Một Tài Liệu về Trường
Vơ Bị Quốc Gia và Các Sĩ Quan Tốt Nghiệp
19/05/2010 by: hh75
Nguyễn Kỳ Phong
Trong hai năm 1973 và 1974,
một tham vụ chính trị ở Ṭa
Đại Sứ Hoa Kỳ tên là James
Nach, bắt đầu thâu thập một
số chi tiết lịch sử về nguồn
gốc các trường đào tạo sĩ
quan Quân Lực Việt Nam Cộng
Ḥa (QLVNCH) và sĩ quan tốt
nghiệp từ các trường đó. Tác
giả ghi lại rất nhiều chi
tiết về mười khóa đầu của
Trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt
và năm khóa đầu của Liên
Trường Vơ Khoa Thủ Đức. Đây
là một tập tài liệu với
nhiều chi tiết lư thú. Ông
James Nach c̣n bỏ công ra
ghi lại chức vụ đương nhiệm
của một số sĩ quan tốt
nghiệp. Theo sự hiểu biết
của người viết bài này, tài
liệu của James Nach là một
trong hai tài liệu duy nhất
của người Mỹ nghiên cứu về
hệ thống đào tạo sĩ quan và
xuất thân của sĩ quan QLVNCH.
Năm 1970, cơ quan Advanced
Research Projects Agency (một
cơ quan nghiên cứu thuộc Bộ
Quốc Pḥng Hoa Kỳ) có thực
hiện một nghiên cứu với tựa
đề An Institutional
Profile of the South
Vietnamese Officer Corps.
Tuy nhiên, nghiên cứu này có
tính cách chính trị nhiều
hơn là lịch sử, v́ tài liệu
chỉ nói đến hệ thống sĩ quan
tướng lănh và phân lọai họ
có chiều hướng theo “phe”
nào trong thời điểm đó. Tài
liệu của James Nach được
viết ở Sài G̣n và gởi về Bộ
Ngoại Giao Hoa Kỳ với sự
chuẩn hành của đại sứ Graham
Martin. V́ tài liệu nằm
trong dạng công văn, nên chỉ
được lưu trữ trong văn khố
hay các trung tâm nghiên cứu
về Việt Nam. Bài viết dưới
đây sơ lược lại những chi
tiết lư thú của tác giả
James Nach trong The
National Military Academy
and Its Prominent Graduates,
và, Origins of the
Vietnamese National Army,
Its Officer Corps and Its
Military Schools.
The National
Military Academy and Its
Prominent Graduates
Trong phần nghiên cứu về
Trường Vơ Bị Quốc Gia và
Những Sĩ Quan Tốt Nghiệp
Danh Tiếng, James Nach sơ
lượt lại sự thành h́nh của
trường Vơ Bị Quốc Gia. Hai
khóa đầu tiên Trường Sĩ Quan
Hiện Dịch bắt đầu ở Huế,
Khóa 1 tháng 12-1948, và
Khóa 2 tháng 9-1949. Tháng
10-1950 trường dọn về Đà Lạt
và bắt đầu Khóa 3, với tên
mới là Trường École
Militaire Inter-Armes de
Dalat. Trường chánh thức đổi
lại thành Trường Vơ Bị Liên
Quân sau khi người Pháp rời
Việt Nam năm 1955, và trở
thành Trường Vơ Bị Quốc Gia
từ tháng 4 năm 1963 cho đến
khi giải tán
(Sắc Lệnh
325-QP, 10-4-1963).
Hai Khóa 1 Phan Bội Châu
(53
sĩ quan tốt nghiệp)
và Khóa 2 Quang Trung
(97 tốt
nghiệp)
ở Huế ra trường một số sĩ
quan sau này trở thành những
tướng lănh quan trọng của
đầu thập niên 1960. Thủ khoa
Khóa 1 là trung tướng Nguyễn
Hữu Có; Khóa 2 là thiếu
tướng Hồ Văn Tố
(chết bất
th́nh ĺnh năm 1961 trong
lúc chỉ huy Liên Trường Vơ
Khoa Thủ Đức).
Những tướng lănh tốt nghiệp
Khóa 1 như các trung tướng
Đặng Văn Quang; Tôn Thất
Đính, Nguyễn Văn Thiệu, Trần
Văn Trung. Một số sĩ quan
cấp thiếu tướng và chuẩn
tướng như, Bùi Đ́nh Đạm;
Phan Xuân Nhận; Tôn Thất
Xứng; Nguyễn Văn Chuân.
Khóa 2 có chín sĩ quan trở
thành tướng lănh, trung
tướng
Ngô Dzu
và
Nguyễn Văn Mạnh;
các thiếu tướng
Trần Thanh Phong; Huỳnh Văn
Cao; Hoàng Văn Lạc; Lê Ngọc
Triển;
và chuẩn tướng
Lê Trung Tường.
Trung tá Vương Văn Đông, một
trong những nhân vật chủ mưu
đảo chánh 11-11-1960, cũng
ra từ Khóa 2 này.
Khóa 3 Trần Hưng Đạo có 135
sĩ quan tốt nghiệp. Đây là
khóa đầu tiên khai giảng ở
Đà Lạt. Có chín sĩ quan trở
thành cấp tướng — cấp tướng
hạng “nặng kư.” Khóa có Bốn
trung tướng
Hoàng Xuân Lăm
(tư
lệnh Quân Đoàn I; tốt nghiệp
hạng 5);
Nguyễn Xuân Thịnh
(tư
lệnh binh chủng Pháo Binh;
hạng 8);
Lâm Quang Thi
(tư
lệnh tiền phương Quân Đoàn
I; 12);
và
Lữ Lan
(tư lệnh
Quân Đoàn II, 24).
Hai sĩ quan tốt nghiệp trở
thành tướng của Quân Chủng
Không Quân là chuẩn tướng
Vơ Dinh
(tham
mưu trưởng Không Quân VNCH)
và chuẩn tướng
Nguyễn Ngọc Óanh
(chỉ
huy trưởng Trung Tâm Huyến
Luyện Không Quân).
Hai thiếu tướng Nguyễn Văn
Hiếu
(á khoa, tư
lệnh phó Quân Đoàn III khi
bị tai nạn súng chết)
và Lâm Quang Thơ. Tướng Thơ
và Thi đều trở về trường mẹ,
làm chỉ huy trưởng trường Vơ
Bị Quốc Gia.
Từ Khóa 4
(Khóa Lư
Thường Kiệt, tháng 11-1951 –
tháng 12-1951)
đến Khóa 10
(Khóa Trần
B́nh Trọng, tháng 10-1953 –
tháng 6-1954)
trường đào tạo thêm 23 tướng
lănh.
Phần lớn là những tướng hành
quân/ tác chiến, hơn là
tướng tham mưu/ hành chánh.
Khóa 4 có hai trung tướng là
Nguyễn Văn Minh
(tư lệnh QĐ III, 1972)
và cố trung tướng
Nguyễn Viết Thanh
(tư lệnh QĐ IV khi tử nạn
tháng 5-1970).
Hai sĩ quan kia là chuẩn
tướng
Đỗ Kiến Nhiểu
(đô
trưởng Sài G̣n)
và thủ khoa
Nguyễn Cao Albert
(giăi
ngũ).
Riêng tên của cố trung tướng
Nguyễn Viết Thanh được đặt
cho hai khóa tốt nghiệp sĩ
quan của QLVNCH: Khóa 6/1970
Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức,
và Khóa 26 Vơ Bị Quốc Gia Đà
Lạt.
Khóa 5 Hoàng Diệu
(8-1951 –
5-1952),
với 225 sĩ quan tốt nghiệp,
là khóa đào tạo nhiều tướng
lănh nhất — 10 sĩ quan cấp
tướng. Các trung tướng
Nguyễn Văn Toàn; Nguyễn Vĩnh
Nghi; Phạm Quốc Thuần; Dư
Quốc Đống; Phan Trọng Chinh.
Hai thiếu tướng
Trần Bá Di
và
Đỗ Kế Giai.
Các chuẩn tướng
Trần Văn Cẩm; Chương Dzếnh
Quay; Lê Văn Tư.
Có ba đại tá tốt nghiệp khóa
này cũng được nhắc đến nhiều
là
Dương Hiếu Nghĩa
(thủ
khoa, liên hệ đến vụ đảo
chánh 1-11-1963);
Phạm Văn Liễu (ra
trường hạng 19, liên hệ đến
nhiều vụ đảo chánh);
và Lê Đức Đạt
(hạng 20,
tư lệnh sư đoàn 22 bộ binh
khi bị mất tích ở Tân Cảnh
tháng 4-1972).
Khóa 6 Đinh Bộ Lĩnh
(12-1951 –
10-1952; 181 sĩ quan tốt
nghiệp)
có ba chuẩn tướng Lư Ṭng Bá
(thủ khoa);
Trần Quang Khôi
(hạng 6);
và Trần Đ́nh Thọ
(hạng 79).
Nhà văn trung tá Nguyễn Đạt
Thịnh cũng đến từ khóa này.
Khóa 7 có chuẩn tướng
Trương Quang Ân
(thủ khoa, tử
nạn trực thăng năm 1968);
Lê Văn Thân; và Trần Văn Hai.
Khóa 8 có thiếu tướng
Phạm Văn Phú,
và chuẩn tướng
Huỳnh Thới Tây
(tư lệnh Cảnh Sát Đặc Biệt).
Khóa 9 không có sĩ quan tốt
nghiệp nào lên tướng. Khóa
10 Trần B́nh Trọng
(10-1953 – 6-1954)
là khóa đông nhất của 10
khóa đầu tiên, với 400 sĩ
quan tốt nghiệp. Thiếu tướng
Lê Minh Đảo
(hạng 18);
hai chuẩn tướng Vũ Văn Giai
và Trần Văn Nhật. Mười khóa
đầu của trường Vơ Bị Quốc
Gia đào tạo tất cả 40 tướng
trong số 80 tướng hiện dịch
của năm 1974
(80 tướng
hiện dịch không kể tướng của
Quân Chủng Hải Quân hay
Ngành Quân Y).
Trong khi 10 khóa đầu đào
tạo nhiều tướng lănh chỉ huy
của QLVNCH,
các Khóa 11 đến 20 đào tạo
nhiều sĩ quan trung cấp, cột
trụ của quân đội. Những sĩ
quan cấp trung tá và đại tá
của Khóa 14-18 hiện diện và
chỉ huy hầu hết các đơn vị
chủ lực của QLVNCH.
Khóa 16 Ấp Chiến Lược
(226 sĩ
quan tốt nghiệp; thủ khoa
Bùi Quyền)
có nhiều sĩ quan đă lên đến
cấp bậc trung tá hay đại tá,
chỉ huy trung đoàn hay lữ
đoàn trong quân đội.
Hai Khóa 19 và 20 th́ có
nhiều sĩ quan tiểu đoàn
trưởng.
Khóa 19 có 394 sĩ quan tốt
nghiệp và là khóa kém may
mắn nhất: ba sĩ quan vừa tốt
nghiệp vài ngày đă tử trận
ngay ở chiến trường, trong
đó thủ khoa Vơ Thành Kháng
(trận
B́nh Giả).
Khóa 20 được coi là đông
nhất
(406 tốt nghiệp; thủ khoa
Trần Thanh Quang).
Khóa 22B là khóa đầu tiên ra
trường với tŕnh độ văn hóa
bốn năm. Nhưng khóa cũng
không được may mắn khi thủ
khoa Nguyễn Thanh Phóng bị
tử trận vài tháng sau đó,
trong cuộc hành quân đánh
qua Cam Bốt năm 1970.
Origins of the
Vietnamese National Army,
Its Officer Corps and Its
Military Schools
Đây là tài liệu nghiên cứu
về Lịch Sử Quân Đội Quốc Gia,
Hệ Thống Sĩ Quan, và Các
Trường Huấn Luyện Quân Sự.
Tác giả James Nach đi ngược
về năm 1939, khi Cao Ủy Đông
Dương, tướng Catroux, bắt
đầu tuyển mộ và huấn luyện
sĩ quan Việt Nam cho quân
đội Pháp và cho quân đội
thuộc địa trong tương lai.
Đây không phải là một thiện
chí của chánh phủ Pháp đối
với người dân thuộc địa, đây
chỉ là một pḥng hờ cho thế
chiến thứ hai bắt đầu nhen
nhúm. Tài liệu nói về một số
trường đào tạo cấp chỉ huy
quân sự từ năm 1939 trở đi
như:
Nội Ứng Nghĩa Đinh và Nội
Ứng Nghĩa Quân. Theo tác giả
Nach, trung tướng
Văn Thành Cao và Tŕnh Minh
Thế
của quân đội Liên Minh Cao
Đài được huấn luyện từ
trường này. Người Pháp cũng
lập ra một vài trường huấn
luyện quân sự cho các giáo
pháo. Trường huấn luyện Cái
Vồn của Ḥa Hảo là nơi xuất
thân của các tướng Trần Văn
Soái, Cao Hảo Hớn, Lâm Thành
Nguyên. Tác giả cho biết sau
khi trường Cái Vồn bị đón
cửa, một số sinh viên được
phép ghi danh nhập học
trường Vơ Bị ở Huế. Những
trường khác được nhắc tên
trong giai đọan này như
Trường Móng Cay, Trường Quân
Chính, trường Quốc Gia Thanh
Niên Đoàn
(một trường quân sự chính
trị do Nhất Linh Nguyễn
Tường Tam lập).
Năm 1946-47 Đảng Đại Việt
của Trương Tử Anh thiết lập
trường huấn luyện quân sự
Lục Quân Trần Quốc Tuấn.
Trường khai giảng ở Thanh
Hóa, nhưng sau đó v́ áp lực
của Việt Minh nên phải dời
về Yên Bái, và sau cùng về
vùng Chapa gần biên giới
Việt-Trung. Trường này đôi
khi c̣n được gọi là trường
sĩ quan Yên Bái. Những người
đă theo học trường này gồm
có thiếu tướng Phạm Xuân
Chiểu; đại tá Phạm Văn Liễu;
đại sứ Đinh Tŕnh Chinh
(đại sứ ở Thái Lan);
đại sứ; đại sứ Ngô Tôn Đạt
(đại
sứ ở Đại Hàn);
và kư giả Nguyễn Tú
(Nhật
Báo Chính Luận).
Cũng trong thời gian
1938-1940, quân đội Pháp
thiết lập hai trường huấn
luyện sĩ quan và hạ sĩ quan
thành sĩ quan ở Thủ Dầu Một
và Tong. Đại tướng
Dương Văn Minh,
và tổng trưởng Tư Pháp
Lê Văn Thu
theo học Trường Thủ Dầu Một;
trường Tong th́ có những sĩ
quan tốt nghiệp như các
trung tướng
Trần Văn Đôn; Linh Quang
Viên; Nguyễn Văn Vỹ; và Trần
Văn Minh.
Sau đệ nhị thế chiến, Bộ Tư
Lệnh Quân Đội ở Dông Dương
gia tăng tuyển mộ lính thuộc
địa cũng như huấn luyện cấp
chỉ huy để phục vụ ở những
đơn vị này.
Trường Vơ Bị Vơ Bị Liên Quân
Viễn Đông được thành lập
tháng 7-1946 tại Đà Lạt.
Trường chỉ khai giảng một
khóa duy nhất, với 16 sĩ
quan tốt nghiệp. Những sĩ
quan tốt nghiệp trường này
gồm có hai đại tướng
Nguyễn Khánh và Trần Thiện
Khiêm; trung tướng Trần Ngọc
Tám
và
Dương Văn Đức; các thiếu
tướng Nguyễn Văn Kiểm
(chánh
vơ pḥng của tổng thống
Thiệu);
Lâm Văn Phát; Bùi Hữu Nhơn;
Cao Hảo Hớn; và Dương Ngọc
Lắm. Năm 1947-1948 trường
được dọn Vũng Tàu và có tên
mới là École Militaire Nuoc
Ngot
(Trương Vơ Bị Nước Ngọt,
Vũng Tàu).
Những sĩ quan tốt nghiệp
trường này có cố trung tướng
Đỗ Cao Trí;
thiếu tướng
Nguyễn Xuân Trang
(Tham
Mưu Phó Pḥng Nhân Viên, Bộ
Tổng Tham Mưu);
đại tá
Trang Văn Chính
(chỉ
huy phó Chiến Tranh Chính
Trị);
và đại tá
Bùi Quang Định
(Bộ
Chiêu Hồi).
Trong năm năm, 1949-1953,
một trung tâm huấn luyện
hoàn hảo sĩ quan được thành
lập ở Cap St. Jacques. Trung
tâm huấn luyện năm khoá.
Khóa 1 có những sĩ quan tốt
nghiệp như cố đại tướng
Cao Văn Viên;
cố trung tướng
Nguyễn Chánh Thi;
chuẩn tướng
Nguyễn Hữu Hạnh;
và đại tá
Vũ Quang Tài.
Như đă nói ở phần đầu bài
viết, năm 1948 một trường
đào tạo sĩ quan được thành
lập ở Huế đễ bắt đầu lịch sử
Trường Vơ Bị Quốc Gia. Tác
giả James Nach đă sơ lượt về
Trường Vơ Bị Quốc Gia. Cũng
trong cùng tài liệu, ông
Nach sơ lược về lịch sử
Trường Liên Quân Vơ Khoa Thủ
Đức. Tài liệu này cũng công
phu không kém tài liệu về
Trường Vơ Bị Quốc Gia. V́
khuôn khổ giới hạn của bài
viết, ở đây chỉ tóm tắt lại
những chi tiết đáng ghi nhớ.
Nguyên thủy lúc thành h́nh
là trường Sĩ Quan Trừ Bị Thu
Duc va Nam Dinh
(Les
Écoles des Cadres de Réserve
de Thu Duc et Nam Dinh),
với Khóa 1 Lê Văn Duyệt được
khai giảng ngày 1 tháng
10-1951 ở hai nơi, Thủ Đức
và Nam Định. Thủ Đức có 278
sĩ quan tốt nghiệp; Nam Định
có 218. Khóa 1 đào tạo tất
cả 19 tướng lănh cho QLVNCH,
trong đó có bốn trung tướng,
Trần Văn Minh; Nguyễn Đức
Thắng, Lê Nguyên Khang,
và
Đồng Văn Khuyên
(á
khoa).
Sau Khóa 1, trường dời về
Thủ Đức. Trong mười khóa đầu
tiên, Khóa 4 Cương Quyết
(12-1953 – 6-1954)
và Khóa 5 V́ Dân
(6-1954 – 2-1955)
có số sinh viên tốt nghiệp
nhiều nhất, 1.148 sĩ quan
cho Khóa 4; 1.396 cho Khóa
5.
Khóa 4 có được năm sĩ quan
lên cấp tướng: cố trung
tướng
Ngô Quang Trưởng;
thiếu tướng
Bùi Thế Lân;
cố chuẩn tướng
Lê Quang Lưỡng và Hồ Trung
Hậu;
và chuẩn tướng
Nguyễn Văn Điềm.
Khóa 5 có chuẩn tướng
Lê Văn Hưng.
trừ những sĩ quan tướng lănh,
Khóa 4 có nhiều sĩ quan cấp
trung tá và đại tá chỉ huy
những đơn vị chủ lực của
QLVNCH. Nh́n lại lịch sử
cuộc chiến, đây là những sĩ
quan đứng mũi chịu sào của
giai đọan khói lửa
1965-1972. Theo tài liệu của
James Nach, từ năm 1951 đến
năm 1965, Thủ Đức đào tạo
20.927 sĩ quan. Đến tháng
9-1973, có tất cả 80.115 sĩ
quan tốt nghiệp từ trường.
—————————————————————
1. Allan E. Goodman, An
Institutional Profile of the
South Vietnamese Officer
Corps. Rand Research,
RM-6189-ARPA, June 1970
(declassified 1992).
Tài liệu này được bắt đầu
thực hiện vào năm 1967, thời
gian này vẫn c̣n nhiều xung
đột giữa hai nhóm tướng lănh,
Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn
Cao Kỳ. Trong tài liệu,
ngoài một số chi tiết cá
nhân của các tướng lănh, tác
giả Goodman c̣n phân lọai ra
tướng lănh thuộc phe nhóm
nào.
2. The National Military
Academy and Its Prominent
Graduates, James Nach,
American Ambassy Saigon,
Airgram A-95, May 13, 1974;
Origins of the Vietnamese
National Army, Its Officer
Corps and Its Militray
Schools, James Nach, airgram
A-131, no date.
3. Một số sĩ quan tốt nghiệp
Khóa 3 Trần Hưng Đạo không
đồng ư gọi đó là Khoá 3, mà
là Khóa 1 Đà Lạt. Đại tá Bùi
Dzinh, thủ khoa khóa Trần
Hưng Đạo
(11 tháng
10-1950 – 24 tháng 6-1951)
trong một lá thư viết cho
ban biên tập Nội San Đa Hiệu
(Đa Hiệu, Số 43, phát hành
19 tháng 6-1996, trang
247-149),
nói ư kiến của ông là, v́
trường bắt đầu một tiến
tŕnh mới của quân đội,
không có liên hệ với trường
Sĩ Quan Hiện Dịch Đập Đá ở
Huế, nên ông không gọi đó là
Khóa 3. Ông viết, “Tôi
không muốn tranh ngôi thứ
của khóa, chỉ nhằm nói lại
cho danh chánh ngôn thuận mà
thôi.”
Trung tướng Lữ Lan, cũng
khóa Trần Hưng Đạo, th́ nói,
v́ ḿnh kính trọng hai lớp
đàn anh đi trước, nên gọi đó
là Khóa 3. Trong bài viết
này, Khóa 3 là khóa bắt đầu
ở Đà Lạt.
4. Dĩ nhiên chúng ta không
thể không nhắc đến sĩ quan
tốt nghiệp từ Trường Vơ Bị
Liên Quân Thủ Đức. Tuy nhiên
đó là một đề tài khác. Khóa
14 Đà Lạt tương đương với
Khóa 8 Thủ Đức, cùng ra đầu
năm 1960. Khóa 20 Đà Lạt
(11-1965)
và Khóa 20 Thủ Đức cũng tốt
nghiệp cùng thời gian
(12-1965;
năm 1965 Thủ Đức cho ra
trường ba khóa, 18, 19, và
20).
5. Theo lời kư giả Nguyễn Tú
kể, th́ đại sứ Bùi Diễm chỉ
học trường Lục Quân Trần
Quốc Tuấn trong thời gian ở
Yên Báy, và bỏ dở chương
tŕnh lúc trường dọn về
Chapa.
6. Trường Hạ Sĩ Quan Thành
Sĩ Quan, c̣n gọi là Trường
Hoàn Hảo Sĩ Quan — Centre de
Perfectionnement des Sous
Officiers Indochinois.
7. Tài liệu của James Nach
nói 16 sĩ quan tốt nghiệp,
trong khi sách quân sử VNCH
Quân Lực Việt Nam Trong Giai
Đoạn H́nh Thành nói chỉ có
10 sĩ quan tốt nghiệp.
8. V́ khuôn khổ giới hạn,
người viết sơ lược đến đó.
Đọc giả có thể t́m tài liệu
này ở hai nơi: Vietnam
Center, Texas Tech
University, Lubbock, Texas;
hay, Cornell University,
Ithaca, New York.
|
Những Cuộc Chiến Trong
Lịch Sử
Vinh Danh Chiến Sĩ v́ TỔ QUỐC Vong Thân
Nguyễn Quư Đại - Munich
Một
ngàn năm độ hộ giặc Tàu
Một trăm năm độ hộ giặc Tây
Hai
mươi năm nội chiến từng ngày
Gia tài
của mẹ TCS

Những nét chính qua các giai đoạn trong lịch sử Việt Nam
Các
nước Âu Châu đua nhau đi t́m thuộc địa, Pháp cũng dùng tàu chiến đến
các nước Đông Dương trong đó có Việt Nam, chủ trương của Pháp là
ngoại giao pháo thuyền/ gunboat diplomacy thăm ḍ t́nh h́nh Việt Nam
từ (1847-1858).
Ngày
1/9/1858 lần đầu tiên Pháp bắn phá Đà Nẳng, và dần dần đánh chiếm
các tỉnh miền Nam rồi miền Bắc. Quân dân Việt Nam luôn chiến đấu
chống ngoại xâm nhưng đều bị thất bại. Quân Pháp chiến thắng khắp
nơi họ buộc triều đ́nh Việt Nam kư ḥa ước Quư Mùi (1883) đến tháng
5 năm 1884 (Giáp thân) ḥa ước được kư kết một lần nưả gồm 19 khoản
Việt Nam phải công nhận nền bảo hộ của thực dân Pháp
(1884-1948).
Các cuộc nổi dậy chống Tây:
-
Nguyễn Thiện Thuật (1841- ? ) địa danh Bải sậy (
1885-1889)
- Phan Đ́nh Phùng (1847-1895)
Hương Khê 1895
- Đinh Công Tráng (1842-1887)
Ba Đ́nh ( 1886-1887)
-Tống Duy Tân (1837-1892)
Hùng lĩnh (1886-1892)
-Hoàng Hoa Thám (1858-1913)
Yên Thế (1887-1913)
Các
phong trào Cần Vuơng, Văn Thân là những cuộc khởi nghiă bạo động với
vũ khí thô sơ cổ điển, không thể chống lại quân đội thiện chiến, vũ
khí tối tân của thực dân Pháp. Các phong trào trên đều bị đánh bại,
nhưng đă gây tiếng vang trở thành ngọn đuốt soi đường cho các thế hệ
sau nầy. Muốn dành độc lập giải phóng đất nước sĩ phu Việt Nam phải
thay đổi đường lối hoạt động. Các phong trào Đông Du
(1904-1908), Duy Tân (1905-1908)
với chủ trương canh tân đất nước khi nào đủ khả
năng sẽ đứng lên đ̣i hỏi độc lập tiếc kiệm được xương máu...!
Việt Nam dưới thời đệ nhị Thế chiến
Ngày
19/6/1940 Nhật Bản buộc Pháp mở cửa Đông Dương cho quân Nhật vào.
Nhật lập khối Đại Đông Á ngày 1/8/1940 T́nh h́nh thế giới thay đổi
ngày 23/8/1944 quân đội Đồng Minh tiến vào Paris.. Ngày 30/4/1945
Hitler tự tử, người kế vị là Karl Doenitz đă đầu hàng vô điều kiện
ngày 9/5/1945. Chiến tranh để lại thế giới đau thương, nghèo đói và
đổ nát.
Ngày 9/3/1945 Nhật đảo chánh Pháp cầm quyền ở Đông Dương. Nhật muốn
thay Pháp làm chủ Đông Dương ,Đại sứ Nhật Yokoyama yết kiến vua Bảo
Đại sáng ngày 11/3/1945 tại Điện Thái Hoà tuyên báo trả độc lập cho
Việt Nam.. Nhà vua đề nghị lập Trần Trọng Kim (1883-1953) lên Thủ
tướng
nhưng người Nhật cũng thuộc loại thực dân kiểu mới, không giúp Việt
Nam thành lập Quân đội để bảo vệ Quốc Gia, v́ quyền lợi trao đổi với
Pháp, Nhật đă phản bội Trần Trung Lập trên đường về nước .. Trục
xuất du học sinh Việt Nam, Phan Bội Chầu, Cường Để.. đây cũng là
bài học đau thương trong lịch sử !
Nguyên nhân gây nạn đói tại miền Bắc
Người miền Bắc không thể quên từ
(1944-1945) bị nạn mất mùa và ảnh
hưởng trước đó chính phủ Pháp buộc nông gia Việt Nam trồng lúa để
trồng bông vải, đay, gai cây có dầu..Pháp thu mua lúa gạo bán cho
Nhật..Hơn 80 ngàn quân Nhật đến chiếm đóng ăn gạo của Việt Nam, Pháp
Nhật đều lấy lúa trử trong kho lớn cho quân đội. Trong lúc đó gần 2
triệu người chết đói xác người nằm rải rác trên khắp phố phường! Thi
sĩ Bàn Bá Lân đă ghi lại bài thơ đói .!!
Năm Ất Dậu tháng ba , c̣n nhớ măi
Giống lạc Hồng cực trải lắm đau thương!
Những thây ma thất thểu đầy đường
Rồi ngă gục không đứng lên v́ .. đói !
..................
Năm ấy, thưở nhật Tây đô hộ
Chúng thi nhau cướp lúa của dân ta
Hết lúa rồi, hết sạch cả khoai ngô
Hết củ chuối, hết nhẳn khô cả sắn ..
Biến đổi
lịch sử Việt Nam
Ngày 06/8/1945 lúc 8 giờ sáng chuyến bay B-29 cất cánh từ TINIAN một
đảo nhỏ thuộc Marianas ném trái bom «littke Boy» xuống Hiroshima
nhiệt độ từ 5400-7500 độ F lửa bốc cao 1900 feet sát hại hơn 100
ngàn người ; và ngày 09/8 ném «Fat man» xuống Nagasaki giết chết 74
ngàn người. Đến ngày 15/8/1945 Nhật Hoàng
Hiro Hito đầu hàng vô điều kiện trên
chiến hạn
Missouri của Hoa Kỳ chấm đứt đệ nhị thế chiến.
Tối hậu thư Postdam
sau khi Đức thua trận, quân đội Nhật bị giải giới, phiá Bắc vĩ tuyến
16 do quân đội Trung Hoa Quốc Dân Đảng
(Tưởng Ǵới Thạch)
phiá Nam
vĩ tuyến 16 do quân đội Anh, người Pháp theo chân quân Anh trở lại
!! Giai đoạn khủng khoảng chính trị tại Việt Nam. Ngày 17/8/1945 tại
Hà Nội Tổng hội Công chức tổ chức tại nhà hát lớn ủng hộ chính phủ
Trần Trọng Kim. Cán bộ cộng sản Đông Dương núp trong mặt trận Việt
Nam Độc Lập Đồng Minh Hội gọi tắc là Việt Minh cướp chính quyền ngày
19/8/ 1945 gọi là cách mạng mùa Thu. Lư Đông A đă ngỡ ngàng trước
thời cuộc tráo trở (giáo giở):
Nhưng rồi một sáng muà thu trở lại
Tuổi hai mươi mắt nh́n đời trẻ dại
Ngỡ cờ sao rực rỡ
Tô thắm xứ sở yêu thương
Có ngờ đâu giáo giở đă lên đường
Hung baọ phá bờ kim cổ
Hồ
Chí Minh tuyên bố thành lập chính phủ độc lập ngày 2/9/1945 và yêu
cầu Cựu hoàng Bảo Đại (1913-1997) thoái vị ngày 30/8/1945 tại cửa
Ngọ Môn làm công dân Vĩnh Thuỵ, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời làm cố vấn
cho chính phủ Việt Minh. Nhưng chính phủ Việt Minh gặp trở ngại
trước sự hiện diện của các đảng phái cách mạng theo khuynh hướng
Quốc Gia. Chủ tịch HCM muốn lừa dối tiếp nên tuyên bố giải tán đảng
CS Đông Dương ngày 11/11/1945 nhưng tiếp tục hoạt động ngầm. Tổ chức
tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 và thành lập chính phủ liên hiệp ngày
2/3/1946.
Chiến tranh chống Pháp bùng nổ ngày 19/12/1946 Chính quyền VM thực
hiện tiêu thổ Kháng chiến, nhiều nơi VM đốt phá Đ́nh Chùa, nhà
cưả.. rút lên chiến khu dùng chiến thuật du kich để chống Pháp.
Nhiều người yêu nước lên đường kháng chiến, nhưng sau khi tiếp xúc
với cán bộ kháng chiến thấy mặt thật của Việt Minh là cộng sản,
nhiều người tuyệt vọng bỏ trốn trờ về thành phố gọi là “rinh tê”
vùng đất do Pháp chiếm đóng, để sống dưới chế độ Quốc gia do cựu
hoàng Bảo Đại thành lập sau thoả ước Elyseé 1949.
Sau
cách mạng muà Thu xă hội đảo lộn về đạo đức, luân lư bởi v́ Việt
Minh chủ trương “ trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận ngọn”,
chiến dịch cải cách ruộng đất bắt chước theo mô thức của Nga-Tàu.
Từ năm 1949-1956 Việt Minh đă làm 5 đợt cải cách ruộng đất, con tố
bố mẹ, nàng dâu xỉ vả mẹ chồng, tổng bí thư Trường Chinh đă đấu tố
cả cha mẹ ông ta.. Giết chết hơn 200 ngàn người vô tội, toà án nhân
dân thành lập ở các vùng thôn quê do những cán bộ không học xét xử,
những đêm đấu tố tại các đ́nh làng, xă thôn.. Xuân Diệu theo Vẹm làm
thơ tanh mùi máu:
Anh em ơi! quyết chung lưng
Đấu tranh tiêu diệt tàn hung kẻ thù
Địa hào, đối lập ra tro,
Lưng chừng phản động đến giờ tan xương
Thắp đuốc cho sáng khắp đường
Thắp đuốt cho sáng đ́nh làng đêm nay
Lôi cổ bọn nó ra đây
Bắt quỳ gục xuống, đoạ đày chết thôi..
Chủ trương của ông Hồ “Tất
cả những ai không theo đường lối của tôi đều sẽ bị bẻ găy
/ All
those who do not follow the line which I have laid down will be
broken“ (Jean Lacouture / Peter Wiles )
H́nh ảnh man rợ tàn khốc
trên đă đẩy người quốc gia phải gần Pháp hơn. Việt Minh đă thủ tiêu
học giả Phạm Quỳnh (1892-1945), cha con ông Ngô Đ́nh Khôi
(1885-1945) ngày 6/9/1945 tại làng Cổ Bi
(Phong Điền), nhà cách mạng
Tạ Thu Thâu (1906-1945) tháng 9/ 1945 ở Quảng Ngăi, lănh tụ Đại Việt
Quốc Dân Đảng ông Trương Tử Anh
(1914-1946) ngày 19/12/ 1946. Đức
Huỳnh Phú Sổ (1920-1947)
ngày 14/6/1947 tại làng Đốc Vàng
(Long
Xuyên), Lư Đông A Nguyễn Hữu Thanh (1919-1947) và nhóm
(Đại Việt Duy
Tân), nhà văn Khái Hưng năm 1947. Việt Minh tạo ra vụ án Ôn Như Hầu
ở Hà Nội và vụ cầu Chiêm Sơn ở Quảng Nam cuối tháng 7/1946 để thành
trừng đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng.. vv .. Những cuộc khủng bố
thủ tiêu của Vẹm từ năm 1945 kéo dài theo chiều dài lịch sử cho đến
Tết Mậu thân (1968) ở Huế !! Chế độ cộng sản độc tài thường thanh
trừng người đối lập như tạo ra vụ án xét lại bỏ tù những tướng lănh,
cán bộ trong thập niên 1960 tại miền Bắc và qua nhiều h́nh thức khác
nhau .Tố Hữu đâ cổ động giết người:
“Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,
Cho ruộng đồng luá tốt, thuế mau xong
Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung ḷng
Thờ Mao chủ tịch, thờ Stalin bất diệt “
Cựu hoàng Bảo Đại chỉ làm cố
vấn bù nh́n, ông phải trốn thoát sang Trung Hoa để về với Pháp chống
lại Việt Minh ông đă nói .“
Việt Minh là một chế độ cộng sản quốc
tế không phù hợp với truyền thống cổ truyền của dân tộc Việt
Nam“. Người Pháp đă lợi dụng những người quốc gia thành lập những lực
lượng quân sự người bản xứ để chống lại Việt Minh.
Hiệp định Hạ Long kư ngày
5/6/1948 giưă Bollaert và cựu Hoàng trên tàu Duguay Trouin. Pháp
công nhận Việt Nam độc lập và để thực hiện lấy thống nhất độc
lập..tổ chức “Quân Đội Quốc Gia”.
Việt Nam
được Pháp trao trả độc lập
Ngày
8/3/1949 Cựu hoàng Bảo Đại và tổng thống Pháp Vincent Auriol
(1884-1966) kư kết thoả ước Elysée tại Paris, Pháp chính thức
huỷ bỏ Ḥa ước bảo hộ từ năm 1884, và trao trả độc lập lại cho Việt Nam, một quốc gia thống nhất ba
miền Bắc-Nam-Trung có nền ngoại giao, kinh tế, tài chánh, tư pháp,
giáo dục riêng và Pháp hưá giúp đỡ xây dựng một quốc gia chống cộng
do sĩ quan người Việt điều khiển, dưới sự điều khiển của Quốc trưởng
Bảo Đại.
Giải pháp Bảo Đại ra đời những người quốc gia đă kết hợp nhau thành
một trận tuyến chống cộng, đây là một giai đoạn quan trọng trong
lịch sử về chính trị đ̣i lại quyền tự chủ đất nước, và đưa đến
thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Sau thoả ước Elyseé Việt Nam có hai chính phủ. Miền Bắc do ông Hồ
làm chủ tịch, quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (VNDCCH) với cờ đỏ
sao vàng. Chính phủ chống cộng tại miền Nam, quốc hiệu là Quốc gia
Việt Nam (QGVN) cờ vàng ba sọc đỏ, sau nầy đổi thành
Việt Nam Cộng Hoà (VNCH).
Những
tiến tŕnh từ Quân Đội Quốc Gia đến Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà
1946-1949 giai đoạn sơ khai
1950-1952 giai đoạn chính thức thành h́nh
1953-1954 giai đoạn phát triển
Thời kỳ Độc lập
1954-1955 giai đoạn chuyển tiếp
1956
giai đoạn độc lập
Các quân
trường đă được thành lập
Chính phủ lúc bấy giờ đă cho
thành lập một Trường Sĩ Quan Hiện Dịch nhằm đào tạo các cán bộ nồng
cốt cho Quân Đội.
Trường Sĩ Quan Huế là trường
đầu tiên của Việt Nam được xây cất tại Đập Đá bên cạnh gịng sông
Hương 1/2/1948. Sau hai năm, trường Sĩ Quan Hiện Dịch Huế được di
chuyển về Đà Lạt 5/11/1950 v́ nơi đây có đầy đủ các điều kiện về khí
hậu và huấn luyện để rèn luyện các Sĩ Quan thích ứng với mọi hoàn
cảnh của chiến trường. Trường được cải tổ toàn điện và đổi tên thành
Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt nơi đào tạo ra Sĩ quan ưu tú VNCH
văn vơ song toàn, muốn vào trường nấy chọn đời binh nghiệp, phải
qua một kỳ thi tuyển hội đủ điều kiện văn hoá và sức khoẻ .
Các trường vơ bị địa phương từ 15/9/1950 tại Trung Chánh, Huế và Nam
Định
(1)
Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức ngày 1/10/ 1951 (2)
Trung Tâm Huấn Luyện Không quân Nha Trang 3/1952
Trung Tâm Huấn Luyện Hải quân Nha Trang 12/7/1952
Trường Đại học Y khoa 1/10/1951 Hà Nội
Các
trung tâm huấn luyện tân binh quân dịch 1 và 4
Trường Hạ sĩ quan Đồng Đế Nha trang, Trường Chiến Tranh Chính Trị Đà
lạt.
Trường Thiếu Sinh Quân từ
1950 tại Gia Định, Huế, và Hà nội sau nầy được thành lập trường
Thiếu Sinh Quân tại Vũng Tàu v v...
Hiệp định Genève kư ngày 20/7/1954 chia đôi đất nước tại vĩ tuyến
17 lấy sông Bến Hải ngăn cách hai miền Nam Bắc.
Cầu Hiền Lương
do Công binh Pháp dựng năm 1950
(trước đấy dân hai bờ qua lại bằng
thuyền). Cầu có 7 nhịp, dài 178m, được lát bằng 894 miếng ván. Theo
Hiệp định Genève, mỗi bên có chủ quyền 89m cầu. Ranh giới trên cầu
Hiền Lương và sự chia cắt bờ sông Bến Hải đă kéo dài hơn 20 năm.
Chấm dứt chiến tranh Việt-Pháp, quân đội Pháp mất 92.000
(trong số
đó có 19.000 Pháp, 43.000 Việt, 30.000 lê dương Phi Châu và Bắc Phi.) Số người bị thương đưa về nước 114.000, tù binh 28.000
(theo Louis
Saurel sđd).
Gần
một triệu người miền Bắc bỏ quê hương di cư vào Nam. Miền Bắc theo
chủ nghiă cộng sản cai trị độc tài qua các cuộc cải cách ruộng đất,
vụ án nhân văn Giai Phẩm năm 1956, thanh trừng lẫn nhau qua vụ án
xét lại....
Miền nam theo thể chế tự do,
Quốc trưởng Bảo Đại cử cựu Thượng thư Ngô Đ́nh Diệm
(1901-1963)
làm
Thủ tướng ngày 7-7-1954. Nhưng cựu hoàng Bảo Đại với danh xưng Quốc
trưởng nhưng sống ở Cannes bên Pháp, không trực tiếp điều hành Quốc
Gia Việt Nam. nên Ngô Đ́nh Diệm tổ chức cuộc trưng cầu dân ư ngày
23/10/1955 truất phế Bảo Đại. Ngô Đ́nh Diệm lên làm tổng thống đầu
tiên Việt Nam Cộng Hoà
(VNCH) ngày 26-10-1955.
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm thực hiện cách mạng Quốc Gia và khai sinh
nền Đệ Nhất Cộng Ḥa. Quân Đội Quốc Gia với toàn vẹn chủ quyền được
thống nhất chỉ huy dưới danh xưng Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa (Tháng
8 năm 1955 Bộ Tổng tham mưu hoàn toàn do sĩ quan Việt Nam điều
khiển, Việt ngữ lúc nầy mới được thay Pháp ngữ)
Và các trường huấn
luyện các ngành chuyên môn được thành lập để đào tạo các chuyên viên
ưu tú trong quân đội.
Quân đội được thành lập qua
nhiều giai đoạn khác nhau, nhiệm vụ khó khăn dưới thời đệ nhất Cộng
Hoà phải đối đầu quân đội Giáo phái với B́nh Xuyên
(Bảy Viễn)
các
đảng phái chính trị tại miền Trung
(chiến khu Ba ḷng, Nam Ngăi)…
Quân đội đă hy sinh xương máu
để đem lại trật tự mới cho nền Đệ Nhất Cộng Hoà, miền Nam trong giai
đoạn đó hoà b́nh, dân đi cư từ Bắc vào Nam trên bước đường an cư lạc
nghiệp, đời sống ấm no. Văn hoá miền Nam phát triển tự do, ảnh hưởng
tư tưởng lăng mạn Tây phương..Thơ
văn, nhạc ca tụng hoà b́nh, người miền Nam mơ hồ về cộng sản qua
tuyên truyền. Xă hội phát triển , nhiều đoàn thể, đảng phái, một số
tôn giáo đôi khi tranh chấp quyền lợi và thế quyền, xuống đường biểu
t́nh, kiệt thực, phản chiến, các phong trào chống chính quyền làm
xáo trộn trật tự xă hội.. Vô t́nh hay cố ư đă đâm sau lưng chiến sĩ
VNCH.
Ai gây
chiến? Ai bảo vệ hoà b́nh và tự do
Cách mạng 1/11/1963 TT
Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ. T́nh h́nh chính trị tại miền Nam thay đổi
nào là chỉnh lư, đảo chánh liên tục của một số tướng lănh có tham
vọng chính trị. Cộng sản nằm vùng có nhiều cơ hội hoạt động và phát
triển mạnh với sự ủng hộ của nhóm chủ chiến, đứng đầu là bí thư Lê
Duẩn (1907-1986) là cựu bí thư
trung ương cục miền Nam và Lê Đức Thọ, Trường Chinh... chủ trương
dùng giải pháp quân sự giải quyết mọi vấn đề. Tập đoàn cộng sản
không bỏ lỡ cơ hội. Họ tin rằng thời cơ sẽ tạo nên những điều kiện
trong lịch sử và họ thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN)
ngày 12/12/1960 tại Hà Nội.
Tránh dư luận thế giới MTDTGPMN
được chính thức công bố ngày 20/12/1960 tại chiến khu Dương Minh
Châu ở Tây Ninh. LS Nguyễn Hữu Thọ
(1910-1996) được bầu làm chủ tịch
Mặt Trận Giải Phóng miền Nam, phần lớn trong mặt trận là cán bộ CS
miền Nam và những người
bất măn với
chế độ miền Nam bỏ ra bưng theo mặt trận ?
Sau tết Mậu Thân ông Huỳnh Tấn
Phát (1913-1989) được bầu làm chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Miền Nam
Việt Nam, bà Nguyễn Thị B́nh cháu ngoại Phan Chu Trinh làm bộ trưởng
ngoại giao trong mật khu biên giới Việt Miên, là một con cờ tạo thế
đứng trong các cuộc hoà đàm Paris ?
Cộng sản thực hiện được giấc
mộng đánh miền Nam, bất kể hy sinh sanh mạng thanh niên miền Bắc “
Sinh Bắc tử Nam”, thanh thiếu niên khoảng 16 hay 17 tuổi bị
đưa vào Nam chiến đấu gọi là “đánh Mỹ cứu nước, giải phóng miền
Nam”, Lê Duẩn đă tự hào cuộc chiến đó “ta đánh Mỹ là đánh cho
Liên Xô, đánh cho Trung Quốc” (Vũ Thư Hiên sđd 422).
Trường Chinh nói : “ Kháng
chiến là một h́nh thức cao rộng, của đấu tranh giai cấp, nghiă là
cuộc đấu tranh lớn lao trên thế giới, giưă tư bản và vô
sản ...” (Nguyễn Kỳ Nam tài liệu Lịch sử 1945-54 trang 83),
lời phát biểu trên của kẻ quyền lực làm tay sai cộng sản quốc tế,
gây nên cuộc nội chiến tương tàn khổ đau dân tộc Việt Nam, như nhà
thơ Phùng Quán đă viết: “ Những con người tiêu máu của dân như
tiêu giấy bạc giả “ (Trăm Hoa Đua Nở) .
Chính
Quyền miền Nam dù được Đồng Minh giúp đỡ, Hải-Lục-Không quân, Cảnh
sát Quốc gia được đào tạo phát triển để xây dựng bảo vệ chế độ tự do
và dân chủ VNCH. Quân đội không hiếu chiến, không gây hấn, không
muốn tàn sát đồng loại, nhưng ở thế tự vệ, họ phải chiến đấu chống
lại anh em là những người ở bên kia chiến tuyến, Quân đội VNCH đối
xử với tù binh như những người bạn, bộ đội CS bị thương được cấp
cứu, chửa trị như những chiến sĩ VNCH.
Trong suốt cuộc chiến tranh tại
miền Nam với những âm mưu tuyên truyền thâm độc của cộng sản vận
động với chiếu bài trung lập, phản chiến ru ngủ người dân miến Nam,
có một số người không hiểu hay hiểu lầm, chính họ đă phản bội lại sự
hy sinh cuả quân đội VNCH. Ngày 30/4/75 cộng sản chiếm miền Nam,
thi hành chế độ độc tài đảng trị chuyên chế trên toàn đất nước, tài
sản của các Giáo hội bị tịch thu, thậm chí những người có công phản
chiến biểu t́nh chống chính phủ VNCH bị đối xử tệ bạc bị lăng quên
hoặc bắt đi cải tạo !!... những người đó mới sáng mắt ra và mới ư
thức được giá trị sự hy sinh trước đây của Quân Dân VNCH th́ đă
muộn.
Chính
sách của Hoa Kỳ đối với miền Nam
Chính trị gia Hoa Kỳ đă có quan
niệm “Hy sinh Việt Nam mới thật là đáng giá. C̣n hơn là hao phí
thêm sinh mạng (58.000 quân tử trận) và hàng tỷ mỹ kim để chống đỡ
Việt nam chẳng có hy vọng thắng lợi. Tại sao không thoả thuận thua
cuộc để đổi lấy sự mở cưả của Trung Hoa nhằm làm yếu đi kẻ thù thực
sự là Liên sô” (Roger Waner sđd tr. 336)
Người Mỹ v́ quyền lợi
cho nước Mỹ không tiếp tục giúp chính quyền VNCH !! Thế cờ thế giới
thay đổi dưới con mắt cuả các chính trị gia Hoa Kỳ, Việt Nam không
c̣n là tiền đồn chống cộng tại Đông Nam Á. Giữa Nga Tàu dù là trong
khối CS anh em, nhưng vấn đề tranh chấp biên ǵới quyền lợi, đă làm
cho Hoa Kỳ bớt lo ngại về khối CS. Người Mỹ tiếp xúc buôn bán với
Trung Hoa đông dân số có lợi nhiều hơn...Bởi vậy Hoa Kỳ bỏ rơi miền
Nam Việt Nam. Họ đă bang giao mới với Nga-Tàu sau nhiều năm lạnh
nhạt.
Hiệp định Paris ngày 27/1/1973
Quân đội Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam trong danh dự và mở đường cho sự
sụp đổ của chính quyền VNCH. Đây là kết quả của gần 5 năm đàm phán,
với 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ,
500 buổi họp báo, gần 1.000 cuộc phỏng vấn
và phong trào phản đối chiến
tranh Việt Nam trên khắp thế giới.
Cuộc chiến Việt Nam được tranh
căi qua Hiệp định Paris đă đưa miền Nam Nam đến bên bờ vực thẳm để
rồi bỏ lỡ cuộc chiến bảo vệ cho tự do và hoà b́nh...
Các bộ sách The Vietnam Experience; The fall of
the South… viết lại sự thật về những giai đoạn lịch sử, tại sao VNCH
bị thất bại ? và rất nhiều tài liệu mật được giải mă cuộc chiến tại
miền Nam.
Chiến sĩ VNCH không bao giờ bị
lăng quên họ không thiếu tinh thần chiến đấu, nhưng phải chấp nhận
số phận của một nước bế nhỏ bị hy sinh trên bàn cờ quốc tế. Khốn nạn
nhất Hoa Kỳ nhận tù binh rút quân, ngược lại cắt bỏ tiền viện trợ
cho chính phủ Việt Nam cộng Hoà, trước đó họ xem là VNCH là đồng
minh chống cộng tại Đông Nam Á.
Các
trận chiến đấu ác liệt muà hè đỏ lửa 1972 từ B́nh Long, An lộc, cổ
thành Quảng Trị. Quân đội VNCH chiến đấu đẩy lui cộng sản Bắc Việt
với quân số gấp hai ba lần với chiến thuật biển người, sử dụng tối
đa hỏa lực hỏa tiển 122 đại bác 130 ly, xe tăng nhận từ Liên Sô của
toàn khối cộng sản Đông Âu..nhưng không chiến thắng được quân lực
VNCH, cuộc chiến đấu kéo dài cho đến 30/4/1975. Độc giả có thể vào www.phanchautrinhdanang.com
đọc bài
Tại Sao Tôi Bỏ Đà Nẳng
của Tướng Ngô Quang Trưởng trong
chủ đề 30/4 !! và cuộc triệt thoái cao nguyên của Phạm Huấn để chia
xẽ nỗi đau của các cấp chỉ huy quân đội VNCH !!
Sau năm 1975 CSVN theo chính
sách cai trị của cộng sản Nga-Tàu, chủ tịch Michail Gorbatschow đổi
mới năm 1989 với Glasmost/cởi mở Perestrojka/ tái phối trí, từ đó
thiên đường CS Nga Sô sụp đổ kéo theo các nước Đông Âu.
CSVN ngă theo Trung Cộng. Việt Nam hiện nay lệ
thuộc trên phương diện chính trị ngọai giao, mà c̣n bị ảnh hưởng
nặng trên phương diện văn hóa và kinh tế. Biên giới phiá Bắc chia
cắt không được kiểm soát bởi vậy hàng hóa nhập lậu từ Trung quốc đă
giết chết nền kinh tế VN chưa được phát tiển. Những phim ảnh, hàng
giả của Trung Cộng tràn đầy thị trường, tiêu huỷ văn hoá Việt Nam.
Thương tiếc Quân dân VNCH đă
hy sinh xương máu, chiến đấu để bảo tự do dân chủ cho miền Nam,
không cộng sản, yêu chuộng hoà b́nh từ 1954 đến 1975 . Nếu không có
Quân đội chiến đấu chống cộng, th́ không có đường ranh lư tưởng rơ
ràng giữa tự do
và
cộng sản.
Cuộc chiến chấm dứt thống nhất Việt Nam, nhưng miền Nam bị đánh tư
sản, cải tạo Công-Thương-Nghiệp, đổi tiền với mục đích san bằng đời
sống 2 miền Bắc Nam, hàng triệu Sĩ quan, Công chức VNCH bị đưa đi
cải tạo .. Từ đó người miền Nam đối diện với nhà cầm quyền cộng sản
bất măn với chế độ, gây nhiều đợt
vượt biển đi t́m tự do, làn sóng vượt biên vĩ đại lần đầu tiên trong
lịch sử Việt Nam, đă chứng tỏ dân chúng không tin tưởng hợp tác với
chính quyền CSVN và nêu cao được t́nh thần yêu chuộng tự do mà họ
từng sống dưới chế độ miền Nam. Sự ra đi của người Việt làm rung
động lương tâm nhân loại và nói lên sự thật bản chất độc tài cuả CS.
Các quốc gia trước 1975 là Đồng minh của chính phủ VNCH mở rộng ṿng
tay nhân ái cứu vớt và đón nhận chúng ta.
Những người lính chiến hy sinh bản thân và gia đ́nh để chiến đấu cho
tự do bảo vệ miến Nam cho đến ngày cuối cùng, Theo lệnh của TT Đương
Văn Minh phải bỏ súng, họ
giă
từ những hy sinh và gian khổ. Họ đă khóc nhiều lần cho quê hương
chinh chiến và đă khóc cho những xác bơ vơ, nhiều người đă tự nổ
súng vào đầu hay cùng nhau mở lưu đạn cùng chết, họ không muốn
sống giữa quê hương rối loạn tràn ngập bóng quân thù.
Lịch
sử đă sang trang, cả thế giới công nhận gửi điện văn chúc mừng sự
thống nhất ở Việt Nam. Người ta uống rượu mừng Hoà B́nh! Hoà b́nh
với kẻ chiến thắng nhưng hoà b́nh không thật đến với người niền
Nam.!! Chính quyền CSVN không để Sĩ quan, Công chức b́nh yên, bắt
họ tập trung cải tạo nhiều năm dài .. May mắn những người c̣n sống
trở về với mái nhà xưa, nhưng h́nh hài héo uá. Những “người tù
chính trị” nầy được định cư Hoà Kỳ theo diện HO (Humanitarian
opperations)
là
nguồn an uỉ hít được không khí tự do của tuổi già nắng xế.
Các thế hệ đàn anh tuổi đời
đă cao, nhưng tinh thần yêu nước không bao giờ bị phôi phai. Luôn
giữ danh dự và trách nhiệm. Những nhà văn, nhà báo miền Nam họ tiếp
tục viết, xuất bản báo, các cuốn sách lịch sử giá trị cho những thề
hệ kế tiếp biết tại sao chúng ta bỏ nước ra đi làm người lưu vong !
Suốt trong thời gian qua CSVN
đổi mới, cải cách.. nhưng không đổi chính sách cai trị ! Sau khi Mỹ
bỏ lệnh cấm vận, Việt Nam được các nước Tây phương giúp đỡ, đầu tư
xây dựng phát triển tại các thành phố. Nếu du khách nh́n thấy đời
sống bề ngoài tại các thành phố tưởng lầm CSVN đổi mới !! nhưng tại
nông thôn cuộc sống vẫn nghèo đói lạc hậu..., phần lớn dân chúng c̣n
khá vất vả để kiếm ăn từng ngày, những quan chức các bộ của chế độ
th́ giàu sang ăn nhậu, nhờ tài bóc lột tham nhũng, biển thủ, bán đất
đai, khai phá tài sản quốc gia lấy tiền bỏ túi.. Tệ nạn xă hội xảy
ra hằng ngày như, lường gạt buôn lậu, x́ ke ma túy măi dâm, xuất
cảng người ra ngoại quốc làm nô lệ, đạo đức, luân lư bị suy đối...
Nh́n lại lịch sử thế giới Nga
và các nước Đông Âu đă ư thức được sự phát triển xă hội và tự do của
con người họ đă từ bỏ chủ thuyết cộng sản để sống với xă hội tự do
dân chủ . Nước Đức trong thời đệ nhị thế chiến bị phân chia hai miền
Đông Tây, nhưng họ đă thống nhất trong hoà b́nh và không có bất cứ
trại cải tạo cho những người đă làm việc với chế độ cộng sản (DDR).
Nhưng Việt Nam với danh từ thống nhất đă trả bằng xương máu, tài sản
đất nước bị tàn phá, kinh tế suy sụp nhân tâm Nam Bắc thêm chia rẽ,
bức tường ḷng c̣n ngăn cách.
Ngày
30 /4/1975 quân đội VNCH bị ră ngũ, nhưng từ đó mang lại sự sụp đổ
vĩnh viễn của huyền thoại cộng sản trong ḷng dân tộc Việt Nam. Chủ
nghiă độc tài cộng sản sẽ có một ngày toàn dân Việt Nam cùng đứng
lên lật đổ, chính nghiă Quốc Gia phục sinh là một ngọn đuốt sáng
ngời cho tự do, để dân tộc Việt Nam sống hạnh phúc cùng xây dựng đất
nước phú cường. Lịch sử thế giới cho thấy rằng các chế độ độc tài
đă bị đào thải theo thời gian.
Cộng đồng người Việt hải
ngoại thành công với đời sống tự do trong xă hội văn minh, con cháu
thành đạt trên các phương diện khoa học, kinh tế, là một tiềm năng
hy vọng góp công xây dựng đất nước nếu không c̣n cộng sản. Người
Việt yêu chuộng tự do, công bằng nên vẫn tiếp tục đấu tranh cho Việt
nam, không chủ trương bạo động bằng vũ khí, chỉ gây thêm khổ đau cho
dân tộc.
Người Việt lưu vong luôn
hướng về quê hương Việt Nam, vận động khắp nơi trên thế giới đấu
tranh tự do và dân chủ cho Việt Nam, tạo một thế chính trị đối đầu
giữa tự do và độc tài đảng trị của CSVN. Nh́n đài tưởng niệm Quân
Nân Việt Mỹ đă hy sinh trong cuộc chiến miền Nam dưới cờ vàng ba sọc
đỏ tung bay, nói lên ḷng biết ơn với quân dân VNCH những người đă
chiến đấu và nằm xuống cho tự do, những người c̣n lại tiếp tục tranh
đấu bất bạo động cho cuộc chiền bị bỏ lỡ. H́nh ảnh hai người lính
chiến VNCH để lại cho chúng ta nhiều thương nhớ !!
Các nhà
văn quân đội : Hải Triều, Phan Nhật Nam thực hiện cuốn
NHỮNG TRẬN ĐÁNH KHÔNG TÊN TRONG LỊCH SỬ,
không phải khơi lại ḷng hận thù, nhưng để vinh danh những Sĩ quan
chỉ huy tài giỏi, những lính chiến VNCH một thời anh dũng chiến đấu
bảo vệ Tự do và dân chù cho miền Nam ! Chúng ta cùng đốt nén nhang
tưởng nhớ những người quá văng. và
không
thể quên vinh danh những nữ Quân Nhân, nữ quan Cảnh Sát
(đoàn Thiên
Nga) từ lâu ít được nhắc đến và những người vợ hiền chịu đựng gian
khô, đóng vai vừa là mẹ vừa là cha, nuôi con nhỏ dại vất vả mưu
sinh, dành tiền mua sắm qùa đi thăm chồng trong trại cải tạo xa xăm,
nơi núi rừng ngăn cách đó là những người đàn bà Việt Nam tuyệt vời
thủy chung âm thầm và lặng lẽ.
Mong
tất cả mọi người với ḷng bác ái, từ tâm tiếp tục quyên giúp cho
thương phế binh c̣n lại trong nước vơi bớt nỗi buồn của thời gian bị
lăng quên !! Thương Phế Binh Quân lực VNCH, CSQG t́m được niềm vui
an ủi nhỏ bé trong những ngày c̣n lại !!
Tài liệu tham khảo
Những
Biến Cố Lớn Trong 30 Năm Chiến Tranh 1945-1975 (Tg Nguyễn Đ́nh
Tuyến)
Bộ Quân
sử Quân Đội VNCH do bộ TTMQLVNCH
Việt
Nam Sử Lược (Tg. Trần Trọng Kim)
Cuộc
Chiến Thắng Bị Bỏ Lỡ (Tg. Stephen B. Young)
Những
Ngày Không Quên ( Tg. Đoàn Thêm )
Đêm
Giữa Ban Ngày ( Tg Vũ Thư Hiên)
1/
Khoá 1 Nam Định : Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn Việt Nam Cộng Ḥa. Tr/tướng
Lê Nguyên Khang Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến (1960-1972); Tr/Tướng
Nguyễn Bảo Trị; Th/ tướng Nguyễn Cao Kỳ Không Quân VNCH; Th/ tướng
Nguyễn Duy Hinh tư lệnh sư Đoàn 3 Bộ Binh; Đại tá Nguyễn Xuân Vinh;
Chuẩn tướng Phạm Ngọc Sang..
2/ Tr/tướng Ngô Quang Trưởng
Khóa 4 Thủ Đức), Tư Lệnh Quân Đoàn I;
Thiếu Tướng Bùi Thế Lân,
Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến (1972-1975); Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng,
Tư lệnh Sư Đoàn Dù; Phó đề đốc Hoàng Cơ Minh khoá 5 SQHQ Nha Trang.
Nguyễn
Quư Đại
|