Đời H.O. Của … Bà
Bác Sĩ David Phạm
Hôm Sài G̣n thất thủ, trời buồn rưng
rưng, mây đen phủ màu tang tóc trên
thành phố. Có ai nói trời đang khóc. Ông
ngoại hồi đó 33 tuổi mang lon Đại úy phi
công, bà mới 29 tuổi tay dắt ba người
con, bế theo cậu út đỏ hỏn chưa đầy ba
tháng tuổi. Ông ngoại về căn nhà nhỏ bên
kênh Thị Nghè, tháo vội bộ quân phục.
Chú Tám từ ngoài đường, tḥ đầu vào hốt
hoảng báo
“Việt Cộng đến, hàng xóm người
ta đang đốt hết giấy tờ, đồ đạc liên
quan đến lính. Không th́ chết”.
Bà thổi
ḷ lửa, ném tất cả h́nh ảnh, đồ quân
dụng của ông vào đốt sạch. Những mặt
người ngẩn ngơ, nín lặng nh́n nhau trong
nỗi hoang mang u ám. Tai họa theo chân
bộ đội Bắc Việt như cơn đại dịch khốc
liệt lan tràn không ǵ kềm chế nổi. Dù
chẳng ai đoán được tai họa sẽ ra sao,
nhưng biết chắc những tháng ngày bất
hạnh đang đến.
Chừng vài tuần sau, ông có lệnh của
chính quyền mới chuẩn bị đồ ăn, quần áo
đủ dùng cho một tháng đến chỗ tập trung
tất cả “lính ngụy”. Hú hồn, chẳng biết
họ làm ǵ nhưng cứ bấm bụng một tháng là
gia đ́nh ta sum vầy. Ông bớt lo; bà tháo
bớt vẻ căng thẳng trên mặt chuẩn bị hành
trang cho ông đủ dùng hơn một tháng.
Buổi sáng hôm ấy, ông hé cánh cửa bước
đi, không dám đưa tay chào. Bà bế cậu út
tiễn ông, lặng lẽ nuốt vội nước mắt vào
trong. Gia đ́nh, hàng xóm chào tạm biệt:
tháng sau gặp lại nhé. Rồi ông đi. Một
tháng, một năm... tháng ngày trôi, sơn
khê biền biệt. Bà ôm bốn đứa con nhỏ,
đau khổ cắn răng chờ ông trong nhà chồng
chật chội bên ḍng kênh đen Thị Nghè.
Những trưa hè, mái tôn thấp phà hơi nóng
xuống ḿnh mẩy rôm sải mấy đứa con. Đ̣n
thù đánh xuống ngày càng khốc liệt. Miền
Nam thành ngục tù vĩ đại. “Sỹ quan ngụy”
bị dồn vào các trại tập trung “cải tạo”
mà chính quyền cấm gọi là “nhà tù”. Có
lẽ trong một nhà tù bao la mang tên Việt
Nam, không thể có cái gọi là “nhà tù”
nữa; và danh từ “trại tập trung cải tạo”
nghe mới gần nghĩa trại tập trung của
Đức Quốc Xă về độ ác ôn đê tiện. Dân
miền Nam bị bóc sạch cả nghĩa đen lẫn
nghĩa bóng. Thân xác đói khổ, tinh thần
bị khủng bố bằng chiêu “chuyên chính vô
sản” tàn ác và ngu xuẩn.
Đến năm thứ hai th́ bà nghe tin ông,
cũng là lúc ông bị chuyển ra trại giam
Vĩnh Phúc ngoài Bắc. Bà rũ lớp quần áo
vải xoa lượt là cất trong ngăn tủ, khoác
vào người bộ bà ba bằng vải lên người.
Trong cơn đói nheo nhóc của bốn đứa con,
bà xoay sở đủ cách cố sống đến ngày mai.
Bà theo người ta xếp hàng mua bán đồ nhu
yếu phẩm, gạo muối “bao cấp”. Bà kéo
chiếc xe gỗ nhặt nhạnh ở đâu đó, đóng
bằng chính tay bà, ra ngoài đầu đường
bán thuốc lá lẻ. Rồi bà bắt chước người
ta chiên bánh bán, đi buôn gạo dưới miền
Tây... làm đủ tṛ. Ơn Trời, bà rất giỏi
và tháo vát; nhưng vượt trên tất cả là
một tấm ḷng nhân hậu, thương chồng
thương con. Bà gói quà từng đợt gửi ra
Bắc giúp ông bớt đói trong tù. Tưởng
tượng lúc ông nuốt miếng “mắm khô quẹt”
để vợ chồng nhớ nhau. Ông có biết đâu
người trong tù quá kham khổ mà người
ngoài đây có hơn ǵ. Năm 1978, toàn nước,
nhất là miền Nam có nguy cơ rơi vào nạn
đói lớn. Trong cơn đói khổ, bà c̣n bị
người bà con làm vài vố lừa, cướp mất
miếng cơm những đứa con. Cái đói làm
người ta quên nhau là con người. Những
tháng ngày lam lũ, bà bắt đầu nhuốm bệnh
lao. Thuốc men làm ǵ có, bà chỉ thấy
sao ḿnh mệt mỏi theo tháng ngày. Sau
này bệnh lao trổ nặng, suưt d́m bà ngă
gục măi măi. Khi thuyền khổ sắp ch́m th́
may c̣n một chỗ. Bà đem cả bốn đứa con
ra Phan Thiết gửi nhờ ông bà cố giữ giùm.
Ông đi tù bốn năm sau th́ bà được cho đi
thăm nuôi. Chuyến Bắc hành của bà khi
nghe kể lại mà rùng ḿnh như truyện liêu
trai. Trời hẳn cũng đau ḷng nên gửi
thiên sứ đến giúp bà trên từng bước chân
rướm máu. Từ Saigon bà mua vé tàu Thống
Nhất đi Hà Nội. Đợi hơn tháng trời, lúc
sắp lấy được vé th́ bà bị nhân viên bán
vé lừa lấy mất. Có ông hàng xóm làm
trong ga xe lửa Ḥa Hưng giúp đ̣i lại vé.
Xong vụ này, ông ấy bị tù giam vài ngày
v́ chúng ghét chuyện nghĩa hiệp. Bà nén
lương thực cho chặt vào hai tay nải nặng
ba chục kí lô. Mồ hôi và nước mắt của bà
thấm trong từng nắm cơm, thớ thịt thăm
nuôi cho ông. Sáng sớm bà quảy gánh ra
ga Ḥa Hưng đón tàu.
Tàu lửa xuyên Việt mang tên Thống Nhất
đẹp đẽ mang người thiếu phụ Saigon đơn
côi ra thăm chồng trong nhà tù ngoài vĩ
tuyến. Tàu đi ngang qua ga Nam Định th́
bị đám trẻ chăn ḅ bên đường ném đá và
phân ḅ tới tấp. Chúng chỉ ném cho vui
chứ chẳng hại ai (!)nhưng bà thấy lạ.
Cuối cùng th́ tàu cũng đến ga Hàng Cỏ,
Hà Nội. Từ đây, bà phải đón xe điện đến
bến ga đi Vĩnh Phú. Xuống ga Vĩnh Phú
chừng 10 giờ đêm, khách xuống tàu mỗi
người mỗi ngả rồi mất hút trong màn đêm.
Bỗng có tiếng “Cướp! cướp!” thót ḿnh,
rồi tiếng bộ đội bắn chỉ thiên đuổi cướp
chạy thục mạng. Bà ngồi lại một ḿnh bên
ga vắng. Có ít tiền lận măi trong ruột
tượng bó sát người, hai tay nải suưt mất
mấy lần trên tàu để bên rồi bà ngồi lên
chiếc đ̣n gánh. Lúc này, nỗi hoàng sợ
mới ập đến. Mấy tháng trước ông gửi thư
chỉ đường đến trại. Đường đi là do ông
nghe lóm được bạn tù chỉ dẫn rồi viết
lại: cứ đến địa danh này th́ chuyển đến
địa danh khác. Chẳng có một tin tức ǵ
về lịch tŕnh tàu xe. Giờ giữa đường
khuya vắng, biết đâu mà lần. Bà lầm nhẩm
đọc kinh Kính Mừng.
Bỗng có người vỗ vai bà từ phía sau,
tiếng một đứa bé gái hỏi: “Cô ơi, cô làm
ǵ mà ngồi đây? Nguy hiểm lắm!” Chẳng
hiểu nó từ phía nào đi lại, bà giật ḿnh
quay lại. Màn đêm dày đặc che mặt nhau.
Bà nói phải đi đến bến phà Trang. Bé gái
lạ nói: “Cô theo cháu!” Bà đứng dậy,
quàng gánh lên vai rồi theo đứa bé. Nó
chừng 13-14 tuổi, không thấy mặt. Hai
người lặng lẽ băng màn đêm vào con đường
ṃn độc đạo giữa đồng, không thấy cả một
ánh đèn nhà xa xa. Suốt quăng đường
chẳng ai nói với nhau một lời. Thỉnh
thoảng dừng một chút để đổi gánh, nhưng
đứa bé luôn đi sau. Bà không hề nghi
ngại hoặc thắc mắc về đứa bé lạ đang đi
cùng ḿnh. Không biết nó sẽ dắt ḿnh đi
đâu trên con đường hun hút giữa đêm
khuya. Không ai kêu khát hay đói. Đến
chừng ba tiếng đồng hồ sau, đứa bé gái
dừng lại, chỉ tay phía trước nói: “Bến
phà ḱa. Cô đến đó đi”. Bà kịp thấy bến
đ̣ vắng hoe xa xa trong màn đêm. Bà quay
lại muốn cám ơn và cho đứa bé ít tiền,
nhưng không thấy nó đâu cả, bốn bề chỉ
thấy đồng không hoang vắng. Có lẽ một
thiên thần nhỏ của Chúa làm xong sứ mệnh
rồi vụt bay hay một ông bụt bà tiên
trong cổ tích hiền lành nào vừa đến với
đời.
Tự tay bà kéo phà Trang giữa đêm. Loại
phà này di chuyển bằng cách để khách bám
vào sợi dây nối hai đầu sông rồi kéo cho
phà đi. B́nh thường ban ngày mỗi chuyến
cũng phải vài người, nhưng bà đến giữa
đêm nên đành làm khách độc hành. Đến bờ
bên kia trời đă tờ mờ sáng, bà chỉ kịp
ngồi nghỉ và uống chút nước. Sắp tới
trại của ông nhưng cuốc bộ với tay nải
30 kí-lô cũng cả một hành tŕnh. Đường
có đoạn lên đồi xuống dốc. Đến chỗ dốc
bà buông tay nải cho lăn xuống, lúc lên
th́ bà kéo; giờ th́ bà chỉ c̣n nhiêu đó
sức. Mặt trời lên dần, nhưng hôm đó mát
mẻ, bớt chút mệt nhọc cho bà. Đến khúc
quanh bên đường, có người đàn ông trung
niên đang chăn ḅ. Đây là khu vực trại
cải tạo nên hẳn ông là lính VNCH đang bị
tù. Ông cười rồi cất tiếng:
“Cô ở trong
Nam ra hả cô?” Trời, giọng Nam bộ, nghe
sao mà ngọt ngào giữa đất Bắc xa lạ và
hằn học.
“Dạ, tui đi thăm chồng. Ông
cũng ở trại này?”
Hai người hỏi thăm
nhau vài câu, ông đại tá (theo lời ông,
đó là quân hàm cuối cùng của ông khi mất
nước) chăn ḅ bỗng khóc như mưa. Ông cám
cảnh phận mồ côi, vợ ông trong Nam đă bỏ
không một lần thăm nuôi. Bà tháo tay nải
lấy nắm xôi dúi vào gốc trà gần đó cho
ông thấy, rồi vội chào mà đi. Một đỗi,
có người bộ đội đạp xe cùng chiều đi
ngang hỏi: “Cô gánh nặng không, có muốn
tôi đèo hai cái bao đến trại hộ không?”
Bà gửi người bộ đội “đèo” giùm hai tay
nải, c̣n ḿnh xách đ̣n gánh đi theo. Đến
cổng trại thấy anh này đă tháo hai gói
đồ xuống để đó. Hôm ấy là sáng Chủ Nhật,
tù nhân “cải tạo” được nghỉ lao động. Bà
là người duy nhất đến thăm nuôi hôm nay.
Vào trại, bà “báo cáo” cho lính gác tên
người thăm nuôi, các món thực phẩm mang
đến và nghe nội qui trại. Xong bà ra bờ
suối gần đó, rửa mặt. Nước suối trong
mát như chưa bao giờ có được. Bà kịp
thấy mặt ḿnh loang loáng trong nước.
Khuôn mặt người phụ nữ 33 tuổi lam lũ
vẫn c̣n vương những nét xuân sắc ngày
nào. Hồi nhỏ chưa kịp nhớ rơ mặt mẹ
ruột, bà đă bị gửi làm con nuôi cho một
gia đ́nh danh giá gốc Huế. Bà lớn lên ở
Phan Thiết, học hết tú tài đôi th́ bà
cương quyết đi tâm lư chiến làm thơ, làm
văn cổ động các anh lính chiến tiền
phương. Đơn vị bà đóng ở Pleiku lúc ông
cũng đang đóng quân tại đây. Lúc gặp bà,
ông là thiếu úy phi công cao ráo, đẹp
trai và cười nhiều hơn nói. Chuyện t́nh
của họ có hàng phượng đỏ phố núi cao
chứng kiến. Hai người làm lễ cưới kiểu
nhà binh ngay tại đơn vị, rước dâu bằng
xe Jeep, khách mời mặc đồ bay và áo dài
trắng đi dự. Cha mẹ và gia đ́nh đôi bên
không đến dự được đám cưới lính trên phố
núi này. Khi có con th́ bà dời về nhà
chồng ở khu Thị Nghè. Ông chuẩn bị thăng
cấp Tá Không Quân th́ mất nước. Cuộc đời
riêng chưa đến một lúc hài ḷng th́ bước
vào nỗi truân chuyên chung của dân tộc.
Bà mượn nồi niêu của trại ra làm thịt
con gà đem trong Nam ra. Làm xong món
bún măng gà th́ ông ra. Bà giật ḿnh ngỡ
ngàng như không tin nỗi mắt ḿnh. Bốn
năm trời xa cách, ông từ một chàng đại
úy Không Quân mă thượng đẹp trai, cao
lớn ngày nào biến thành một cây sậy cao
đến mức không thể cao hơn. Người ông
gầy, da bủng, liêu xiêu theo gió. Hai
người ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn
gỗ, gần đó có người lính bộ đội gác. Bà
bày đồ ăn ra bàn cho ông, hỏi thăm một
câu phải hỏi nhưng không ư nghĩa: “Ông
khỏe không?” Ông khóc, bà khóc. Ba mươi
phút thăm nuôi chỉ để bắt đầu những hàng
suối nước mắt. Rồi ông vào trại lại, bà
ngẩn ngơ. Biết bao giờ ông mới về. Tối
đó bà ngủ lại trại, những người đến thăm
nuôi hôm nay mới bắt đầu vào. Họ biết
nên rủ nhau đi thành đoàn cho đỡ cơ cực.
Mai thứ hai, nếu có thăm nuôi th́ tù
được nghỉ lao động. Bà tiếc quá, vậy là
mai ông vẫn phải đi lao động vác đá
trong rừng.
Sáng hôm sau, bà dậy sớm kịp nh́n theo
đoàn tù nhân nối nhau vào chốn rừng
thiêng nước độc Vĩnh Phú. Bóng người nhỏ
dần rồi khuất sau sườn núi. Bà khóc một
ḿnh trong nỗi đau quằn quại “Không biết
bao giờ ông về, ông ơi!” Tác giả Chinh
Phụ Ngâm xưa nh́n đoàn quân chinh phạt
khuất xa mà hát thay cho ḷng người
chinh phụ:
Cùng ngoảnh lại mà cùng chẳng thấy,
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu.
Ngàn dâu xanh ngắt một màu,
Ḷng chàng ư thiếp ai sầu hơn ai.
Nay mùa chinh chiến đă qua, sầu ải lại
ngất ngàn hơn trong đ̣n thù độc ác. Cuộc
đời của hơn trăm ngàn lính VNCH bị dồn
vào chốn địa ngục, kéo theo mỗi người là
một gia đ́nh tan nát, và nhiều khi là
cảnh vợ góa con côi. Tàn chiến cuộc
nhưng quê hương này mới bắt đầu một cuộc
tang thương.
Một năm sau th́ ông được thả về. Một năm
sau nữa th́ bà bị bắt vào tù v́ “tội”
bán xăng lẻ ngoài đường. Suốt một năm bà
trong tù, ông mướn xích lô đạp nuôi con.
Bốn đứa con vô t́nh nếm đủ mùi “tù mà
không tội” của cha mẹ, quên mất tuổi hồn
nhiên. Bà ra tù, ông vẫn đạp xích lô,
con vẫn khổ nhưng có lẽ bà gồng ḿnh
thêm nữa lấy t́nh thương bù đắp thiếu
thốn vật chất. Bệnh lao của bà phát tác,
hàng ngày bà đến trạm chống lao chịu một
mũi “strepto” đau xoắn mông xong mới ra
đi làm kiếm cơm tiếp. Xong đợt điều trị
th́ bà bị điếc tai vĩnh viễn v́ thuốc,
rồi một đợt viêm gan hành hạ. Lúc này bà
tưởng không c̣n Trời nào đoái đến cuộc
đời và gia đ́nh này nữa. C̣n ông, sau
hơn năm năm “cải tạo thành công,” cái ǵ
ông cũng sợ. Nói đến công an là ông sợ
chết điếng. Bà lại kiêm luôn vai tṛ
người đàn ông trong gia đ́nh. Nghĩ cũng
tội.
Hết khổ này đến khổ kia. Rồi một lần
nữa, khi thuyền khổ sắp ch́m th́ xuất
hiện một cái phao. Gia đ́nh được đi Mỹ
diện H.O. Truân chuyên lắm rồi cũng đến
ngày gia đ́nh đặt chân đến Oakland,
California ngày 22 tháng 2 năm 1995. Sau
đó nghe theo lời người bà con xa, gia
đ́nh dọn qua miền quê Blytheville,
Arkansas nghe tiếng ễnh ương kêu chiều,
kiếm job tạp dịch cho qua ngày. Trong
thời gian này, ông xin rửa tội theo đạo
Công Giáo chung với gia đ́nh, quây quần
bên Chúa mỗi ngày Chúa Nhật. Rồi lại dọn
tiếp qua Dallas, Texas sống cho đến nay.
Ông giờ là một trong những con chiên
ngoan đạo nhất. Cuộc sống của ông bà vẫn
thuộc loại lam lũ ở đất Mỹ. Gia đ́nh
thêm dâu, rể, rồi cháu nội, cháu ngoại
đầy đàn vơi bớt cho ông bà một phần tinh
thần. Chúa sẽ đoái thương đến những
người hiền lương và đơn sơ trong tâm
hồn. Một ngày tươi sáng hơn sắp đến ông
bà nhé.