|
Cái Thẻ Bài

Cái Thẻ Bài
Trời sui đất khiến, bỗng dưng không đâu
tôi hỏi: “Mày có mối tình lớn nào không?”.
Nó nhướng mắt nhìn tôi từ trên xuống
dưới, như nhìn người hành tinh. Lừ lừ
nốc hết ly rượu mầu hổ phách, ra cái
điều tửu phùng tri kỷ thiên bôi tửu.
Xong nó lặng lờ như gió thoảng mây bay:
- Văn sĩ Nga Tourgueien, trong ngày ra
mắt quyển “Mối Tình Lớn”, ông được độc
giả và giới văn học ca ngợi như một tác
phẩm của thế kỷ. Nhưng bị văn hào
Dostoiewsky phê bình:
“Nếu tôi có mối
tình lớn như vậy, tôi sẽ chẳng bao giờ
dại dột kể cho ai nghe hết”.
Nó đặt cái ly xuống…Bố khỉ, tôi ngọng
trông thấy!
***
Bạn bè có nhiều thằng tôi phục sát đất
thì thằng này là một, mở miệng ra với
một mớ kiến thức đóng hộp từ thập niên
60 qua André Camus, Jean Paul Sarte,
John Steinbeck. Nhưng ấn tượng mà tôi
ghi nhận được là nó có trí nhớ thần sầu
và nói thao thao bất tuyệt, nếu cần là
nó…bấm cò đi một tràng “ra-phan”.
Đi một tràng…”ra phan” là có dây dưa đến
chuyện súng đạn, truyện xưa tích cũ thì
nó cũng một thời khóac áo trây di, lại
khóai mầu áo hoa rừng, chỉ vì cái mặc
cảm “sữa” từ những ngày còn đi học. Về
phép, việc đầu tiên là lên khung bộ quần
áo ủi hồ cứng ngắc để bát phố. Nhưng nó
chỉ là thằng bám đuôi, cùng lắm là một
cái húyt gió bâng quơ. Không sơ múi gì
bèn ngồi đồng ở La Pagode nhìn theo tiếc
nuối. Khổ một nỗi, nó cũng chỉ nhìn từ
đằng sau, một tà áo mờ nhân ảnh nào đó.
Rồi những mùa thu đi, nó vẫn là con bà
cả đọi. Lại nữa, có một số các cô các bà
tính khí cũng khác người. Một là chỉ
thích kết mái tóc muối tiêu đầy…phong
trần tiến để “chú chú, cháu cháu”. Hai
là nhúm mấy đấng nhi đồng mặt búng ra
sữa để “thấy anh nhỏ xíu em thương”. Và
nó. Thằng bạn mà tôi mới gặp lại đây…trong
một mùa thu chết có lá vàng rơi, nguyên
đại úy mũ nâu biệt động quân, với số
ruồi nên nằm chết dí không ngóc đầu lên
được ở cái khỏan…thứ hai khốn khổ khốn
nạn này. Thế nên mới thành chuyện…
Ngày ấy, nó mới chỉ là thiếu úy.
Một lần, nó kể chuyện tình quán cóc bên
đường của nó cho tôi thưởng lãm, chuyện
“thiếu úy” đang uống bia tới bến, nhậu
tới khuya…Thấy tôi cười tình, nó chửi
đổng:
Sư mày, mày biết đíu gì chuyện
lính tráng.
Rồi nó lên giọng dậy đời: Không uống rượu như máy, chửi thề như đĩ
thì chỉ huy chó gì lính, thằng nhà quê.
Và nó nheo mắt hỏi tôi: Mày có hiểu tao
nói gì không.
Tôi chưa kịp hiểu gì thì
nó đã sàng sê là nó không cải lương.
Chuyện sao kể vậy là nó đang đánh vật
với chai bia, nó được mợ chủ quán nháy
nhó lên lầu để ngắm “mây bay gió thổi”.
Mặc dù “quan” mới ra trường, nhưng nó
không đến nỗi chậm tiêu cho lắm, lại vừa
mới hành quân về thế nên nó lóc cóc bò
lên. Trong khi mợ yêu đời ca ong ỏng
“Tưởng giếng sâu em nối sợi dây dài, ai
ngờ giếng cạn em tiếc gòai sợi dây”,
vừa
xuống sáu câu xong, đang sửa sọan lâm
chiến, bỗng nó nhìn thấy tấm ảnh treo
trên tường, một hảo hán đang…tập tạ vai
u thịt bắp như Hercule thời La Mã. Hỏi
ai? Mới hay là chồng mợ chủ, trung sĩ
nhẩy dù. Hỏi chồng đâu? Nó chớ phở, hóa
ra đang ở trại Hòang Hoa Thám, chẳng xa
cái quán ở Hóc Môn này cho lắm, bắt cái
xe lam cũng khỏang mươi phút phù du vì
vậy nó…dọt lẹ.
Nhưng không quên vật bất ly thân là: Cái
thẻ bài.
Lên trung úy vẫn số con rệp, tiểu đòan
nó đụng trận ở Đông Hà. Thua banh càng,
nó chạy chết bỏ, lết tới trước cửa nhà
dân thì lăn đùng ra…chết giấc. Nó được
chị chiến sĩ gái hương đồng cỏ nội vực
vào nhà, tắm rửa, lại còn hiếu khách,
nấu cháo gà cho nó bồi dưỡng. Nó kể, tắm
táp cũng có chút đỉnh sào khô sào nước,
qua chiếc áo ẩm ướt, bộ ngực trời cho
nổi cộm như cái cù lao ông Đạo Dừa. Quất
xong tô cháo. Nó sắp tính chuyện phải
quấy với chị chiến sĩ giải phóng. Nhìn
qua cửa sổ, nó tá hỏa tam tinh vì thấy
một thằng huyện ủy hay K- trưởng gì đó,
ngang hông là khẩu K 54 đang lò dò đi
tới. Nó lại thêm một lần…”vượt thóat”.
Tôi bật cười khan vì nghĩ chắc cung mệnh
nó như có sao thiên di với tả phù hữu
bật, nên chuyện lính tráng của nó, láo
liên mắt trước mắt sau là chạy vắt giò
lên cổ, sau này có thêm màn…cháo gà nữa.
Như đóan được ý nghĩ của tôi, nó lại lầu
bầu:
Sư mày, tao cũng bắt được cái bằng
“Rừng núi sình lầy” chứ bộ.
Rồi nó
huyếch:
Mưu sinh thóat hiểm tao là bậc
thầy, nghề của tao mà mày, nhờ đó tao
nắm đại đội trinh sát là vậy.
Và vẫn
chứng nào tật ấy: Mày có hiểu tao nói gì
không.
Nó cũng không quên nổ như tạc đạn:
Cọp ba đầu rằn mà mày.
***
Khôn nhà dại chợ, tôi lại dại dột hỏi
chuyện mưu sinh thóat hiểm của nó mới
chết một cửa tứ. Mà hình như từ nẫy đến
giờ, nó rình rình mãi cái cơ hội trời
cho một thưở, một cõi này.
Nhấc ly rượu lên, rất ư từ tốn và chẳng
thể thiếu phần chậm rãi:
“…Tao không nhớ ngày nào trước 30 tháng
Tư, ngay sau khi ông Thiệu từ chức. Liên
đòan 32 BĐQ của tao đang đóng quân ở
quận Chân Thành, được lệnh rút về Lai
Khê thế chỗ cho Sư Đòan 5 lui về tỉnh
Bình Dương. Tao nghĩ chỉ là cuộc chuyển
quân bình thường, nhưng khi nghe được
khẩu lệnh phá hủy mọi vũ khí nặng, thì
tao hơi rét. Vì nhớ lại, tao sém được
“Tổ quốc ghi ơn” trong cuộc triệt thóai
thê thảm của Chiến Đòan 5 BĐQ năm 71,
trong trận Kratie ở Cao Miên. Ngay sau
đó là lệnh mới, có thể phối hợp với Sư
Đòan 5 tử thủ Bình Dương. Mẹ kiếp, nghe
hai chữ “tử thủ”, sao tao hãi quá thể.
Lủng củng lỉnh kỉnh đập với phá, tháo
với gỡ từ sáng đến chiều, lại phải đợi
một tiểu đòan nằm kích ở suối Tầu Ô về,
tụi tao mới lục đục rời quận lỵ. Như có
linh tính, hồi trưa trong lúc họp hành
quân bỏ túi, dục tất bất đạt, tao đã nói
tại sao không để đến sáng mai hãy rút,
vì ban đêm là trận địa của tụi nó, bị
phục kích là bỏ mạng sa trường. Sư tụi
nó, đíu thằng nào chịu nghe. Y như rằng,
trời mới sập tối, đi được gần mười cây
số thì vướng mấy cái mô và tụi tao bị
tụi nó dằn mặt ngay tức thì. Từ mấy cái
dạt làng, phía rừng cao su Dầu Tiếng,
tụi nó bắn ra sối xả, đòan quân xa ngừng
lại trong rối lọan, thay vì bung ra lọan
cào cào như …đàn vịt thì đã đỡ khổ. Tụi
tao, quan cũng như lính, co cúm lại chịu
trận, dính chùm sau mấy chiếc quân xa,
đạn bác 82 ly rơi vãi tứ tung. Tao dùng
ống nhòm thấy rõ như ban ngày cái đế
súng sơn pháo, tụi nó đặt trong sân nhà
dân, từ hướng bắc quốc lộ rót qua. Tụi
nó nhởn nhơ thụt từng trái một, còn chỉ
chỏ nữa mới tức điên người, tao mà còn
cối 57 ly không giật đặt trên xe díp là
tụi nó kể như thác”.
Nghe đến vịt…Ắt hẳn là mặt tôi đang đực
ra như vịt đực vì uýnh nhau gì mà lạ vậy
cà. Như đoán được ý tôi, nó bèn vén môi
lên chửi đổng: “Sư mày thằng nhà quê,
mày cứ tưởng gặp cọp ba đầu rằn là Việt
Cộng dạt ra đứng ngó chơi gãi háng cho
đỡ buồn chắc. Tao báo đời cho mày biết,
ngòa trận địa bên nào nhiều tay súng hơn
là chiếm thế thượng phong. Giản dị và dễ
hiểu vậy thôi, thằng con”. Thấy mình
ngồi đồng đã lâu, tôi hỏi cho phải phép: Mày gặp tụi chính quy ?
Nó lại ngóac mồm lên chửi thề:
“Sư nó,
đụng tụi Mặt Trận Giải Phóng mới đau.
Gặp công trường 5, 7 hay 9 thì tao đâu
có ngồi đây với mày. Dám leo lên…”
Nó khựng lại như suy nghĩ, giọng nhát
gừng:
- Tao đã leo lên bàn thờ ngồi một lần
rồi…
Tôi ngớ người ra, láo ngáo hỏi:
- Mày nói gì…Bàn thờ…?
Nó gật đầu: “Ừ, chuyện đó để tao kể sau
cho mà nghe, thằng khỉ…”
“…Vì mấy cái mô lù lù như cái mả Đạm
Tiên, tụi tao lại được lệnh tiêu hủy nốt
mấy cái xe cơ giới còn lại, ngay cả
GMC…Lệnh với lạc, đã bị cụt tay, nay còn
cái chân cũng bị chặt nốt. Tao nói với
thằng trung tá liên đòan trưởng, để tao
dẫn đại đội trinh sát của tao lên quét
dọn, là đường ta, ta cứ đi, dễ ợt, có mẹ
gì đâu. Thằng gà chết chỉ cho tao hai
mươi thằng em, vừa quay lưng đi thì cái
thằng tối dạ này ra lệnh đốt ngay đòan
quân xa, trong đó có xe díp của tao với
lương khô đầy mì gói. Khốn nạn, cứ ngao
ngáo nghe lệnh “đại bàng” sỉa xuống, gọi
dạ bảo vâng, nói sao làm vậy, tự dưng
vạch áo cho người xem lưng. Mẹ, chán gì
đâu mấy bố văn phòng nhẩy bổ xuống ruộng
cầm quân, cầm đến cái ống liên hợp hết
“Dạ…Đại bàng” đến “Vâng…Đại bàng”. Vâng
với dạ mãi bộ Việt Cộng nó tha tào sao.
Y trang, nhân bảo như thần bảo, lửa vừa
bùng lên là trung liên RPD của tụi nó
quạt như điên. Và tao biết, tụi nó cũng
đã gần lắm rồi, có cả đại bác bắn thẳng
75 ly, hỏa tiễn 107, đại pháo 130 .Và
tao nghĩ, cú này mà đụng tụi trung đòan
tân lập Lộc Ninh, trang bị vũ khí cận
đại ngập răng, thì từ chết đến bị
thương, chắc thân bại danh liệt quá. Để
tránh tên bay đạn lạc, tao dẫn lính lên
phía trên quốc lộ, kệ thằng trung tá gà
mờ đang hò hét ầm ĩ như gà mắc đẻ. Tao
vừa tiến được mấy trăm thước thì nghe
tiếng AK “chóc chóc” ròn rã. Nhào xuống
lề cỏ tụi tao bắn trả, bắn hỏang bắn
tiều vậy thôi, vì đâu biết tụi nó nấp ở
đâu. Đến lọat đạn kế, qua ánh lửa của
đoàn quân xa bị đốt cháy sáng rực như
rừng. Tao thấy một chùm ba thằng đang
đong đưa ở trên cây như…khỉ đeo cây, chí
chát một hồi thì…Mẹ, hai thằng rụng cái
độp như sung rụng. Với thằng còn lại.
Tao sẽ tính chuyện phải quấy với nó nên
tao tao ra hiệu cho mấy thằng em ngưng
bắn để tao hành sử”.
Nó lhóng mỏ: “Mày có hiểu tao nói gì
không?”. Vẫn chưa kịp hiểu. Nó tồ tồ
tiếp:
“….Thực tình lúc ấy, không hiểu tại sao
cái đầu tao lại có ý nghĩ cùng hình ảnh
những ngày còn bé, tay cầm khẩu súng cao
su, con chim đang đậu trên cành…Thấy
thằng xạ thủ súng cối đang cầm khẩu
Carbine M2 xớ rớ gần đấy. Thế là….thế là
tao luận về vũ khí căn bản nhập môn cho
mày nghe ti nhá, thằng con: Súng trường
để bắn xa như mày biết đấy, nhưng trong
tất cả đạn đạo của súng không phải đường
thẳng mà là…đường cong. Trừ khẩu Carbine
M2 có đạn đạo thẳng. Rồi, nhìn cái bản
mặt nhà quê của mày tao biết mày đíu
hiểu gì cả. Nghe cho kỹ nha: khẩu Garant
M1 và M16 bắn xa nên đường bắn nó…cong.
Khẩu Carbine M2 bắn ngắn nên đạn đạo
nó…thẳng. Nói cho mày hay, những ngày ở
sân bắn, tao bắn Carbine M2 như để. Cách
50 thước tao bắn cái loong bia bung lên
từng phát một. Loong bia vưa rơi xuống
đất chưa kịp thở, bụp thêm phát nữa là
lại nhẩy dựng đứng lên. Mười phát như
một. Như Dăng-gô vậy mày.
Vô tình thấy thằng lính đang xớ rớ cầm
khẩu Carbine M2 đúng ý tao. Hỏi thì nó
cho biết xách cối 57 ly ê càng, được
lệnh xếp lớn bỏ lại vũ khí nặng, nó mượn
đỡ nhân dân tự vệ khẩu Carbine cho…nhẹ
hều. Tao quơ khẩu súng của nó. Trong
vòng 50 thước. Nheo mắt nhắm một đạn
đạo…”
- “Mày biết không?”. Nhấp ly rượu, nó
nheo mắt nhìn tôi cười cười:
“…Đột nhiên từ trên chạc cây, tiếng nó
vọng xuống, giọng giá sống miệt vườn pha
giọng đặc Bắc kỳ rau muống: “Ông tha cho
con...Ông tha cho con“. Tao đâm chưng
hửng và bật cười nền đành buông súng. Nó
leo xuống. Tao chưa biết tính gì với
thằng du kíck chết tiệt này thì vừa đến
trước mặt tao, nó nói: “Ông cho con
ăn…cháo gà đi ông ”.
Tôi nhìn nó. Nó nhìn tôi lừ đừ: Sư mày
nghĩ tao ”chế” hả. Mà mày biết đếch gì
thằng nhà quê, chưa thấy quan tài chưa
đổ lệ, chưa gần giữa cái sống và cái
chết. Để thấy những ý tưởng lạ kỳ, khôi
hài và bi thảm. Từ từ tao kể cho mà
nghe…Khỉ thật, lâu ngày không gặp. Bây
giờ thằng mũ nâu này ngầu và hung khiếp,
lại còn hung hãn bốc nhằng, bầy đặt
triết lý nhân sinh với nhân bản này nọ.
Nó lại lều bều:
“…Sau tao mới ngộ ra: Nó nằm trong ban
đặc công, vẫn rình mò tụi tao hay tụ họp
ngòai quán và thấy tụi tao hay…ăn cháo
gà nên nó…nhập tâm. Nay gặp lại cố nhân
trong tiếng súng, cái bao tử nó đòi hỏi
theo…quán tính vậy thôi. Nghĩ cũng may.
May mà nó chưa quẳng vào chỗ tụi tao đàn
đúm một trái lựu đạn ắt hẳn chạy trời
không khỏi nắng là nhờ…bát cháo gà. “Ăn
mày…” chẳng hẳn lúc nào cũng “…đánh đổ
cầu ao” là thế đấy. Mày có hiểu tao nói
gì không? Hiểu hay không kệ tía mày. Tao
chẳng biết làm gì hơn với nó là tao trói
nó vào gốc cây để nhìn tụi tao bắn nhau,
để nó quên đi…cái đói của nó. Từ đó tao
tìm ra một chân lý bất biến muôn đời là
úynh cho lắm cũng vậy thôi, cả hai bên,
quan cũng như lính đều…đói cả. Chả được
cái nước mẹ gì sất”.
Triết lý củ khoai xong, nó lại lâm trận:
“…Quay lại đằng sau…khói lửa kinh thành
rực một góc trời, pháo nổ ì ầm. Cờ đang
dở cuộc, bạc chửa thâu canh, chắc phải
tính quá. Tình hình lúc này coi mòi
không xong, mà tương lai thì cũng chẳng
sáng sủa gì cho lắm và tao nghĩ đến
chuyện tam thập lục kế tẩu vi thượng
sách. Thân thằng nào thằng ấy lo, tao
cóc ngán thằng trung tá văn phòng bửu
giám này, vì tao cứu nó mấy lần rồi. Cú
chót nó bị thương bên kia cầu, đạn vẩy
như chấu, tao vẫn tỉnh bơ bay qua vác nó
về, đạn đuổi theo “chóc chóc”. Và tao
nghĩ dọt đã, sau này gặp lại nó cứ giả
ngu giả điếc như…lạc đường vào lịch sử
là êm, trên răng dưới lựu đạn, mửng này
tao làm hòai, mày có hiểu tao nói gì
không....”
Giọng nó nghiêm và buồn:
- Và tao lùi lũi xách hai mươi tay súng
“xuống núi” trong đêm. Để rồi mày sẽ
thấy, “mảnh đời rách nát” sau của tao
được quẹo ở “khúc quanh” đẹp như mơ này.
Tôi đang nghĩ : Vừa phải thôi chứ, làm
gì mà chơi khó với nhau quá vậy, hết
“mảnh đời…” đến “ khúc quanh…”, chữ
nghĩa gì mà rắc rối, tối mù mù như đêm
củ mật vậy…Nó lại báng bổ tiếp:
“..Tụi tao lầm lũi đi trong đêm về hướng
đông nam. Vì theo kinh nghiệm “đào
thóat” của tao, địch đang dồn quân về
phía đông, thì hướng nam đương nhiên
được bỏ ngỏ. Tao cứ nhắm hướng Lai Khê
mà đi, khi nào thấy cái bồn nước là gặp
bộ chỉ huy sư đòan 5. Đến rạng sáng thì
tao dừng quân ở giữa một cánh đồng, xa
xa là là một dạt làng. Không một tiếng
gà gáy, không một tiếng chó sủa , tứ bề
vắng ngắt, lúa non cao cả thước xanh rì,
cao hơn cả đầu người. Tao thấy nằm ngủ
rải rác ở đây chẳng ai thấy và đợi tối
đến đi tiếp, chấm tọa độ trên bản đồ
cũng chẳng còn bao xa, ăn uống qua loa,
tao yên chí làm một giấc. Tỉnh dậy thì
cũng quá trưa và thấy thiếu ba, bốn
thằng con. Hỏi ra thì tụi nó dắt díu
nhau vào xóm làng đằng kia để kiếm chút
cháo. Giữa cái êm ả, chỉ có tiếng sào
sạc của cánh lúa. Bỗng tao nghe thấy
tiếng gào, tiếng hét từ dạt làng vọng
lại. Lúc dài rên rỉ, lúc tắc nghẹn…”
Cúi đầu nhấp ly rượu, nó hỏi tôi, giọng
ngậm ngùi đâu đâu:
- Có bao giờ mày nghe tiếng tru ằng ặc
của một người bị cắt cổ chưa?
Tôi lạnh người, không trả lời…Âm hưởng
của nó trầm trầm:
- Không một tiếng súng nổ, im ắng, tao
biết ngay là đám con tao đang bị tụi nó
làm thịt. Từng thằng. Từng đứa. Bằng mã
tấu. Bằng dao rừng…
“…Tao biết bị động nên âm thầm dọn dẹp,
gom mấy thằng còn lại đi về hướng khác.
Vừa lầm lũi cúi đầu bước, tao vừa giận
mấy thằng con vừa ứa nước mắt…
Cho đến sẩm tối tụi tao táp vào một con
rạch cuối bãi, sát một cái cầu gỗ lửng
lơ giữa ánh trăng cuối tháng. Nhưng tao
vẫn nhìn thấy mờ mờ mấy thằng du kích
lóng ngóng đứng trên cầu, thỉnh thỏang
bắn bâng quơ xuống mấy đám lục bình,
đang bồng bềnh nổi trôi trên mặt nước.
Trong cái tĩnh mịch, ắng lặng đến són
đái này, đang nằm sát bên tao, đột nhiên
gã thượng sĩ già chết bầm tuổi bằng bố
tao, bung ra một tràng ho rũ rượi. Tao
sợ muốn thọt dái lên cổ, vội bịt miệng
gã lại, nhưng gã húng hắng như như người
bị lên cơn suyễn. Như John Wayne, tao
rút cái lưỡi lê ra cái rẹc và kê ngay
vào cổ để hù gã: “Ông không câm, tôi cho
ông …đi”.
Tôi hồi hộp chết người, nó nhếch mép
“Mày biết không? Tao lỡ làm người hùng
ci-né, không lẽ lại nhét cái lưỡi lê vào
bao cũng chuế, bỗng dưng gã buông một
câu làm tao cũng muốn bật cười, gã hổn
hển hỏi tao: “Làm sao hết ho hả ông thầy
?”.
“…Lõm bõm đến sáng hôm sau thì tụi tao
lạ vào một cánh đồng, tứ bề ngập nước.
Ngơ ngáo chưa biết tính sao, thằng nào
thằng nấy mờ người, lờ đờ như cá gặp
nắng. Vất vưởng đi thêm một khúc nữa,
gặp mấy cồn đất lấp sấp những nước là
nước, nằm lăn quay ra nhưng cái lưng ướt
nhẹp, loay hoay mãi không ngủ nghê gì
được. Đứng dậy nhìn vẩn vơ, bỗng tao
thấy một chiếc thuyền câu đi lại. Trên
có một lão nông dân ngồi thu lu và một
thằng bé vừa chèo vừa nhai nhóp nhép gì
đó. Thuyền bơi nhẹ lướt ngang qua tao,
cũng bình thường thôi.
Cả giờ sau, cái đầu củ chuối của tao mới
chịu ngọ nguậy…Như có giác quan thứ sáu,
tao chột dạ và thuỗn mặt ra ngẫm nghĩ.
Lão nông dân này như cố tình, tảng lờ
không nhìn thấy tao. Trong khi tao đứng
như trời chồng giữa trời và nước, con
cái tao thì lổn nhổn, đứa ngồi bó gối,
đứa nằm la liệt như chết rồi. Cớ sao mắt
lão cứ nhìn thẳng và ngó lơ. Ba giây
sau, tao mới ngã ngửa người ra. “Bỏ mẹ…”
Tao hối đàn em sửa sọan “zulu”, nhưng
không còn kịp nữa, tao hồn vía lên mây,
ngực đánh trống ngũ liên. Sư chúng nó,
người ngợm ở cái lỗ nẻ nào chui ra mà
tụi nó đông quá thể, đông như đỉa đói.
Từ đằng xa, cả hơn chục chiếc thuyền kéo
tới, mỗi chiếc năm, sáu thằng súng ốc
trang bị ngập đầu. Gần hơn một chút nữa,
hai khẩu RPD đen thui đặt ngạo nghễ trên
mui, như hai ông thần mặt sắt đen sì,
dương mắt nhe răng, lầm lì cầm thanh xà
mâu giữ đền. Đứng trên đầu mũi thuyền,
một thằng cầm loa hét: Hàng sống chống
chết…Hàng sống chống chết…”.
Tôi ngứa mồm, hỏi một câu ngớ ngẩn:
Dọt…Nghề của mày mà!
Nó hơi cáu: Mày ngu như lợn. Ruộng nước
mênh mông, mày bảo tao chạy đi đâu? Rót
thêm chút rượu, nó kể lể giọng nghiêm và
buồn:
“…Tao cho lính dàn hàng ngang. Vừa xong
thì tụi nó ập lên như đĩ, la lối vang
trời: “Hàng sống chống chết…Hàng sống
chống chết”. Tiếng hò hét, tiếng đạn
“chíu, chíu” sát mang tai, nghe rợn tóc
gáy, RPD khạc đạn 7.6 ly thì còn đíu gì
là người với ngợm nữa. Sau nghĩ lại, tụi
tao thua, một phần vì quân số như tao
vừa nói ở trên. Một phần có mấy thằng
con mất tinh thần, dại dột lăn qua nằm
sau mấy cồn đất, đạn hai khẩu trung liên
bắn chéo rơi lỗ chỗ, đất cát bay tứ
tung. Đồng thời tụi nó đạp nước nhào
tới, nước bắn tung tóe, vuốt mặt không
kịp…không thấy trời trăng mây nước gì
nữa, thì còn đứa nào yểm trợ cho đứa
nào”.
Đặt cái ly xuống, nó ngần ngừ: “Lần đầu
tiên trong đời, tụi tao đánh cận chiến!
“.
Và giọng nó trầm trầm:
“….Lâu lắm rồi tao mới thấy ớn lạnh của
khẩu “Garant” gắn lưỡi lê…Sư chúng nó,
giờ phút thứ hai mươi lăm này chúng còn
chơi đồ cổ mới chết người, khẩu M-1 nặng
bốn, năm kí lô, nòng dài ngoằng, cái bá
súng gỗ to bự sự, nhìn phát khiếp. Lưỡi
lê đâm sồn sột vào người như đâm vào
thân chuối, máu phọt ra có vòi... Tiếng
vũ khí chạm nhau..Tiếng nước văng tung
tóe… Tiếng vật nhau hùynh hụych…”
Nó ngậm nhấm, như không có tôi ngồi đấy:
- Tao nghe thấy cả tiếng lưỡi lê phập
lút cán vào da thịt, hòa lẫn với tiếng
rú thất thanh, rên la. Nghe rợn người,
không chữ nghĩa nào diễn tả nổi. Tôi
không biết nói sao, hỏi cho có chuyện:
“Mày bị…”
“…Không…Trong lúc hỗn quân hỗn quan, có
thằng em bị đánh văng bật vào người tao.
Tao cờ quạng ngã chúi xuống sát mặt đất,
bấy giờ tao mới thấy máu loang và lan
rộng trên mặt nước. Cũng vừa lúc tao
nhìn thấy bàn tay của thằng em, tay nắm
lấy ống quần tao, đôi mắt trắng dã, như
tức tưởi trối chăn, như oán hờn trách
móc Mặc dù đang bấn lọan, như có cái gì
chắn ngang cổ họng, tao muốn ói, muốn
ọe, muốn khóc. Cũng vừa lúc gã thượng sĩ
già, mở chốt trái lựu đạn, dúi vào tay
tao và cả hai cắm đầu chạy thục mạng,
bất kể phương hướng…
Lấy ngày làm đêm, lấy đêm làm ngày. Cuối
cùng thì hai thằng tao lạc vào một rặng
cây dầy đặc khá rộng, như một cánh rừng
nhỏ, mặc dù tối khuya, cũng không đi nổi
nữa. Hai đứa chui vào cái bụi dầy nằm
vật ra đấy và lăn ra ngủ như chết, gần
như bất tỉnh nhân sự…”
- “Có kể cũng không ai tin…”. Nó lắc
đầu:
“…Như trong phim ci-né nào đó, tao không
nhớ: Nửa đêm hôm ấy, tao đang mơ mơ màng
màng thì có thằng của nợ nào đang bắc
cầu vồng đái tồ tồ cả vũng, bụi nước đái
rơi lấm tấm ngay sát mặt tao. Sư nó,
không hiểu nó ăn uống cái đíu gì mà mùi
nước đái khai nồng nặc, tao muốn cho nó
một phát nhưng sợ bứt dây động rừng.
Thấy không xong, đợi thằng du kích biến
một lúc lâu. Hai thằng tao lồm cồm dậy
đi tiếp, cho đến lúc mặt trời vừa mới
nhú lên, cứ hướng đông mà tiến, cho đến
khi thấy nhà dân và quốc lộ 13 trước
mặt. Trông thì gần, gần tới nơi thì…
Thì để rồi hỡi ơi, khuất sau căn nhà
ngay bìa đường, là hai thằng mặc quần xà
lỏn tay lăm lăm khẩu AK, bên cạnh là
chiếc xe díp, hai đứa đứng gác chiếc xe
của phe ta như gác mả tổ nhà chúng nó.
Trong khi tao có mỗi khẩu Colt 45, gã
thượng sĩ già thủ cây M16 còn vài viên
đạn. Gã bạn đời tao bò tới, men tới, lẽ
dĩ nhiên không một tiếng động. Còn tao
tụt hậu, khư khư ôm khẩu súng lục, sửa
sọan…chém vè. Thì như tao đã kể lể, nhìn
thấy cái xe díp tao lại nhớ đến mấy gói
mì ăn liền. Tao lại thấy…đói. Thì “bụp”.
Thêm một tiếng “bụp” nữa. Mẹ, chỉ hai
tiếng “bụp, bụp” thân thương ấy thôi.
Mắt tao mở thao láo nhìn hai cái thân
người đổ xuống, như hai thằng say rượu.
Chưa bao giờ gã thương sĩ già của tao
“chặt” đẹp đến như vậy, bắn đíu gì như
bắn bia ấy mới cha đời…Thóat cú này,
chắc như bắp, tao phải đưa gã đến quán
mợ Tư Ngựa, vợ thằng trung sĩ nhẩy dù,
nhậu một trận guắc cần câu cho hết…cơn
suyễn. Rồi đến đâu thì đến…hồn ai nấy
giữ”.
“Súp-păng” quá mạng. Hồi hộp cứ như
“xi-nê-ma” và tôi hỏi nó:
- Thế là mày thóat?
Nó hít một hơi thuốc rồi nhấm nhẳng:
“…Thóat đíu gì…Buổi sáng đầy nắng ấm,
vừa vào đến cửa ngõ thị trấn, tao vừa
đang đảo mắt đi tìm cái bồn nước của thị
trấn Lai Khê. Chó dại từng mùa, người
dại quanh năm vì tao vừa nhận ra mình
đang…dại dột thật, đang phạm một lỗi lầm
chết người. Ấy là: Gã thượng sĩ lái xe
díp. Tao đứng trên xe như đang duyệt
binh và tay cầm khẩu AK. Thế là “ầm” một
tiếng long trời lở đất, viên đạn B40
thổi ngay vào xe và tao bung lên trời
cũng cỡ cả một, hai thước và rớt bịch
xuống đất…nằm thẳng cẳng”.
- Mày biết không, Sư Đòan 5 rút đi từ
đời tám hóanh nào rồi. Bố ai mà biết!
“…Không biết bao lâu thì tao tỉnh dậy,
nhưng vẫn nằm quay đơ. Gọi là tỉnh dậy
thì không đúng lắm, chỉ nửa mơ nửa tỉnh
biết mình nằm đấy và trên mặt được phủ
mấy tờ lá chuối. Mắt tao như bị bầm sưng
nên chỉ mở he hé, nhưng vẫn thấy lóa tia
nắng sáng ban mai, lọt qua vết rách mảng
lá. Chân tay cứng ngắc, không cục cựa
được. Nhưng tao vẫn có cảm giác hình như
bị thương ở đâu đó. Mấy con ruồi, con
nhặng vo ve quanh vết thương, bò bò,
liếm láp, vừa nhột nhạt, vừa xót tê tê,
hình như ở dưới ống chân quyển thì phải.
Để rồi tao tái người đi, khi ngửi thấy
mùi thơm của ba nén nhang cắm ngay sát
đầu tao. Tao liên tưởng ngay đến bát cơm
với quả trứng gà luộc, để bỗng dưng thấy
bụng nôn nao cồn cào, vì mấy ngày nay
chỉ lo chạy, chưa có gì trong bụng. Tao
suýt bật cười nhưng cười không nổi vì
xém nữa mình là…con ma đói.
Tỉnh dậy lần thứ hai, và lơ mơ nghe có
tiếng ai đang quỳ bên tao đang lâm râm
đọc kinh. Tao lờ mờ thấy bóng người ấy,
chỉ ẩn hiện một mầu đen và trắng hòa
nhập. Rồi lom khom lôi cái ví trong túi
quần tao ra để sang một bên và lui cui
dở tờ lá chuối, rồi tất cả với những
động tác thật nhẹ nhàng và cũng thật
khoan thai cúi xuống tháo cái thẻ bài.
Qua đôi bàn tay, có một chút ấm êm lướt
qua bên má, tao ngửi thấy mùi gì khác
lạ, không phải là mùi nhang mà thoang
thoảng mùi hoa nhài.
Một lát sau người ấy đứng dậy, qua khe
lá, qua ánh nắng chói chang hắt vào của
mặt trời. Tao chỉ thấy lung linh mờ nhân
ảo đằng sau lưng với một dáng đi nghiêng
ngả cùng hai mầu trắng, đen nhạt nhòa
trên nẻo xa, đường vắng…”.
Nó đứng dậy lấy thêm ít đá lạnh, bỏ vào
cái ly lắc nhẹ, rồi tiếp:
“…Tao chỉ bị thương nhẹ hều, chắc bị
kích ngất đi vì tiếng nổ. Nên sau đó,
tụi nó nhúm tao làm tù binh, đưa tao qua
tận Snoul bên kia biên giới, vùng căn cứ
chiến lược của “Mặt trận giải phóng miền
Nam”. Mấy tháng sau mới đưa tao về, tụi
nó tống tiễn tao thẳng vào trại cải tạo.
Hơn một năm sau, tao mới liên lạc được
với nhà.
Nhà tao đi thăm và kể chuyện. Chuyện kể
sau này cứ như truyện “Nấm Mồ Hoang” của
Jean Fougère”.
“Mồ mả gì mà nghe khiếp quá vậy mày?”.
Tôi vừa buột miệng ra hỏi là đã thấy hố.
Như ếch vồ hoa mướp, như lúc này nó chỉ
đợi có vậy:
“…Jean Fougère được giải Courteline năm
1957 về truyện ngắn của hàn lâm viện
Pháp. Viết về hai vợ chồng đi hưởng tuần
trăng mật ở Châteaudun, miền Normandie.
Hai người bị hư xe ngay tại thị trấn
Chartres và ngồi đợi ở lữ quán Grand
Monarque. Mãi đến tận chiều, ngồi đợi mà
xe vẫn chưa sửa xong. Cô vợ mới cưới
thấy một nữ tu còn trẻ ở tu viện bên
cạnh, tay cầm giỏ hoa băng qua nghĩa
trang bên kia đường. Vì ngồi đã lâu nên
cô đi theo cho khuây khỏa, thấy người nữ
tu đặt bó hoa lên một nấm mồ gần như bị
bỏ hoang. Tò mò cô đọc dòng chữ khắc
trên tảng đá thô, nằm sô lệch trên nấm
mộ:
- “Thiếu úy Robert Fontant đã hy sinh
tại đây để giải phóng thị trấn Chatres”.
Cô lặng người đi và chỉ mình cô hiểu:
Chàng sĩ quan này là người yêu của cô,
bị mất tích mới đây năm 54 của Đệ Nhị
Thế Chiến”.
Mân mê cái ly, gịong nó rù rì như tụng
kinh:
“…Ấy đấy, chuyện người nữ tu và nấm mồ
hoang với người đi tìm kiếm như vận vào
tao. Sau ngày sập tiệm, gia đình tao dọ
hỏi khắp nơi nhưng chẳng có tin tức gì,
nên nghĩ tao tử trận mất xác ở tận đâu
đâu. Một hôm, có một nữ tu còn trẻ, đến
gõ cửa và báo tin tao được “Chúa gọi” và
đã “về chầu nước Chúa” ngày đó tháng đó
và để lại giấy tờ tùy thân của tao. Cả
nhà bò lê bò càng ra khóc lóc như mưa
như gió, còn sùi bọt mép cầu khẩn có
sống khôn chết thiêng thì về phù hộ cho
gia đình. Thế là tao được rửa chân nhẩy
tót lên bàn thờ ngồi chễm chệ như ông
phỗng đá, đâu có ngo ngoe gì được để phù
với phép. Chỉ tội nghiệp ông bà cụ tao,
cơm nước nhang đèn, sì sụp khấn vái quá
thể. Nhưng tao đâu dám hó hé, lỡ dại mồm
dại miệng “lầu bầu” rồi hai cụ nghe
được…lăn đùng ra tay bắt chuồn chuồn thì
khốn!
Bà cụ tao Công giáo nhưng lại tin bói
tóan. Tuần sau bà mò đến cô Tư Ma Gà ở
dưới Hàng Xanh xem một quẻ, quẻ dậy tao
vẫn còn sống nhăn răng và sẽ “đòan tụ”
một ngày không xa. Gia đình tao bán tín
bán nghi, bàn nhau đi xuống dòng tu Lai
Khê của tòa giám mục Pháp cũ, nhờ người
nữ tu đi tìm mộ tao. Đến nơi dòng tu đã
bị tụi nó “phẹc-mê-bu-tích”, nên tất cả
đều phải cởi áo nhà dòng. Riêng vị ân
nhân của gia đình tao nghe đâu buôn
thúng bán mẹt ở vùng Hóc Môn rất ư là
nghèo túng nhưng hai cụ kiếm mãi không
ra. Nhớ lại lời kể của người nữ tu, ông
bà cụ tao trở ra đầu cửa ngõ của thị
trấn và hỏi mấy nhà quanh đấy và họ chỉ
đến nấm mộ chôn tập thể ngay sát quốc lộ
13. Sau này theo tao dò la thì trong nấm
mộ ấy có thân xác gã thượng già của tao.
Để rồi chẳng biết làm sao hơn, ông bà cụ
tao đang loay hoay cầm bó nhang, nhìn
quanh quất thì có bà hàng nước bên kia
ven đường tới gặp và kể lể: Người nũ tu
ấy trước đây vẫn thường ghé thăm mộ, lần
nào cũng có một chậu hoa. Bị cởi áo nhà
dòng thì để lại chuỗi thánh giá. Bà hàng
nước sợ ai lấy mất nên giữ dùm, nhưng bà
cũng chẳng biết đưa cho ai. Bà cụ tao
Công giáo thuần thành, sợ phải tội nên
cụ mang về.
Ra khỏi trại cải tạo, về đến nhà hình
ảnh “lộng kiếng” tao đã được …liệng cống
đi từ khuya. Trên bàn thờ, tao vẫn thấy
còn cái ví, chuỗi thánh giá.
Nhưng không có…cái thẻ bài.
Tôi nghĩ thầm “Gì nữa với cái thẻ bài”.
Như tiếc hùi hụi và nó phân bua:
“…Mày biết không, đi lính thằng nào cũng
mắc một cái tật, không thế này thì thế
kia, thằng đeo chân thỏ, thằng đeo nanh
lợn rừng. Riêng tao thì đeo tấm thẻ bài
nó quen rồi, không có thì ngứa ngáy, khó
chịu, như thiêu thiếu một cái gì. Thấy
chuỗi hạt tiện tay tao đeo vào cổ thế
thôi. Như mày biết đấy: Tao đạo gốc, vì
tao chưa ở cái tuổi gần đất xa trời mon
men đến làm quen với Chúa để cầu cạnh
một chỗ trên thiên đàng. Nói dại chứ gặp
ngày đẹp trời lớ quớ leo lên cõi trên
gặp ông thánh Phê-rô thì ông ấy cũng cấm
cửa vì tội lỗi ngặp đầu. Rửa tội chẳng
hết mà…tắm cũng không xong. Vì mấy em
đầy ra đấy, theo đuôi cũng hết hai ngày
cuối tuần nên còn thi giờ đâu dành cho
Chúa. Nhưng vì bà cụ cằn nhằn mãi, tao
đeo chuỗi hạt cho cụ vui vậy thôi, sau
này tao mới thấy như “Chúa đã định…”.
Khi không lại đâm đầu chui vào…cái thòng
lọng”.
Lằng nhằng quá thể, ấy vậy mà vẫn chứng
nào tật ấy. Nó lại câu giờ vào thăm bác
Hồ một phùa nữa cho phải đạo. Về lại để
“tọa đàm”, nó khật khừ với câu chuyện
đang hương tàn khói lạnh và nó phe phẩy:
“…Lại chuyện bói toán nữa, kể cho mày
nghe khùng luôn, thằng con. Nằm không
trong trại cải tạo đuổi ruồi búng ghét
mãi cũng khô người. Tao bèn nhờ vả một
khứa bạn tù bấm cho một quả bói cho đời
lên hương, cho có tí ti le lói cuối
đường hầm. Bố khỉ, khứa hươu vượn thế
này mới cha đời, khứa dậy số tao thân cư
thê và được vợ nuôi báo cô. Ít nữa có
quý nhân phù trợ nên mặc sức thong dong
vì ngày về cũng chẳng xa là mấy. Thế nên
đíu dấu gì mày, tao cũng có ý đợi…Mẹ,
quý nhân đâu chẳng thấy, lớ quớ thế nào
tao…đợi một quả chín năm chẵn trong tù
mới điên người. Và thêm một lần, sau quả
B40, tao nghĩ mình…dại dột thật, vì đi
nghe thằng bói rùa. Bản mệnh khứa: Vào
đây khứa không hay. Ra tù khứa chẳng
biết. Huống chi cái thân…tao.
Hồi cố quận, trên răng dưới dế, tao múa
bút để nín thở qua sông, vẽ riết quen
tay nên bắt được tí danh còm. Chẳng hẳn
là vua biết mặt chúa biết tên, nhưng một
ngày cũng có người giới thiệu qua Hóc
Môn trang trí một phòng họp một xưởng
dệt mới mở. Trời xanh mây tím nắng vàng,
qua cái cửa sắt là con đường lát sỏi,
tao lững thững thả rong. Để rồi, không
hẹn mà gặp, trước mặt tao là một tà áo
lụa phất phơ trước gió qua một dáng đi
thật thanh thản, một thứ rất hiếm hoi
trong khỏang đất trời sô bụi này. Nhưng
tao thấy quen quen, chẳng nhớ gặp ở đâu.
Nghĩ mãi mới ra mảnh áo lụa ấy có điểm
dăm đóa hoa huệ đầy rẫy trong nhà thờ.
Chưa hết chuyện, tao lại lãng đãng thả
hồn về “giữa đám đông, trong đám đông”,
rồi “em có nhớ anh không” của những ngày
bát phố Lê Lợi, Tự Do. Bỗng dưng tao chu
mỏ…húyt sáo bâng quơ. Người đẹp quay
lại, ngúyt tao một cái đến…tái tê”.
- “Rồi sao nữa”. Tôi hỏi:
“…Ông sao trên trời thì có…Tao đang ngồi
đợi và ngộp thở vì “Lạy Chúa tôi” hình
của Đức Mẹ và Chúa sao mà nhiều quá đỗi,
chỗ đâu để treo tranh. Đang ngó tới ngó
lui, tao quay lại thì ngã ngửa người ra
vì người đẹp bước vào lại là…cô chủ
hãng. Khi không chỉ vì cái húyt sáo, để
bây giờ lấn cấn với hạt sạn vướng mắc
trong đôi giầy. Vào chuyện, tao hươu
vượn về trường phái ấn tượng, siêu thực
qua dao, cọ và mầu sắc. Như đụng vào cái
nút máy hát cũ rỉ, tao nói như…“hát”.
Tao lan man về nghệ sĩ gắn liền với sáng
tạo, với nhân sinh vị nghệ thuật này
kia. Với yên sĩ phi lý thuần qua tà áo
tung bay cùng gió và mây, tao nói với
người đẹp, tao đang nhen nhúm…một sáng
tác để đời cho mai hậu.
Vì bức tranh khổ lớn nên một tháng mới
hòan tất. Như một tuyệt tác, tao vẽ
trong mộng và mơ, tao chưa bao giờ đam
mê cọ và dao đến như vậy, đường nét, mầu
sắc như quấn qúyt và quyện vào nhau,
từng mảng từng lớp, trải dầy trên khung
vải. Tất cả những cảm hứng này, tao gửi
gấm qua ánh mắt, nụ cuời đầy thánh thiện
của cô ta. Nhưng cũng chỉ luyến lưu,
mong với nhớ vậy thôi, để rồi tao chẳng
dám nghĩ gì xa hơn. Nhưng hãng xưởng
không phải là nơi chốn cho nghệ thuật,
cho cái đẹp. Chẳng nói mày cũng thông,
mỗi tác phẩm như có định mệnh của riêng
nó, nếu được đặt đúng chỗ. Như dưới mái
ấm gia đình căn nhà chẳng hạn. Rồi bức
tranh cũng được mang về nhà cô ấy. Trong
khi đứng ngắm tác phẩm thật hài hòa,
trong tao chợt nao nao bứt rứt thấy
thiếu thốn một cái gì, như một tách trà
chẳng hạn.
Thế là tao đi lục lọi, mò mẫm tìm cái ấm
để pha trà.
Ngay lúc ấy, qua khe hở của cánh tủ trà,
dường như có bóng người đi lại. Như buổi
sáng hôm nào, qua vết rách của tầu lá
chuối, tao bắt gặp những tia nắng lung
linh, hòa nhập cùng hai mầu đen trắng,
và thoang thoảng đâu đầy có mùi hoa
nhài. Nhưng tất cả những hình bóng và
mùi hương ấy chỉ thoáng qua như áng mây
trôi mà thôi. Vì lúc ấy tao đang loay
hoay tìm thêm cái tao muốn tìm thì…hộp
trà ướp hoa nhài có ngay đây. Ắt hẳn là
tao bị tự kỷ ám thị nên chẳng gửi gió
cho mây ngàn bay gì thêm. Thêm nữa, cũng
có thể tao hoa mắt vì ánh nắng hắt qua
khung cửa sổ. Thế nhưng cũng nhờ vệt
nắng heo hắt này…thì.. ngay góc tủ, tao
lặng người đến thẫn thờ, vì đập chát vào
mặt tao là một vật rất gần gũi và cũng
rất thân quen. Một vật đã vắng mặt lâu
ngày nhưng vẫn vấn vương mong có ngày
gặp lại như mong gặp lại người tình cũ.
Tình cũ không hẹn mà tới khiến tao ngẩn
ngơ cả một lúc lâu, vừa suy nghĩ mông
lung vừa mân mê cái vật làm bằng thiếc
mỏng …mang tên tao.
Đó là`: Tấm thẻ bài.
***
Chó ngáp phải ruồi thế nào chẳng biết
nữa, thằng bạn tù trong trại cải tạo bói
rùa lạng quạng trúng phóc mới lạ.. Cũng
chẳng lạ gì, từ dạo ấy cuối tuần nào tao
cũng bám đuôi theo “thân cư thê” của tao
đi lễ nhà thờ, cũng quỳ gối chí chát nát
người, cũng đấm ngực bình bịch mới …đau.
Nói thật với mày nói dối phải tội chứ,
chứ tao hiếm khi vác xác hẻo lánh tới
sân nhà thờ, nhà chùa…Có Chúa, có Phật
ngự ở cõi trên hay không? Tao trèo không
lên nên với không tới. Với nhang đèn
hương khói, tao đã leo lên bàn thờ ngồi
một lần rồi, rõ ra tao hiểu ra cái nhẽ
của trời đất với gần đất xa trời là như
thế này: Mặc dù ông trời ở xa, nhưng ông
đã sắp sẵn cho mỗi người một cái số. Như
số vợ chồng tao bây giờ chẳng hạn…
Như định mệnh đã an bài.
Phi Ngọc Hùng
|
|
|
|
|