tây,
đã buộc địch phải tháo chạy với nhiều tổn thất
nặng nề, bằng chiến thắng tái chiếm Cổ Thành
Quảng Trị ngày 14 Tháng Chín 72. SÐ Nhảy Dù được
điều động về mật trận Ðức Dục, Quảng Nam. SÐ/TQLC
ở lại chịu trách nhiệm trên một tuyến khá rộng
trải dài từ bờ biển Ðông sang tận những mỏm núi
tận cùng phía Tây thuộc dải Trường Sơn, qua các
vùng Mỹ Thủy, Long Quang, Bích La, Triệu Phong,
Nam sông Thạch Hãn, Như Lệ, Tích Tường, La Vang,
Ðộng Ông Ðô, Barbara, Anne, Cổ Bi, Hiền Sĩ,
Thanh Tân, Lồ Ô...
Liên đoàn 911 và các đại đội biệt lập ÐPQ tiểu
khu Quảng Trị được đặt dưới quyền điều động của
BTL/SÐ/TQLC hành quân trong việc phòng thủ này.
Mặc dù là đơn vị được giao nhiệm vụ phòng thủ,
nhưng SÐ/TQLC vẫn luôn chứng tỏ khả năng cơ động
tấn công tận sào huyệt địch, như cuộc đổ bộ vượt
sông Thạch Hãn của TÐ6/TQLC vào Tháng Mười năm
72, cuộc hành quân thần tốc tái chiếm cửa Việt
Tháng Giêng năm 1973 trước giờ ngưng bắn có hiệu
lực của Hiệp Ðịnh Paris và đặc biệt Lữ Ðoàn 258
TQLC đã hạ một tàu vận tải lớn tiếp tế địch đang
mon men ngoài khơi bờ biển Mỹ Thủy Tháng Sáu năm
1973.
Ngược lại, địch quân chưa có lần nào dám liều
lĩnh tấn công vào các đơn vị TQLC. Có chăng chỉ
là những hành động phá hoại lén lút, đặc công,
giật mìn lẻ tẻ trên các trục lộ giao thông tiếp
tế. Phải nói rằng đây là phòng tuyến phòng thủ
vững chắc nhất, thừa sức ngăn chặn mọi cuộc xâm
lăng từ phương Bắc xuống của CS Bắc Việt.
Do tình hình xáo trộn chung của đất nước và vì
nhu cầu đòi hỏi cấp bách của chiến trường lúc
này, Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH đã quyết định điều
động phân lớn các lực lượng TQLC về Nam gồm các
LÐ-258, LÐ-369 và LÐ-486 vừa mới được thành lập.
LÐ-147 do Ðại Tá Nguyễn Thế Lương chỉ huy gồm
các Tiểu đoàn 3, 4, 5, TÐ Pháo binh, 2 đại đội
Viễn Thám và Tiểu đoàn 7/TQLC thuộc Lực Lượng
Ðặc Nhiệm Tango do Ðại Tá Tư Lệnh Phó trực tiếp
chỉ huy đang nằm sẵn trên các tuyến. Thay vào lỗ
hổng to lớn trên là 2 Liên Ðoàn BÐQ với trang bị
quân số thiếu hụt. Ðây là khởi điểm cho tất cả
sự bỏ ngõ sau này ở mật trận Bắc Quảng Trị.
Mãi đến chiều tối ngày 7 Tháng Ba 1975, địch bắt
đầu mở cuộc tấn công đầu tiên thật mãnh liệt vào
một trung đội tiền đồn tại đồi 51 thuộc căn cứ
Tư Tưởng, hướng Tây quốc lộ 1, cây số 23. Ðơn vị
này được chỉ huy bởi Trung Úy Sáng ÐÐP/ÐÐ1 tiểu
đoàn 4 TQLC đã chiến đấu thật cang cường, đẩy
lui nhiều đợt xung phong biển người của địch.
Lần liên lạc sau cùng qua máy PRC-25 vào lúc 4
giờ sáng, anh đã yêu cầu pháo binh chụp thẳng
trên đầu mình vì vị trí bị địch tràn ngập. Anh
đã tử thương sau đó trong cuộc cận chiến bằng
lựu đạn với kẻ thù. Sáng sớm ngày 9 Tháng Ba 75,
Thiếu Tá Trần Ngọc Toàn TÐT/TÐ4/TQLC điều động
toàn bộ lực lượng còn lại, nhờ có sự yểm trợ
thật chính xác của các phi vụ A-37 thuộc không
lực vùng I chiến thuật, ta đã hoàn toàn làm chủ
tình hình. Xác địch nằm ngổn ngang trong các bãi
mìn của hàng rào phòng thủ, một số đồng bọn khác
đang lẩn tránh trong các bụi rậm bị ta bắt sống.
Cũng cùng trong đêm đó, tại một nơi khác, tiểu
đoàn 121/ÐPQ Tiểu Khu Quảng Trị đã tóm nguyên
trung đội địch khi chúng tìm cách tiến về hướng
quận Hương Ðiền. Ngày 22 Tháng Ba 75, đoàn xe
tiếp tế cuối cùng của đơn vị rời hậu trạm Măng
Cá, Huế vào vùng hành quân. Chúng tôi được biết
hầu hết dân chúng đã di tản vào Ðà Nẵng và hậu
trạm cũng được Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn mang tất cả
trang thiết bị về cửa biển Thuận An chờ lệnh.
Tôi chỉ thị cho các đại đội thu gọn lại các
trang bị và phải gấp rút di tản các thương bệnh
binh đi theo chuyến tiếp tế này. Ngày 23 Tháng
Ba 75 vào lúc 3 giờ chiều, sau khi VC đồng loạt
pháo kích dữ dội vào tất cả các vị trí, địch từ
thượng lưu sông Bồ, xung phong tấn công vào các
tuyến của ÐÐ2/TÐ5/TQLC, vì quá bất ngờ và thiếu
cảnh giác nên 2 trung đội tận cùng cánh trái của
đại đội này bị bung tuyến. Tôi liên lạc với Ðại
Úy Trần Văn Loan ÐÐT hãy cố gắng gom con cái lại
và chỉnh đốn đội hình, đồng thời báo cáo tình
hình này về BCH lữ đoàn. Ðại tá lữ đoàn trưởng
ra lệnh là bằng bất cứ giá nào cũng phải chiếm
lại vị trí vừa mất.
Chấp nhận mọi hy sinh thiệt hại, ÐÐ4 của Ðại Úy
Nguyễn Văn Hai được tăng cường và đã hoàn tất
nhiệm vụ vào lúc 6 giờ sáng ngày 24 Tháng Ba 75.
Cũng trong thời gian này, hầu hết tất cả các đơn
vị Biệt Ðộng Quân, Ðịa Phương Quân tự động rã
ngũ bỏ tuyến phòng thủ Bắc Quảng Trị kéo về Huế
thật hỗn độn. Thị xã Quảng Trị coi như bị bỏ ngõ
hoàn toàn. Tiểu đoàn 4/TQLC được điều động về
làm nút chặn tại phía Nam cầu An Lỗ. TÐ7/TQLC
trấn dọc sông Mỹ Chánh từ cầu Vân Trình ra biển
Ðông, phòng tuyến cao nhất phía Bắc của miền
Nam.
Khoảng 4 giờ chiều cùng ngày, nhận được lệnh về
tham dự cuộc họp khẩn cấp tại BCH/LÐ. Ðại Tá
Lương, LÐT cho chúng tôi biết rõ tình hình tổng
quát và nhiệm vụ phải thi hành đêm nay là một
cuộc di tản chiến thuật cho tất cả các lực lượng
về cửa biển Thuận An, vùng đất từ Bắc đèo Hải
Vân trở ra rồi sẽ lọt vào tay địch... Cũng như
thành phố Quảng Trị bị vất bỏ một cách vô tội
vào sáng hôm nay khi mới chỉ có một vài loại
pháo kích lẻ tẻ đâu đó.
Thế là hết, còn gì đâu hào quang chiến thắng “Cờ
bay, cờ bay oai hùng trên thành phố thân yêu vừa
chiếm lại đêm qua bằng máu...” Máu của hàng vạn
đồng bào, máu của hàng ngàn chiến hữu nằm xuống
cho vùng đất hồi sinh và ngay bây giờ, từ tối
nay Huế cũng sẽ chịu chung số phận. Cố đô đầy
niềm kiêu hãnh tự hào dân tộc rồi sẽ bị nhuộm đỏ
bởi lũ người khát máu CS. Hàng trăm nấm mồ chôn
sống tập thể còn đó, máu xương mồ hôi nước mắt
của bao chiến sĩ QLVNCH còn đây trong lời thề
quyết tử bảo vệ cố đô Mậu Thân 1968. Còn đâu nữa
những ngày tháng vàng son nhất của người lính
chiến nơi tuyến đầu lửa đạn lúc nào cũng hùng
dũng hiên ngang. Có nỗi đau nào hơn niềm tủi
nhục của người lính bại trận!
Việc cần thiết trước nhất là phải làm sao bảo
đảm được đơn vị rút lui một cách trọn vẹn, an
toàn hầu đủ sức chịu đựng một cuộc dạ hành trên
đoạn đường dài gần 30 km. Thiếu Tá Ngô Thành
Hữu, tiểu đoàn phó và Ðại Úy Gianh Văn Nhân, ban
3 đang chờ đợi tại BCH tiểu đoàn. Chúng tôi cùng
đồng ý với nhau bằng một cuộc lui binh trong bí
mật, bất ngờ. Tất cả vũ khí nặng, cồng kềnh như
90 ly, súng cối 81 ly, hỏa tiễn TOW chống chiến
xa, đạn dược và những trang bị nặng nề được lệnh
phá hủy tại chỗ hay ném xuống dòng sông. Ðại đội
1 của Ðại Úy Hồ Văn Chạnh đóng chốt từ xa được
di chuyển trước, chúng tôi không sử dụng đoạn
đường quen thuộc hàng ngày, phải băng qua một
xóm nhỏ để đến cây số 17 cầu An Lỗ mà là dọc con
đường sắt xuôi Nam, rồi sau đó sẽ đổi hướng vế
quốc lộ 1 khi các đại đội đã bám sát được với
nhau. Ðã có chừng cả trăm người lính đủ mọi binh
chủng, không còn đơn vị đang tụ tập vây quanh 4
chiến xa M-48 nằm chơ vơ giữa lộ, nòng súng chỉa
thẳng về hướng quân thù, bình thản cười nói vui
vẻ như đang tham dự một cuộc dạ hành ngoài trời.
Ðến trường trung học Hương Trà nằm sát lề Ðông
quốc lộ, tiểu đoàn dừng lại để kiểm điểm quân số
và củng cố lại đội hình. May mà trong tay chúng
tôi còn 1 xe Jeep hành quân, cứ thế chạy lên,
chạy xuống để “tha” những người lính bết bát,
trễ nãi sau cùng. Ðiều tưởng như không ngờ, thế
mà đã xảy ra một cách thật tội nghiệp cho trung
đội Nghĩa Quân quận Hương Trà, tập họp và bị bỏ
quên tại đây chờ lệnh thượng cấp từ mấy ngày
nay. Người trung đội trưởng già đến xin tháp
tùng cùng chúng tôi. Vài chiếc xe M41 nữa cũng
bắt đầu nổ máy rầm rộ tiến giữa đoàn quân. Nhiều
đám đông dân chúng hòa lẫn hoặc nối đuôi phía
sau họ ra đi từ chợ Cạn, Hội Yên, Vân Trình, Hải
Lăng, Mỹ Chánh... từ ngày hôm qua hay sớm hôm
nay vì không còn gì để hy vọng vào sự bảo vệ của
người lính chúng tôi.
Tiếng khóc than vang vọng thấu trời xanh, họ,
những kẻ bất hạnh, còn lại sau cùng đang lê lết
từng bước một lần mò tìm “tự do” vì một cuộc chủ
nghĩa Cộng Sản bạo tàn. Vài cụ già chống gậy,
các trẻ thơ vô tội kia rồi sẽ ra sao? Liệu có
còn đủ sức hay phải kiệt hơi ngã quỵ dọc đường.
Rời ngã ba An Hòa rẽ phải tiến về Huế, thành phố
bỏ ngõ tối tăm rải rác còn lại vài bóng bên
đường. Nhiều vết lửa tung tóe lên bầu trời u tối
do những trái sáng được ném từ các toán lính tan
hàng mất đơn vị chẳng biết phải làm gì. Súng vẫn
nổ lẹt đẹt đó đây hòa lẫn tiếng chó tru vọng ra
từ các căn nhà vắng chủ. Phú Văn Lâu vẫn nằm đây
bên bờ sông Hương, nhưng còn đâu bóng dáng các
con đò quen thuộc hàng ngày. Tiểu đoàn bắt đầu
tiến quân qua chiếc cầu đúc mới xây bên dưới bến
bờ Nam dòng sông, rồi từ đó quẹo trái về Ðông,
hướng ra biển. Tôi cho xe dừng lại ở phía bên
này cầu chờ đợi cho hết người lính sau cùng. Cảm
thấy khá an tâm và một chút hãnh diện về những
binh sĩ thuộc quyền, tất cả đều can đảm, hy sinh
chịu đựng và luôn tuân lệnh cấp chỉ huy ngay
trong những giờ phút nguy hiểm nhất như lúc này.
Tôi không nhớ là bao nhiêu lần mình đã nhân danh
thẩm quyền để mà ra lệnh cho thuộc cấp xung
phong vào chỗ chết. Với 12 năm trong cuộc đời
binh nghiệp, con số này chắc không ít lắm đâu?
Dĩ nhiên là cấp chỉ huy nhỏ, tôi cũng chỉ là kẻ
truyền và kiểm soát lệnh và cá nhân mình cũng bị
xoay quanh trong các vòng luẩn quẩn ấy! Vài con
gió mạnh thổi từ mặt biển vào, cũng nơi đây cây
cầu, dòng sông một thời kỷ niệm, tôi bỗng cảm
thấy luyến tiếc thèm khát tìm gặp lại một vài
nơi chốn quen thuộc lần cuối may ra hình ảnh cũ
để nhớ người xưa! Cho tài xế lùi xe lại tiến về
hướng đại lộ Trần Hưng Ðạo và dự định theo cầu
Trường Tiền cũ qua sông. Ðường trống vắng chẳng
có một chiếc xe nào lai vãng, xa xa trong bóng
tối chập chờn, lác đác vài bóng người. Tôi bắt
đầu cảm thấy ớn lạnh. Bây giờ ngoài đơn vị TQLC
ra, các đơn vị khác chẳng còn gì nữa để mà phân
biệt lẫn nhau, quả thật chẳng còn tình nghĩa gì
ràng buộc, nếu có ai đó nổi hứng “bóp cò”.
Có lệnh cho tôi tiến về phía trước để gặp Ðại
Bàng Long Mỹ (Ðại Tá LÐT), ông giao cho một xấp
bản đồ và thay đổi lộ trình về phía phà Tân Mỹ,
đoạn đường từ đầu thôn Vỹ Dạ về cửa biển Thuận
An không thể nào nhúc nhích nổi, nhiều dòng
người di tản cùng các đơn vị tan hàng đổ về đây
với không biết bao nhiêu xe cộ. Thượng Sĩ
Thương, thường vụ tiểu đoàn, chẳng biết từ đâu
mang về vài két bia 33, có lẽ từ khách sạn Hương
Giang bỏ trống? Anh nói với tôi,
-Nhậu đi Ðại Bàng, đang buồn ngủ mà gặp chiếu
manh.
- Thôi nhanh lên mà đi ông ơi! Non nước này mà
còn nhậu với nhẹt!
Từ hướng quán cơm Âm Phủ, một người đàn ông già
trạc 60 tuổi tìm đến phàn nàn về một số lính vào
đập phá, lục lạo nhà của ông ta.
- Coi chừng Việt cộng đó Ðại Bàng.
Thử hỏi ai mà biết được ai trong thời buổi tranh
tối, tranh sáng này, ngay cả toán lính đập phá
kia - có điều tại sao trong hoàn cảnh như thế
này mà ông ta là kẻ dửng dưng như vậy!
Qua khỏi cầu Ðập Ðá một quãng nữa, bắt đầu rẽ
phải vào con đường đất, thôn Vỹ Dạ chìm đắm
trong màn đêm u tịch, đó đây leo lét nhiều ngọn
đèn dầu từ khắp các miếu thờ, vết tích vàng son
của một thời vua chúa. Chó càng lúc càng sủa
vang bên những khu vườn trống vắng, đoàn quân
vẫn tiến đều. Ðến khúc lộ bị hư, đành phải vất
bỏ xe lại dọc đường.
-Phá hủy xe đi ông thầy.
-Không cần, mình đang di chuyển, không nên gây
tiếng nổ.
Lẩm bẩm trong miệng, Liên, tài xế mò vào túi
quần lấy ra con dao, cắt hết tất cả dây trong
đầu máy xe và quăng bình điện vào một bụi rậm
gần đó. Anh cũng không quên hốt thật nhiều cát
bỏ vào bình xăng và nói,
-Ai ngu để cho lũ ác ôn sử dụng, mình không
dùng, phá hư luôn... hì... hì...
Ðến tờ mờ sáng thì toàn thể đơn vị đã có mặt bên
này phá Tam Giang mênh mông, niềm vui rạng rỡ
trên mặt mọi người. Phải mất thêm 3 tiếng đồng
hồ nữa mới đến được bờ bên kia sát biển bằng một
số “ghe gọ” của dân còn lại ở xóm chài. Từ lâu
mới có một ngày nắng đẹp như hôm nay, bầu trời
trong xanh với nhiều tia nắng long lanh chiếu
vào mặt biển. Gió vi vu vừa đủ để mơn trớn các
con sóng vỗ ì ạch vào bờ. Không còn gì thích
bằng ngồi đây, dưới bóng râm của hàng dương xanh
thẫm, trên đồi cát, hướng mắt về đại dương bao
la, nơi đó nhấp nhô nhiều con tàu như người tình
mơn trớn hứa hẹn. Ăn vội ít cơm ở bao gạo sấy
còn lại, trong chớp mắt chập chờn, tiếng la
khóc, than van còn mãi ám ảnh trong trí tôi trên
đường rút chạy sáng hôm nay.
Cuộc đời khổ đến thế là cùng! Tỉnh giấc khi có
lệnh cho đơn vị chuẩn bị ra bãi bốc để lên tàu.
Ðó là khoảng 2 giờ ngày 25 Tháng Ba 75. Cả lữ
đoàn tập họp trên bãi cát trắng xóa theo thứ tự
sẵn sàng như một cuộc hành quân đổ bộ ngày nào.
Ðâu phải chỉ việc sắp hàng chờ lệnh lên tàu là
xong, địch đã rượt theo ta đêm hôm qua, đã mò
sát đít chúng tôi sáng hôm nay, địch đã có mặt
bên kia bờ phà, địch đã trà trộn trong đoàn
quân. Theo lệnh của mặt trời Papazulu nào đó
(Tướng Lâm Quang Thi, TLP/QÐ1!!!), chiếc HQ-801
dành riêng cho TQLC đã chực sẵn cách bờ khoảng
50m. Nhưng đâu phải chỉ có chúng tôi cần sống,
còn dân chúng, những người lính mất đơn vị hỗn
độn kia, họ cũng cần cứu vớt như chúng tôi, mà
chẳng ai có kế hoạch gì riêng để giúp đỡ họ.
Trong cơn quẫn bách này, không ai cần nghĩ đến
ai, chà đạp tranh giành nhau mà sống, mạnh được
yếu thua, khi con rắn đã mất đầu chỉ còn lại cái
đuôi tha hồ mà ngóc nguẩy. Như sức bật của chiếc
lò xo, tất cả ùa nhau tràn ra tàu, người không
biết lội ôm sát người biết bơi, ngụp lặn với tử
thần trong sóng nước, vài chiếc xe M-113 lội
nước ủi tới đè lên, tiếng rên la gào thét. Một
sơn sóng nhồi lên, hai cơn sóng đập xuống, những
cái đầu lô nhô, nhiều thân hình chìm lịm, mất
hút trong khi con tàu vẫn nổ máy đợi chờ. Ðịch
đã vượt phá Tân Mỹ, đã có mặt ở cái miếu trên
đồi cát đầu làng. Ðịch đã bắt sống một số lính
phía sau, địch bắt đầu pháo rải rác khắp nơi
trên mặt biển.
Bãi bốc đã không còn an ninh mà trật tự cũng
chẳng có. Con tàu đành bất lực rời bến. Ðể được
an toàn hơn, lữ đoàn quyết định dời bãi bốc về
hướng Nam và bằng đủ mọi cách phải tách rời đám
đông hỗn loạn kia hầu dễ dàng đối phó với tình
hình mới. Dọc theo mé nước đầy rẫy xác người,
những bộ mặt nhợt nhạt, bất động, ngừng thở theo
cơn sóng biển dập vùi, có lạ, có quen. Người dễ
nhận ra nhất là Ðại Úy Ân, ÐÐT/ÐPQ tiểu khu
Quảng Trị.
Chúng tôi đã di tản chiến thuật bằng con đường
máu ở mặt trận Hạ Lào 1971, đã rời bỏ Ðông Hà,
Quảng Trị dọc đại lộ kinh hoàng mùa Hè đỏ lửa
năm 1972. Với sự nguy hiểm cùng cực nhưng tinh
thần đâu có quá tuyệt vọng như bây giờ vì dù sao
cũng còn chút gì để hy vọng ở đoàn quân tiếp tế
phía sau. Còn ở đây rơi vào tình thế vô cùng
tuyệt vọng. Cả nguyên lữ đoàn có hơn 3,000 quân,
tiến thoái lưỡng nan trong cái túi càn khôn chỉ
vỏn vẹn 4 km 2, đang giơ lưng chịu trận. Tàu
chiến Hải Quân QLVNCH vẫn trương cờ lảng vảng
ngoài khơi, nhưng các khẩu đại bác đâu rồi?!
Niềm hy vọng mong manh còn nhen nhóm là sẽ được
tàu vào đón, nhưng sẽ ưu tiên theo thứ tự nào?
Ðơn vị nào sẽ phải nằm lại chịu trận và làm vật
hy sinh sau cùng? Bóng chiều bắt đầu trải dài
trên bãi cát trắng xóa mênh mông để báo hiệu màn
đêm buông xuống. Lữ đoàn quyết định rải quân
phòng thủ. TÐ4 và 7 phụ trách mặt trận Tây, TÐ3
phía Nam, TÐ5 chúng tôi phía Bắc. Ðại Úy Tô
Thanh Chiêu, ÐÐT/ÐÐ2 và Thiếu Tá Nguyễn Trí Nam
TÐP/TÐ4/TQLC đã hy sinh trong giờ phút thứ 25
này cùng một loạt đạn của tên du kích hèn nhát
bắn lén trong khi làm nhiệm vụ điều động quân
rải tuyến. Ðiều đáng thương tâm nhất là hai
người vừa mới lập gia đình và cả hai bà vợ đang
mang thai. Cái chết thật quái ác, tình cờ bởi
bàn tay oan nghiệt của tạo hóa, định mệnh!
Tin từ BCH/LÐ cho biết là tàu sẽ vào đón đêm nay
hay trễ nhất là sáng sớm ngày mai theo thứ tự
như sau: BCH/LÐ, TÐ2PB, TÐ4, TÐ3, TÐ5, TÐ7...
Ðúng theo sự suy nghĩ dự đoán của chúng tôi, lẽ
dĩ nhiên các đơn vị tan hàng hay bị sứt mẻ không
còn khả năng chiến đấu thì ưu tiên mang họ đi
càng sớm càng tốt để không làm vướng bận các đơn
vị còn lại. Nhưng cả BCH/LÐ đi hết thì ai sẽ là
người chỉ huy chúng tôi. Ðiều này thật cần thiết
và quan trọng nhất. Cái thứ tự di chuyển mà
không một binh thư nào viết ra hoặc chúng tôi
chưa hề áp dụng trước đây.
Qua ánh trăng mờ ảo, dòng người bị bỏ lại ban
chiều đang ồ ạt kéo về tuyến phòng thủ. Không
còn cách gì hơn là phải chận họ lại nằm sát
phòng tuyến trong tầm bảo vệ hỏa lực để khỏi làm
xáo trộn cho sự điều động chỉ huy của quân bạn
bên trong. Súng vẫn nổ đều khắp nơi và chẳng có
con tàu nào cập bến. Trăng vẫn lên cao, khuya
dần. Cùng lúc, vài tốp người xé lẻ, hèn nhát
tách bến rã ngũ ra khơi.
Rạng sáng ngày 26 Tháng ba 75, khi ánh bình minh
vừa ló dạng ở phương Ðông thì con tàu cùng thủy
thủ đoàn cũng bắt đầu tiếp tục nhiệm vụ, ủi
thẳng vào bờ theo sự điều động của BCH. Ðã có
chuẩn bị sắp xếp từ trước, nên việc di chuyển
lần này tương đối trật tự hơn. Ưu tiên vẫn là
BCH/LÐ và các thương phế binh từ các đơn vị mang
đến. Ðịch thừa thắng xông lên cố ra sức đánh vào
đầu chúng tôi những đòn thù chí tử. Ðây là điều
nghiệt ngã nhất của chiến tranh, có vay có trả.
Chúng tôi đã diệt gọn nguyên trung đoàn 48 địch
một cách không thương tiếc khi quét sạch chúng
ra khỏi hang cuối cùng tại cổ thành Quảng Trị.
Những vòng sắt oan nghiệt của đoàn chiến xa M48
và M41 đã nghiền nát vô số lính cộng sản Bắc
Việt, sinh Bắc tử Nam, qua các dãy địa đạo ngầm
trong hầm khi tấn công tiến vào cửa Việt.
Pháo địch cùng lúc càng mãnh liệt hơn và chiếc
tàu nằm chình ình giữa biển khơi vẫn là mục tiêu
tốt nhất để chúng điều chỉnh tác xạ ngắn, dài...
Một cục lửa, hai cục lửa, rồi quá nhiều cục lửa
của loại hỏa tiễn tầm nhiệt AT3 rải rác đó đây.
Có cái rớt ngay dòng người di tản ngụp lặn theo
sóng nước. Có cái trúng thẳng vào thân tàu. Con
tàu tròng trành nhổ neo tách bến.
Ðể bớt căng thẳng, tôi chui ra khỏi hố trú ẩn
làm một vòng quanh tuyến. Những vệt sáng của lằn
đạn đạo thẳng cùng nhiều quả đạn pháo kích đan
chéo nhau vi vút trong gió biển. Các khẩu súng
cối 60 ly và phóng lựu M79 của ta đáp lễ cầm
chừng, không khả năng nhiều lắm nhưng cũng để
chứng minh rằng “bên em vẫn đang có ta đây!” Dọc
theo mé nước sát biển, thầy trò Thiếu Tá Võ Ðằng
Phương, TÐT/TÐ2/PB/TQLC, Ðại Úy Lê Tự Hào cùng
một vài người lính đang gấp rút sử dụng các mũ
sắt của mình để cào cào moi hố. Họ là những
người sau cùng bị sót lại khi hầu hết đơn vị
mình đã được lên tàu.
- 207 đây 416 gọi. Anh ở lại take care con cái.
-Vâng! Nhận rõ.
416! 207 là biệt hiệu của Thiếu Tá Phạm Cang
TÐT/TÐ7/TQLC, người thâm niên và giỏi nhất trong
đoàn bạn tôi. Còn 416 là danh xưng của Trung Tá
Nguyễn Ðằng Tống LÐP/LÐ147.
Nắng chiều nhạt dần, sóng biển rì rào và bờ cát
lại trống vắng đến lạnh lùng, không còn một bóng
người lai vãng, họ đang chiến đấu ở tuyến đầu,
họ tránh núp đạn dưới hố sâu, họ hối tiếc, thèm
thuồng về một con tàu khác. Các đại đội lại thêm
một số bị thương, lại thêm vài người chết nữa.
Ðạn dược, lương thực cạn dần trong khi chúng tôi
cố hết sức giữ vững tinh thần binh sĩ bằng cách
liên lạc máy thường xuyên với các đại đội. Cảm
giác bị vất bỏ bắt đầu nhen nhúm trong ý nghĩ
mình, nhưng tôi vẫn chưa dám tin rằng điều này
có thật, vì nếu như vậy thì còn thể thống gì đến
quân đội và tổ quốc mà biết bao người đã hết
lòng yêu thương và phục vụ. Mò mẫm vào cuốn đặc
lệnh truyền tin, tôi vặn máy qua tần số BTL/SÐ
đang ở đâu trên đèo Hải Vân, với trạm liên lạc
chuyển tiếp giữa Huế và Ðà Nẵng. Người tiếp tôi
là Ð/U Ðan, tùy viên tư lệnh,
-Ðại Dương, cho tôi xin gặp Lạng Sơn (biệt danh
của Thiếu tướng Bùi Thế Lân, tư lệnh SÐ/TQLC).
-Lạng Sơn đang bận lắm. Có gì ông anh nói, tôi
sẽ chuyển.
-Nhờ Ðại Dương trình với Lạng Sơn cho chúng tôi
lệnh kế tiếp.
-Ở đây cũng đang lu bù lắm, không ai có thể giúp
gì được cho ông anh. Tốt hơn hết là
self-service. Good luck ông anh!
Mặt mày tối tăm, xây xẩm, thất vọng, tôi ném ống
liên hợp xuống cát... self service... có nghĩa
là tự lực cánh sinh, tùy cơ ứng biến, có thể là
mạnh ai nấy lo, có thể là tan hàng! Khoảng quá
xế trưa, mặt trời Papazulu lại xuất hiện bằng
một giọng thật đanh thép, ông ra lệnh cho một
chiếc HQ khác, bằng bất cứ giá nào cũng phải bốc
tiếp chúng tôi. Con tàu lại tách sóng hướng
thẳng vào bờ phía Bắc tuyến phòng thủ chừng
200m. Lần này, TÐ4 sẽ lên tàu dưới sự sắp xếp
chỉ huy của Thiếu Tá Ðinh Long Thành, tân TÐT
của đơn vị này. Bất kể là đơn vị nào, bất cứ là
ưu tiên cho ai, thật nhiều đám người từ mọi
hướng đổ ập về đây tràn xuống như thác lũ. Con
tàu quá tải tròng trành trên mặt nước, chân vịt
ngưng quay nằm bất động vì máy đã hỏng rồi. Lại
thêm một đêm nữa rồi sẽ đến với tình thế mỗi lúc
một tồi tệ hơn. Phải quyết định ngay bây giờ,
nhưng giải quyết bằng cách nào đây? Tôi gọi HS1
Lê Hồng Quảng Nam, người cận vệ thân tín nhất
đến, sau khi đã cạo nhẫn bộ râu của mình, chính
nhờ nó mà tôi đã ăn nên làm ra trong đời binh
nghiệp và được giấy phép của bộ TTM cấp hẳn hòi
với lý do: “Uy tín cấp chỉ huy”.
-Anh chuẩn bị cho tôi một ít nước uống và vài
bao gạo sấy để phòng thân.
Nam do dự mếu máo,
-Ông thầy đừng bỏ tụi em, có gì cho tụi em theo
với.
Thuận, Thành hai hiệu thính viên cũng òa lên
khóc.
-Yên trí, thầy trò mình sẽ sống chết có nhau mà.
Ðầu óc tôi cứ mãi bị ám ảnh bởi lời đề nghị của
Ð/U Ðan là ông anh nên “self service”. Nhưng
chuyện này cũng có 5, 7 cách khác nhau. Hãy tìm
một vài người lính thật khỏe mạnh, bơi nhà nghề,
mà phải là dân chuyên đi biển ở Nha Trang hay
Phan Thiết, mò vào nhà dân hay dọc theo mé nước,
tìm sẵn một chiếc ghe thật tốt, chuẩn bị sẵn
sàng, thừa nước đục thả câu sẽ cùng bỏ trốn như
loài chuột. Nhưng cũng chẳng phải dễ dàng lắm
đâu! Chúng tôi sẽ bị bắn chết bởi đồng đội trước
khi nạp mình cho bầy cá mập, hay là tuyên bố
hoạch toẹt rõ ràng, đơn vị tan hàng, mạnh ai nấy
lo, đâu phải lỗi ở mình. Ðiều này quá trắng trở
và trắng trợn, chẳng còn tình nghĩa gì. Nếu còn
sống làm sao dám nhìn lại mặt nhau như Hai Chồn,
Pake, Loan Mắt Nhung, Chanh Trọc, Ba Ngành, các
ÐÐT lương đen lì lợm, nhậu rượu như uống nước mà
đánh giặc rất chí tình. Tôi liên lạc máy với
Thiếu Tá Cang TÐT/TÐ7 cùng Thiếu Tá Sử TÐT/TÐ3,
chúng tôi cùng đồng ý với nhau là chẳng còn cách
nào khác hơn, mở đường máu xuôi Nam về cửa biển
Tư Hiền còn nước, còn tát.
Nói là mở đường máu chứ thực ra chỉ là cách thối
thác cho một sự tan hàng, đường về bít lối, vì
nếu có trầy da tróc vẩy đến nơi thì cũng chỉ là
vùng trời mây nước mênh mông, ngồi đó chờ nộp
thịt cho chằng. Di chuyển cũng theo thứ tự lớp
lang, nhưng đội hình chẳng còn. Sức mòn, lực
kiệt, súng cầm tay, tinh thần đã mất, đạn dược
cũng không, cứ nhắm mắt nhắm mũi mà chạy
1,2,3,4... 1,2,3,4 “đường trường xa con chó nó
tha con mèo...” càng xa địch bao nhiêu càng tốt
bấy nhiêu.
Nhiều tiếng nổ chát chúa phía sau, của địch thì
ít mà của ta thì nhiều. Những người lính bị
thương không còn khả năng theo kịp đoàn quân, bò
lết lại với nhau, bung chốt lựu đạn nổ để “thà
chết vinh, còn hơn sống nhục”. Ðứa con đầu của
TÐ3 Sói Biển đang bị một đại đội du kích chận
lại, phía trước ùa về, ở sau đùn tới, vô vọng,
tuyệt vọng, chưa bao giờ tôi cảm thấy thèm sự
sống bằng lúc này, miệng luôn luôn lẩm bẩm xin
Phật Trời giá hộ “cùng tắc biến, biến tắc
thông”.
Nhóm chúng tôi gồm 5 người tấp vào xóm dân chài,
hy vọng sẽ được giúp đỡ bởi tình quân dân cá
nước ngày nào, nhưng hiện tại quân đã tan thì
tình cũng chẳng còn, mặc dầu đã cố gắng nài nỉ
hết sức kể cả tiền bạc thuê mướn, nhưng họ đã từ
chối thẳng thừng. Chủ ghe là gã trung niên lực
lưỡng, mặt rỗ hoa mè chắc là tên Việt cộng nằm
vùng hay du kích gì đó. Thôi thì “tam thập lục
kế”, kê súng vào đầu dọa nạt là thượng sách
nhất.
Ðây là lần thứ hai tôi chạy giặc, lúc nhỏ vào
lúc 5 tuổi theo mẹ trốn vào rẫy mỗi lần “mới sớm
mai thằng Tây nó bố vào rừng ta quyết trốn”. Và
bây giờ sau 26 năm khi đã trưởng thành trong
quân ngũ... vẫn còn súng đạn trong tay cùng
những chiến hữu bạn bè, tôi phải chạy trốn giặc
Cộng, thằng chủ ghe đang ngồi với tôi bây giờ là
một tên VC chín rõ mười mươi, hắn phá máy cho
ghe ngừng, hắn làm dấu chỉ điểm mỗi lần kề sát
ghe địch. Nhiều người dọa đánh hắn tại chỗ, tôi
ngăn không cho, chuyện gì rồi cũng phải tính
đường về, nếu nhỡ thì sao!
Chỉ vỏn vẹn mấy ngày phù du mà bao điều biến đổi
dồn dập bất ngờ, không biết số phận của tôi và
bao nhiêu người khác nữa rồi sẽ ra sao khi ánh
bình minh của một ngày mới xuất hiện, Hy vọng
sống còn chỉ là việc hiếm mọn nhỏ nhoi trong cái
chết xảy đến mới là điều chắc chắn.
Tờ mờ sáng hôm sau, sau khi đã cạn hết nhiên
liệu, chiếc ghe đành nằm chênh vênh trên mặt
nước mênh mông vùng Tư Hiền, giữa rừng cờ giặc.
Xa xa là những dãy núi chập chờn xanh thẳm của
đỉnh đèo Hải Vân như réo gọi, mời mọc, thèm
thuồng, tiếc rẻ. Và như số phận đã an bài, nhưng
rồi cũng có lúc “chí tuy còn mong tiến bước mà
sức không kham nổi đoạn đường dài, sự nghiệp bao
năm đeo đuổi thôi cũng đành gián đoạn từ đây...
bởi đâu? do đâu? vì đâu?
Giã từ vũ khí, ném súng xuống dòng sông định
mệnh, ngồi chờ địch đến đổi đời lịch sử sang
trang. Chúng tôi bị trói tay lùa lên bờ. Chúng
tôi bị “giải phóng” tất cả quần áo, đồng hồ, dây
chuyền, đồ đạc. Một vài người bị dẫn đi xử bắn
dã man. Chúng tôi bị xỉ vả, đấu tố làm tay sai
cho đế quốc. Chúng tôi không còn là chúng tôi
nữa, chỉ vì chúng tôi là chiến sĩ QLVNCH bảo vệ
miền Nam Tự Do, bị bỏ rơi lại phía sau thề sống
chết thủy chung và chiến đấu hết mình. Cuộc đời
tù đầy của vài ngàn quân cũng bắt đầu từ cái
ngày đáng nhớ ấy... 27 Tháng Ba 75 tại một địa
danh nhỏ, hẻo lánh, quen thuộc: thôn Vĩnh Lộc,
Thừa Thiên, Huế ngay trên tổ quốc thân yêu của
chúng tôi...
Mũ Xanh Phạm Văn Tiền
|
|
|
|