Một Tài Liệu về Trường Vơ Bị Quốc Gia và Các Sĩ Quan Tốt Nghiệp

19/05/2010 by: hh75

Nguyễn Kỳ Phong

 

Trong hai năm 1973 và 1974, một tham vụ chính trị ở Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ tên là James Nach, bắt đầu thâu thập một số chi tiết lịch sử về nguồn gốc các trường đào tạo sĩ quan Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa (QLVNCH) và sĩ quan tốt nghiệp từ các trường đó. Tác giả ghi lại rất nhiều chi tiết về mười khóa đầu của Trường Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt và năm khóa đầu của Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức. Đây là một tập tài liệu với nhiều chi tiết lư thú. Ông James Nach c̣n bỏ công ra ghi lại chức vụ đương nhiệm của một số sĩ quan tốt nghiệp. Theo sự hiểu biết của người viết bài này, tài liệu của James Nach là một trong hai tài liệu duy nhất của người Mỹ nghiên cứu về hệ thống đào tạo sĩ quan và xuất thân của sĩ quan QLVNCH. Năm 1970, cơ quan Advanced Research Projects Agency (một cơ quan nghiên cứu thuộc Bộ Quốc Pḥng Hoa Kỳ) có thực hiện một nghiên cứu với tựa đề An Institutional Profile of the South Vietnamese Officer Corps. Tuy nhiên, nghiên cứu này có tính cách chính trị nhiều hơn là lịch sử, v́ tài liệu chỉ nói đến hệ thống sĩ quan tướng lănh và phân lọai họ có chiều hướng theo “phe” nào trong thời điểm đó. Tài liệu của James Nach được viết ở Sài G̣n và gởi về Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ với sự chuẩn hành của đại sứ Graham Martin. V́ tài liệu nằm trong dạng công văn, nên chỉ được lưu trữ trong văn khố hay các trung tâm nghiên cứu về Việt Nam. Bài viết dưới đây sơ lược lại những chi tiết lư thú của tác giả James Nach trong The National Military Academy and Its Prominent Graduates, và, Origins of the Vietnamese National Army, Its Officer Corps and Its Military Schools.

 

The National Military Academy and Its Prominent Graduates
Trong phần nghiên cứu về Trường Vơ Bị Quốc Gia và Những Sĩ Quan Tốt Nghiệp Danh Tiếng, James Nach sơ lượt lại sự thành h́nh của trường Vơ Bị Quốc Gia. Hai khóa đầu tiên Trường Sĩ Quan Hiện Dịch bắt đầu ở Huế, Khóa 1 tháng 12-1948, và Khóa 2 tháng 9-1949. Tháng 10-1950 trường dọn về Đà Lạt và bắt đầu Khóa 3, với tên mới là Trường École Militaire Inter-Armes de Dalat. Trường chánh thức đổi lại thành Trường Vơ Bị Liên Quân sau khi người Pháp rời Việt Nam năm 1955, và trở thành Trường Vơ Bị Quốc Gia từ tháng 4 năm 1963 cho đến khi giải tán (Sắc Lệnh 325-QP, 10-4-1963).


Hai Khóa 1 Phan Bội Châu
(53 sĩ quan tốt nghiệp) và Khóa 2 Quang Trung (97 tốt nghiệp) ở Huế ra trường một số sĩ quan sau này trở thành những tướng lănh quan trọng của đầu thập niên 1960. Thủ khoa Khóa 1 là trung tướng Nguyễn Hữu Có; Khóa 2 là thiếu tướng Hồ Văn Tố (chết bất th́nh ĺnh năm 1961 trong lúc chỉ huy Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức).

 

Những tướng lănh tốt nghiệp Khóa 1 như các trung tướng Đặng Văn Quang; Tôn Thất Đính, Nguyễn Văn Thiệu, Trần Văn Trung. Một số sĩ quan cấp thiếu tướng và chuẩn tướng như, Bùi Đ́nh Đạm; Phan Xuân Nhận; Tôn Thất Xứng; Nguyễn Văn Chuân.

 

Khóa 2 có chín sĩ quan trở thành tướng lănh, trung tướng Ngô Dzu Nguyễn Văn Mạnh; các thiếu tướng Trần Thanh Phong; Huỳnh Văn Cao; Hoàng Văn Lạc; Lê Ngọc Triển; và chuẩn tướng Lê Trung Tường. Trung tá Vương Văn Đông, một trong những nhân vật chủ mưu đảo chánh 11-11-1960, cũng ra từ Khóa 2 này.


Khóa 3 Trần Hưng Đạo có 135 sĩ quan tốt nghiệp. Đây là khóa đầu tiên khai giảng ở Đà Lạt. Có chín sĩ quan trở thành cấp tướng — cấp tướng hạng “nặng kư.” Khóa có Bốn trung tướng
Hoàng Xuân Lăm (tư lệnh Quân Đoàn I; tốt nghiệp hạng 5); Nguyễn Xuân Thịnh (tư lệnh binh chủng Pháo Binh; hạng 8); Lâm Quang Thi (tư lệnh tiền phương Quân Đoàn I; 12); và Lữ Lan (tư lệnh Quân Đoàn II, 24). Hai sĩ quan tốt nghiệp trở thành tướng của Quân Chủng Không Quân là chuẩn tướng Vơ Dinh (tham mưu trưởng Không Quân VNCH) và chuẩn tướng Nguyễn Ngọc Óanh (chỉ huy trưởng Trung Tâm Huyến Luyện Không Quân). Hai thiếu tướng Nguyễn Văn Hiếu (á khoa, tư lệnh phó Quân Đoàn III khi bị tai nạn súng chết) và Lâm Quang Thơ. Tướng Thơ và Thi đều trở về trường mẹ, làm chỉ huy trưởng trường Vơ Bị Quốc Gia.


Từ Khóa 4
(Khóa Lư Thường Kiệt, tháng 11-1951 – tháng 12-1951) đến Khóa 10 (Khóa Trần B́nh Trọng, tháng 10-1953 – tháng 6-1954) trường đào tạo thêm 23 tướng lănh.

 

Phần lớn là những tướng hành quân/ tác chiến, hơn là tướng tham mưu/ hành chánh. Khóa 4 có hai trung tướng là Nguyễn Văn Minh (tư lệnh QĐ III, 1972) và cố trung tướng Nguyễn Viết Thanh (tư lệnh QĐ IV khi tử nạn tháng 5-1970). Hai sĩ quan kia là chuẩn tướng Đỗ Kiến Nhiểu (đô trưởng Sài G̣n) và thủ khoa Nguyễn Cao Albert (giăi ngũ). Riêng tên của cố trung tướng Nguyễn Viết Thanh được đặt cho hai khóa tốt nghiệp sĩ quan của QLVNCH: Khóa 6/1970 Liên Trường Vơ Khoa Thủ Đức, và Khóa 26 Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt.

 

Khóa 5 Hoàng Diệu (8-1951 – 5-1952), với 225 sĩ quan tốt nghiệp, là khóa đào tạo nhiều tướng lănh nhất — 10 sĩ quan cấp tướng. Các trung tướng Nguyễn Văn Toàn; Nguyễn Vĩnh Nghi; Phạm Quốc Thuần; Dư Quốc Đống; Phan Trọng Chinh. Hai thiếu tướng Trần Bá Di Đỗ Kế Giai. Các chuẩn tướng Trần Văn Cẩm; Chương Dzếnh Quay; Lê Văn Tư. Có ba đại tá tốt nghiệp khóa này cũng được nhắc đến nhiều là Dương Hiếu Nghĩa (thủ khoa, liên hệ đến vụ đảo chánh 1-11-1963); Phạm Văn Liễu (ra trường hạng 19, liên hệ đến nhiều vụ đảo chánh); và Lê Đức Đạt (hạng 20, tư lệnh sư đoàn 22 bộ binh khi bị mất tích ở Tân Cảnh tháng 4-1972).

 

Khóa 6 Đinh Bộ Lĩnh (12-1951 – 10-1952; 181 sĩ quan tốt nghiệp) có ba chuẩn tướng Lư Ṭng Bá (thủ khoa); Trần Quang Khôi (hạng 6); và Trần Đ́nh Thọ (hạng 79). Nhà văn trung tá Nguyễn Đạt Thịnh cũng đến từ khóa này.

 

Khóa 7 có chuẩn tướng Trương Quang Ân (thủ khoa, tử nạn trực thăng năm 1968); Lê Văn Thân; và Trần Văn Hai.

 

Khóa 8 có thiếu tướng Phạm Văn Phú, và chuẩn tướng Huỳnh Thới Tây (tư lệnh Cảnh Sát Đặc Biệt).

 

Khóa 9 không có sĩ quan tốt nghiệp nào lên tướng. Khóa 10 Trần B́nh Trọng (10-1953 – 6-1954) là khóa đông nhất của 10 khóa đầu tiên, với 400 sĩ quan tốt nghiệp. Thiếu tướng Lê Minh Đảo (hạng 18); hai chuẩn tướng Vũ Văn Giai và Trần Văn Nhật. Mười khóa đầu của trường Vơ Bị Quốc Gia đào tạo tất cả 40 tướng trong số 80 tướng hiện dịch của năm 1974 (80 tướng hiện dịch không kể tướng của Quân Chủng Hải Quân hay Ngành Quân Y).

 

Trong khi 10 khóa đầu đào tạo nhiều tướng lănh chỉ huy của QLVNCH,

 

các Khóa 11 đến 20 đào tạo nhiều sĩ quan trung cấp, cột trụ của quân đội. Những sĩ quan cấp trung tá và đại tá của Khóa 14-18 hiện diện và chỉ huy hầu hết các đơn vị chủ lực của QLVNCH.

 

Khóa 16 Ấp Chiến Lược (226 sĩ quan tốt nghiệp; thủ khoa Bùi Quyền) có nhiều sĩ quan đă lên đến cấp bậc trung tá hay đại tá, chỉ huy trung đoàn hay lữ đoàn trong quân đội.

 

Hai Khóa 19 và 20 th́ có nhiều sĩ quan tiểu đoàn trưởng.

 

Khóa 19 có 394 sĩ quan tốt nghiệp và là khóa kém may mắn nhất: ba sĩ quan vừa tốt nghiệp vài ngày đă tử trận ngay ở chiến trường, trong đó thủ khoa Vơ Thành Kháng (trận B́nh Giả). Khóa 20 được coi là đông nhất (406 tốt nghiệp; thủ khoa Trần Thanh Quang). Khóa 22B là khóa đầu tiên ra trường với tŕnh độ văn hóa bốn năm. Nhưng khóa cũng không được may mắn khi thủ khoa Nguyễn Thanh Phóng bị tử trận vài tháng sau đó, trong cuộc hành quân đánh qua Cam Bốt năm 1970.

 

Origins of the Vietnamese National Army, Its Officer Corps and Its Military Schools
Đây là tài liệu nghiên cứu về Lịch Sử Quân Đội Quốc Gia, Hệ Thống Sĩ Quan, và Các Trường Huấn Luyện Quân Sự. Tác giả James Nach đi ngược về năm 1939, khi Cao Ủy Đông Dương, tướng Catroux, bắt đầu tuyển mộ và huấn luyện sĩ quan Việt Nam cho quân đội Pháp và cho quân đội thuộc địa trong tương lai. Đây không phải là một thiện chí của chánh phủ Pháp đối với người dân thuộc địa, đây chỉ là một pḥng hờ cho thế chiến thứ hai bắt đầu nhen nhúm. Tài liệu nói về một số trường đào tạo cấp chỉ huy quân sự từ năm 1939 trở đi như:

 

Nội Ứng Nghĩa Đinh và Nội Ứng Nghĩa Quân. Theo tác giả Nach, trung tướng Văn Thành Cao và Tŕnh Minh Thế của quân đội Liên Minh Cao Đài được huấn luyện từ trường này. Người Pháp cũng lập ra một vài trường huấn luyện quân sự cho các giáo pháo. Trường huấn luyện Cái Vồn của Ḥa Hảo là nơi xuất thân của các tướng Trần Văn Soái, Cao Hảo Hớn, Lâm Thành Nguyên. Tác giả cho biết sau khi trường Cái Vồn bị đón cửa, một số sinh viên được phép ghi danh nhập học trường Vơ Bị ở Huế. Những trường khác được nhắc tên trong giai đọan này như Trường Móng Cay, Trường Quân Chính, trường Quốc Gia Thanh Niên Đoàn (một trường quân sự chính trị do Nhất Linh Nguyễn Tường Tam lập).

 


Năm 1946-47 Đảng Đại Việt của Trương Tử Anh thiết lập trường huấn luyện quân sự Lục Quân Trần Quốc Tuấn. Trường khai giảng ở Thanh Hóa, nhưng sau đó v́ áp lực của Việt Minh nên phải dời về Yên Bái, và sau cùng về vùng Chapa gần biên giới Việt-Trung. Trường này đôi khi c̣n được gọi là trường sĩ quan Yên Bái. Những người đă theo học trường này gồm có thiếu tướng Phạm Xuân Chiểu; đại tá Phạm Văn Liễu; đại sứ Đinh Tŕnh Chinh
(đại sứ ở Thái Lan); đại sứ; đại sứ Ngô Tôn Đạt (đại sứ ở Đại Hàn); và kư giả Nguyễn Tú (Nhật Báo Chính Luận).
Cũng trong thời gian 1938-1940, quân đội Pháp thiết lập hai trường huấn luyện sĩ quan và hạ sĩ quan thành sĩ quan ở Thủ Dầu Một và Tong. Đại tướng
Dương Văn Minh, và tổng trưởng Tư Pháp Lê Văn Thu theo học Trường Thủ Dầu Một; trường Tong th́ có những sĩ quan tốt nghiệp như các trung tướng Trần Văn Đôn; Linh Quang Viên; Nguyễn Văn Vỹ; và Trần Văn Minh.


Sau đệ nhị thế chiến, Bộ Tư Lệnh Quân Đội ở Dông Dương gia tăng tuyển mộ lính thuộc địa cũng như huấn luyện cấp chỉ huy để phục vụ ở những đơn vị này.

 

Trường Vơ Bị Vơ Bị Liên Quân Viễn Đông được thành lập tháng 7-1946 tại Đà Lạt. Trường chỉ khai giảng một khóa duy nhất, với 16 sĩ quan tốt nghiệp. Những sĩ quan tốt nghiệp trường này gồm có hai đại tướng Nguyễn Khánh và Trần Thiện Khiêm; trung tướng Trần Ngọc Tám Dương Văn Đức; các thiếu tướng Nguyễn Văn Kiểm (chánh vơ pḥng của tổng thống Thiệu); Lâm Văn Phát; Bùi Hữu Nhơn; Cao Hảo Hớn; và Dương Ngọc Lắm. Năm 1947-1948 trường được dọn Vũng Tàu và có tên mới là École Militaire Nuoc Ngot (Trương Vơ Bị Nước Ngọt, Vũng Tàu). Những sĩ quan tốt nghiệp trường này có cố trung tướng Đỗ Cao Trí; thiếu tướng Nguyễn Xuân Trang (Tham Mưu Phó Pḥng Nhân Viên, Bộ Tổng Tham Mưu); đại tá Trang Văn Chính (chỉ huy phó Chiến Tranh Chính Trị); và đại tá Bùi Quang Định (Bộ Chiêu Hồi). Trong năm năm, 1949-1953, một trung tâm huấn luyện hoàn hảo sĩ quan được thành lập ở Cap St. Jacques. Trung tâm huấn luyện năm khoá. Khóa 1 có những sĩ quan tốt nghiệp như cố đại tướng Cao Văn Viên; cố trung tướng Nguyễn Chánh Thi; chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh; và đại tá Vũ Quang Tài.


Như đă nói ở phần đầu bài viết, năm 1948 một trường đào tạo sĩ quan được thành lập ở Huế đễ bắt đầu lịch sử Trường Vơ Bị Quốc Gia. Tác giả James Nach đă sơ lượt về Trường Vơ Bị Quốc Gia. Cũng trong cùng tài liệu, ông Nach sơ lược về lịch sử Trường Liên Quân Vơ Khoa Thủ Đức. Tài liệu này cũng công phu không kém tài liệu về Trường Vơ Bị Quốc Gia. V́ khuôn khổ giới hạn của bài viết, ở đây chỉ tóm tắt lại những chi tiết đáng ghi nhớ. Nguyên thủy lúc thành h́nh là trường Sĩ Quan Trừ Bị Thu Duc va Nam Dinh
(Les Écoles des Cadres de Réserve de Thu Duc et Nam Dinh), với Khóa 1 Lê Văn Duyệt được khai giảng ngày 1 tháng 10-1951 ở hai nơi, Thủ Đức và Nam Định. Thủ Đức có 278 sĩ quan tốt nghiệp; Nam Định có 218. Khóa 1 đào tạo tất cả 19 tướng lănh cho QLVNCH, trong đó có bốn trung tướng, Trần Văn Minh; Nguyễn Đức Thắng, Lê Nguyên Khang, và Đồng Văn Khuyên (á khoa). Sau Khóa 1, trường dời về Thủ Đức. Trong mười khóa đầu tiên, Khóa 4 Cương Quyết (12-1953 – 6-1954) và Khóa 5 V́ Dân (6-1954 – 2-1955) có số sinh viên tốt nghiệp nhiều nhất, 1.148 sĩ quan cho Khóa 4; 1.396 cho Khóa 5.

 

Khóa 4 có được năm sĩ quan lên cấp tướng: cố trung tướng Ngô Quang Trưởng; thiếu tướng Bùi Thế Lân; cố chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng và Hồ Trung Hậu; và chuẩn tướng Nguyễn Văn Điềm. Khóa 5 có chuẩn tướng Lê Văn Hưng. trừ những sĩ quan tướng lănh, Khóa 4 có nhiều sĩ quan cấp trung tá và đại tá chỉ huy những đơn vị chủ lực của QLVNCH. Nh́n lại lịch sử cuộc chiến, đây là những sĩ quan đứng mũi chịu sào của giai đọan khói lửa 1965-1972. Theo tài liệu của James Nach, từ năm 1951 đến năm 1965, Thủ Đức đào tạo 20.927 sĩ quan. Đến tháng 9-1973, có tất cả 80.115 sĩ quan tốt nghiệp từ trường.
—————————————————————

 

1. Allan E. Goodman, An Institutional Profile of the South Vietnamese Officer Corps. Rand Research, RM-6189-ARPA, June 1970 (declassified 1992). Tài liệu này được bắt đầu thực hiện vào năm 1967, thời gian này vẫn c̣n nhiều xung đột giữa hai nhóm tướng lănh, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Cao Kỳ. Trong tài liệu, ngoài một số chi tiết cá nhân của các tướng lănh, tác giả Goodman c̣n phân lọai ra tướng lănh thuộc phe nhóm nào.

 

2. The National Military Academy and Its Prominent Graduates, James Nach, American Ambassy Saigon, Airgram A-95, May 13, 1974; Origins of the Vietnamese National Army, Its Officer Corps and Its Militray Schools, James Nach, airgram A-131, no date.

3. Một số sĩ quan tốt nghiệp Khóa 3 Trần Hưng Đạo không đồng ư gọi đó là Khoá 3, mà là Khóa 1 Đà Lạt. Đại tá Bùi Dzinh, thủ khoa khóa Trần Hưng Đạo (11 tháng 10-1950 – 24 tháng 6-1951) trong một lá thư viết cho ban biên tập Nội San Đa Hiệu (Đa Hiệu, Số 43, phát hành 19 tháng 6-1996, trang 247-149), nói ư kiến của ông là, v́ trường bắt đầu một tiến tŕnh mới của quân đội, không có liên hệ với trường Sĩ Quan Hiện Dịch Đập Đá ở Huế, nên ông không gọi đó là Khóa 3. Ông viết, “Tôi không muốn tranh ngôi thứ của khóa, chỉ nhằm nói lại cho danh chánh ngôn thuận mà thôi.” Trung tướng Lữ Lan, cũng khóa Trần Hưng Đạo, th́ nói, v́ ḿnh kính trọng hai lớp đàn anh đi trước, nên gọi đó là Khóa 3. Trong bài viết này, Khóa 3 là khóa bắt đầu ở Đà Lạt.

 

4. Dĩ nhiên chúng ta không thể không nhắc đến sĩ quan tốt nghiệp từ Trường Vơ Bị Liên Quân Thủ Đức. Tuy nhiên đó là một đề tài khác. Khóa 14 Đà Lạt tương đương với Khóa 8 Thủ Đức, cùng ra đầu năm 1960. Khóa 20 Đà Lạt (11-1965) và Khóa 20 Thủ Đức cũng tốt nghiệp cùng thời gian (12-1965; năm 1965 Thủ Đức cho ra trường ba khóa, 18, 19, và 20).

 

5. Theo lời kư giả Nguyễn Tú kể, th́ đại sứ Bùi Diễm chỉ học trường Lục Quân Trần Quốc Tuấn trong thời gian ở Yên Báy, và bỏ dở chương tŕnh lúc trường dọn về Chapa.


6. Trường Hạ Sĩ Quan Thành Sĩ Quan, c̣n gọi là Trường Hoàn Hảo Sĩ Quan — Centre de Perfectionnement des Sous Officiers Indochinois.


7. Tài liệu của James Nach nói 16 sĩ quan tốt nghiệp, trong khi sách quân sử VNCH Quân Lực Việt Nam Trong Giai Đoạn H́nh Thành nói chỉ có 10 sĩ quan tốt nghiệp.


8. V́ khuôn khổ giới hạn, người viết sơ lược đến đó. Đọc giả có thể t́m tài liệu này ở hai nơi: Vietnam Center, Texas Tech University, Lubbock, Texas; hay, Cornell University, Ithaca, New York.

 

Filed under: HỒI KƯ
 

 

 

-

Những Cuộc Chiến Trong Lịch Sử
Vinh Danh Chiến Sĩ v́ TỔ QUỐC Vong Thân


Nguyễn Quư Đại - Munich  

Một ngàn năm độ hộ giặc Tàu
Một trăm năm độ hộ giặc Tây

Hai mươi năm nội chiến từng ngày
                                         Gia tài của mẹ TCS

 

 

                                                                     

Những nét chính qua các giai đoạn trong lịch sử Việt Nam

 

 Các nước Âu Châu đua nhau đi t́m thuộc địa, Pháp cũng dùng tàu chiến đến các nước Đông Dương trong đó có Việt Nam, chủ trương của Pháp là ngoại giao pháo thuyền/ gunboat diplomacy thăm ḍ t́nh h́nh Việt Nam từ (1847-1858).

 

 Ngày 1/9/1858 lần đầu tiên Pháp bắn phá Đà Nẳng, và dần dần đánh chiếm các tỉnh miền Nam rồi miền Bắc. Quân dân Việt Nam luôn chiến đấu chống ngoại xâm nhưng đều bị thất bại.  Quân Pháp chiến thắng khắp nơi họ buộc triều đ́nh Việt Nam kư ḥa ước Quư Mùi (1883) đến tháng 5 năm 1884 (Giáp thân) ḥa ước được kư kết một lần nưả gồm 19 khoản Việt Nam phải công nhận nền bảo hộ của thực dân Pháp (1884-1948).

 

Các cuộc nổi dậy chống Tây:

 

            - Nguyễn Thiện Thuật    (1841-   ?  )    địa danh    Bải sậy ( 1885-1889)

            - Phan Đ́nh Phùng        (1847-1895)                    Hương Khê 1895

            - Đinh Công Tráng        (1842-1887)                     Ba Đ́nh ( 1886-1887)

            -Tống Duy Tân            (1837-1892)                     Hùng lĩnh (1886-1892)

            -Hoàng Hoa Thám       (1858-1913)                     Yên Thế  (1887-1913)

 

 Các phong trào Cần Vuơng, Văn Thân là những cuộc khởi nghiă bạo động với vũ khí thô sơ cổ điển, không thể chống lại quân đội thiện chiến, vũ khí tối tân của thực dân Pháp. Các phong trào trên đều bị đánh bại, nhưng đă gây tiếng vang trở thành ngọn đuốt soi đường cho các thế hệ sau nầy.  Muốn dành độc lập giải phóng đất nước sĩ phu Việt Nam phải thay đổi đường lối hoạt động. Các phong trào Đông Du (1904-1908), Duy Tân (1905-1908) với chủ trương canh tân đất nước khi nào đủ khả năng sẽ đứng lên đ̣i hỏi độc lập tiếc kiệm được xương máu...!

 

Việt Nam dưới thời đệ nhị Thế chiến

 

Ngày 19/6/1940 Nhật Bản buộc Pháp mở cửa Đông Dương cho quân Nhật vào. Nhật lập khối Đại Đông Á ngày 1/8/1940 T́nh h́nh thế giới thay đổi ngày 23/8/1944 quân đội Đồng Minh tiến vào Paris.. Ngày 30/4/1945 Hitler tự tử, người kế vị là Karl Doenitz đă đầu hàng vô điều kiện ngày 9/5/1945. Chiến tranh để lại thế giới đau thương, nghèo đói và đổ nát.

 

 Ngày 9/3/1945 Nhật đảo chánh Pháp cầm quyền ở Đông Dương. Nhật muốn thay Pháp làm chủ Đông Dương ,Đại sứ Nhật Yokoyama yết kiến vua Bảo Đại sáng ngày 11/3/1945 tại Điện Thái Hoà tuyên báo trả độc lập cho Việt Nam.. Nhà vua đề nghị lập Trần Trọng Kim (1883-1953) lên Thủ tướng

nhưng người Nhật cũng thuộc loại thực dân kiểu mới, không giúp Việt Nam thành lập Quân đội để bảo vệ Quốc Gia, v́ quyền lợi trao đổi với Pháp, Nhật đă phản bội Trần Trung Lập trên đường về nước .. Trục xuất du học sinh Việt Nam, Phan Bội  Chầu, Cường Để.. đây cũng là bài học đau thương trong lịch sử !

 

Nguyên nhân gây nạn đói tại miền Bắc

 

  Người miền Bắc không thể quên từ (1944-1945) bị nạn mất mùa và ảnh hưởng trước đó chính phủ Pháp buộc nông gia Việt Nam trồng lúa để trồng bông vải, đay, gai cây có dầu..Pháp thu mua lúa gạo bán cho Nhật..Hơn 80 ngàn quân Nhật đến chiếm đóng ăn gạo của Việt Nam, Pháp Nhật đều lấy lúa trử trong kho lớn cho quân đội. Trong lúc đó gần 2 triệu người chết đói xác người nằm rải rác trên khắp phố phường! Thi sĩ Bàn Bá Lân đă ghi lại bài thơ đói .!!

 

                        Năm Ất Dậu tháng ba , c̣n nhớ măi

                        Giống lạc Hồng cực trải lắm đau thương!

                        Những thây ma thất thểu đầy đường

                        Rồi ngă gục không đứng lên v́ .. đói !

                        ..................

                        Năm ấy, thưở nhật Tây đô hộ

                        Chúng thi nhau cướp lúa của dân ta

                        Hết lúa rồi, hết sạch cả khoai ngô

                        Hết củ chuối, hết nhẳn khô cả sắn ..

 

 

Biến đổi lịch sử Việt Nam

 

Ngày 06/8/1945 lúc 8 giờ sáng chuyến bay B-29 cất cánh từ TINIAN một đảo nhỏ thuộc Marianas ném trái bom «littke Boy» xuống Hiroshima nhiệt độ từ 5400-7500 độ F lửa bốc cao 1900 feet sát hại hơn 100 ngàn người ; và ngày 09/8 ném «Fat man» xuống Nagasaki giết chết 74 ngàn người. Đến ngày 15/8/1945 Nhật Hoàng Hiro Hito đầu hàng vô điều kiện trên chiến hạn Missouri của Hoa Kỳ chấm đứt đệ nhị thế chiến.

 

 Tối hậu thư Postdam sau khi Đức thua trận, quân đội Nhật bị giải giới, phiá Bắc vĩ tuyến 16 do quân đội Trung Hoa Quốc Dân Đảng (Tưởng Ǵới Thạch) phiá Nam vĩ tuyến 16 do quân đội Anh, người Pháp theo chân quân Anh trở lại !! Giai đoạn khủng khoảng chính trị tại Việt Nam. Ngày 17/8/1945 tại Hà Nội Tổng hội Công chức tổ chức tại nhà hát lớn ủng hộ chính phủ Trần Trọng Kim. Cán bộ cộng sản Đông Dương núp trong mặt trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội gọi tắc là Việt Minh cướp chính quyền ngày 19/8/ 1945 gọi là cách mạng mùa Thu. Lư Đông A đă ngỡ ngàng trước thời cuộc tráo trở (giáo giở):

 

Nhưng rồi một sáng muà thu trở lại

Tuổi hai mươi mắt nh́n đời trẻ dại
Ngỡ cờ sao rực rỡ

Tô thắm xứ sở yêu thương

Có ngờ đâu giáo giở đă lên đường

Hung baọ phá bờ kim cổ                         

 

  Hồ Chí Minh tuyên bố thành lập chính phủ độc lập ngày 2/9/1945 và yêu cầu Cựu hoàng Bảo Đại (1913-1997) thoái vị ngày 30/8/1945 tại cửa Ngọ Môn làm công dân Vĩnh Thuỵ, Chủ tịch Hồ Chí Minh mời làm cố vấn cho chính phủ Việt Minh. Nhưng chính phủ Việt Minh gặp trở ngại trước sự hiện diện của các đảng phái cách mạng theo khuynh hướng Quốc Gia. Chủ tịch HCM muốn lừa dối tiếp nên tuyên bố giải tán đảng CS Đông Dương ngày 11/11/1945 nhưng tiếp tục hoạt động ngầm. Tổ chức tổng tuyển cử ngày 6/1/1946 và thành lập chính phủ liên hiệp ngày 2/3/1946.

 

 Chiến tranh chống Pháp bùng nổ ngày 19/12/1946 Chính quyền VM thực hiện tiêu thổ Kháng chiến, nhiều nơi VM đốt phá Đ́nh Chùa, nhà cưả..  rút lên chiến khu dùng chiến thuật du kich để chống Pháp. Nhiều người yêu nước lên đường kháng chiến, nhưng sau khi tiếp xúc với cán bộ kháng chiến thấy mặt thật của Việt Minh là cộng sản, nhiều người tuyệt vọng bỏ trốn trờ về thành phố gọi là “rinh tê”  vùng đất do Pháp chiếm đóng, để sống dưới chế độ Quốc gia do cựu hoàng Bảo Đại thành lập sau thoả ước Elyseé 1949. 

 

 Sau cách mạng muà Thu xă hội đảo lộn về đạo đức, luân lư  bởi v́ Việt Minh chủ trương “ trí phú địa hào, đào tận gốc, trốc tận ngọn”, chiến dịch cải cách ruộng đất bắt chước theo mô thức của Nga-Tàu.  Từ năm 1949-1956 Việt Minh đă làm 5 đợt cải cách ruộng đất, con tố bố mẹ, nàng dâu xỉ vả mẹ chồng, tổng bí thư Trường Chinh đă đấu tố cả cha mẹ ông ta.. Giết chết hơn 200 ngàn người vô tội, toà án nhân dân thành lập ở các vùng thôn quê do những cán bộ không học xét xử, những đêm đấu tố tại các đ́nh làng, xă thôn.. Xuân Diệu theo Vẹm làm thơ tanh mùi máu:

Anh em ơi! quyết chung lưng

Đấu tranh tiêu diệt tàn hung kẻ thù

Địa hào, đối lập ra tro,

Lưng chừng phản động đến giờ tan xương

Thắp đuốc cho sáng khắp đường
Thắp đuốt cho sáng đ́nh làng đêm nay

Lôi cổ bọn nó ra đây

Bắt quỳ gục xuống, đoạ đày chết thôi..

 

 Chủ trương của ông Hồ “Tất cả những ai không theo đường lối của tôi đều sẽ bị bẻ găy / All those who do not follow the line which I have laid down will be broken(Jean Lacouture / Peter Wiles ) H́nh ảnh man rợ tàn khốc trên đă đẩy người quốc gia phải gần Pháp hơn. Việt Minh đă thủ tiêu học giả Phạm Quỳnh (1892-1945), cha con ông Ngô Đ́nh Khôi (1885-1945) ngày 6/9/1945 tại làng Cổ Bi (Phong Điền), nhà cách mạng Tạ Thu Thâu (1906-1945) tháng 9/ 1945 ở Quảng Ngăi, lănh tụ Đại Việt Quốc Dân Đảng ông Trương Tử Anh (1914-1946) ngày 19/12/ 1946. Đức Huỳnh Phú Sổ (1920-1947) ngày 14/6/1947 tại làng Đốc Vàng (Long Xuyên), Lư Đông A Nguyễn Hữu Thanh (1919-1947) và nhóm (Đại Việt Duy Tân), nhà văn Khái Hưng năm 1947. Việt Minh tạo ra vụ án Ôn Như Hầu ở Hà Nội và vụ cầu Chiêm Sơn ở Quảng Nam cuối tháng 7/1946 để thành trừng đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng.. vv .. Những cuộc khủng bố thủ tiêu của Vẹm từ năm 1945 kéo dài theo chiều dài lịch sử cho đến Tết Mậu thân (1968) ở Huế !! Chế độ cộng sản độc tài thường thanh trừng người đối lập như tạo ra vụ án xét lại bỏ tù những tướng lănh, cán bộ trong thập niên 1960 tại miền Bắc và qua nhiều h́nh thức khác nhau .Tố Hữu đâ cổ động giết người:

 

                        “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,

                        Cho ruộng đồng luá tốt, thuế mau xong

                        Cho Đảng bền lâu, cùng rập bước chung ḷng

                        Thờ Mao chủ tịch, thờ Stalin bất diệt “ 

 

Cựu hoàng Bảo Đại chỉ làm cố vấn bù nh́n, ông phải trốn thoát sang Trung Hoa để về với Pháp chống lại Việt Minh ông đă nói .“ Việt Minh là một chế độ cộng sản quốc tế không phù hợp với truyền thống cổ truyền của dân tộc Việt Nam“. Người Pháp đă lợi dụng những người quốc gia thành lập những lực lượng quân sự người bản xứ để chống lại Việt Minh.

 

Hiệp định Hạ Long kư ngày 5/6/1948 giưă Bollaert và cựu Hoàng trên tàu Duguay Trouin. Pháp công nhận Việt Nam độc lập và để thực hiện lấy thống nhất độc lập..tổ chức “Quân Đội Quốc Gia”.

           

 

Việt Nam được Pháp trao trả độc lập

 

Ngày 8/3/1949 Cựu hoàng Bảo Đại và tổng thống Pháp Vincent Auriol (1884-1966) kư kết thoả ước Elysée tại Paris, Pháp chính thức huỷ bỏ Ḥa ước bảo hộ từ năm 1884, và trao trả độc lập lại cho Việt Nam, một quốc gia thống nhất ba miền Bắc-Nam-Trung có nền ngoại giao, kinh tế, tài chánh, tư pháp, giáo dục riêng và Pháp hưá giúp đỡ xây dựng một quốc gia chống cộng do sĩ quan người Việt điều khiển, dưới sự điều khiển của Quốc trưởng Bảo Đại.

 

 Giải pháp Bảo Đại ra đời những người quốc gia đă kết hợp nhau thành một trận tuyến chống cộng, đây là một giai đoạn quan trọng trong lịch sử về chính trị đ̣i lại quyền tự chủ đất nước, và đưa đến thành lập Quân Đội Quốc Gia Việt Nam. Sau thoả ước Elyseé Việt Nam có hai chính phủ. Miền Bắc do ông Hồ làm chủ tịch, quốc hiệu Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà (VNDCCH) với cờ đỏ sao vàng. Chính phủ chống cộng tại miền Nam, quốc hiệu là Quốc gia Việt Nam (QGVN) cờ vàng ba sọc đỏ, sau nầy đổi thành Việt Nam Cộng Hoà (VNCH).

 

Những tiến tŕnh từ Quân Đội Quốc Gia đến Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà

 

1946-1949 giai đoạn sơ khai

1950-1952 giai đoạn chính thức thành h́nh

1953-1954 giai đoạn phát triển

 

Thời kỳ Độc lập

 

1954-1955 giai đoạn chuyển tiếp

1956 giai đoạn độc lập

 

Các quân trường đă được thành lập

 

Chính phủ lúc bấy giờ đă cho thành lập một Trường Sĩ Quan Hiện Dịch nhằm đào tạo các cán bộ nồng cốt cho Quân Đội.

 

 Trường Sĩ Quan Huế là trường đầu tiên của Việt Nam được xây cất tại Đập Đá bên cạnh gịng sông Hương 1/2/1948. Sau hai năm, trường Sĩ Quan Hiện Dịch Huế được di chuyển về Đà Lạt 5/11/1950 v́ nơi đây có đầy đủ các điều kiện về khí hậu và huấn luyện để rèn luyện các Sĩ Quan thích ứng với mọi hoàn cảnh của chiến trường. Trường được cải tổ toàn điện và đổi tên thành Trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt nơi đào tạo ra Sĩ quan  ưu tú  VNCH văn vơ song toàn, muốn vào trường nấy chọn đời binh nghiệp, phải  qua một kỳ thi tuyển  hội đủ điều kiện văn hoá và sức khoẻ .

 

Các trường vơ bị địa phương từ 15/9/1950 tại Trung Chánh, Huế và Nam Định (1)

Trường Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức ngày 1/10/ 1951 (2)

Trung Tâm Huấn Luyện Không quân Nha Trang 3/1952

 

Trung Tâm Huấn Luyện Hải quân Nha Trang 12/7/1952

 

Trường Đại học Y khoa 1/10/1951 Hà Nội

 

Các trung tâm huấn luyện tân binh quân dịch  1 và 4

 

Trường Hạ sĩ quan Đồng Đế Nha trang, Trường Chiến Tranh Chính Trị Đà lạt.

 

Trường Thiếu Sinh Quân từ 1950 tại Gia Định, Huế, và Hà nội sau nầy được thành lập trường Thiếu Sinh Quân tại Vũng Tàu  v v...

 

 Hiệp định Genève kư ngày 20/7/1954 chia đôi đất nước tại vĩ tuyến 17 lấy sông Bến Hải ngăn cách hai miền Nam Bắc. Cầu Hiền Lương do Công binh Pháp dựng năm 1950 (trước đấy dân hai bờ qua lại bằng thuyền). Cầu có 7 nhịp, dài 178m, được lát bằng 894 miếng ván. Theo Hiệp định Genève, mỗi bên có chủ quyền 89m cầu. Ranh giới trên cầu Hiền Lương và sự chia cắt bờ sông Bến Hải đă kéo dài hơn 20 năm.

 

 Chấm dứt chiến tranh Việt-Pháp, quân đội Pháp mất 92.000 (trong số đó có 19.000 Pháp, 43.000 Việt, 30.000 lê dương Phi Châu và Bắc Phi.) Số người bị thương đưa về nước 114.000, tù binh 28.000 (theo Louis Saurel  sđd).

 

Gần một triệu người miền Bắc bỏ quê hương di cư vào Nam. Miền Bắc theo chủ nghiă cộng sản cai trị độc tài qua các cuộc cải cách ruộng đất, vụ án nhân văn Giai Phẩm năm 1956, thanh trừng lẫn nhau qua vụ án xét lại....

 

Miền nam theo thể chế tự do, Quốc trưởng Bảo Đại cử cựu Thượng thư Ngô Đ́nh Diệm (1901-1963) làm Thủ tướng ngày 7-7-1954. Nhưng cựu hoàng Bảo Đại với danh xưng Quốc trưởng nhưng sống ở Cannes bên Pháp, không trực tiếp điều hành Quốc Gia Việt Nam. nên Ngô Đ́nh Diệm tổ chức cuộc trưng cầu dân ư ngày 23/10/1955 truất phế Bảo Đại. Ngô Đ́nh Diệm lên làm tổng thống đầu tiên Việt Nam Cộng Hoà (VNCH) ngày 26-10-1955.

 

 Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm thực hiện cách mạng Quốc Gia và khai sinh nền Đệ Nhất Cộng Ḥa. Quân Đội Quốc Gia với toàn vẹn chủ quyền được thống nhất chỉ huy dưới danh xưng Quân Đội Việt Nam Cộng Ḥa (Tháng 8 năm 1955 Bộ Tổng tham mưu hoàn toàn do sĩ quan Việt Nam điều khiển, Việt ngữ lúc nầy mới được thay Pháp ngữ) Và các trường huấn luyện các ngành chuyên môn được thành lập để đào tạo các chuyên viên ưu tú trong quân đội.

 

Quân đội được thành lập qua nhiều giai đoạn khác nhau, nhiệm vụ khó khăn dưới thời đệ nhất Cộng Hoà phải đối đầu quân đội Giáo phái với B́nh Xuyên (Bảy Viễn) các đảng phái chính trị tại miền Trung (chiến khu Ba ḷng, Nam Ngăi)…

 

Quân đội đă hy sinh xương máu để đem lại trật tự mới cho nền Đệ Nhất Cộng Hoà, miền Nam trong giai đoạn đó hoà b́nh, dân đi cư từ Bắc vào Nam trên bước đường an cư lạc nghiệp, đời sống ấm no. Văn hoá miền Nam phát triển tự do, ảnh hưởng tư tưởng lăng mạn Tây phương..Thơ văn, nhạc ca tụng hoà b́nh, người miền Nam mơ hồ về cộng sản qua tuyên truyền. Xă hội phát triển , nhiều đoàn thể, đảng phái, một số tôn giáo đôi khi tranh chấp quyền lợi và thế quyền, xuống đường biểu t́nh, kiệt thực, phản chiến, các phong trào chống chính quyền làm xáo trộn trật tự xă hội.. Vô t́nh hay cố ư đă đâm sau lưng chiến sĩ VNCH.

 

Ai gây chiến? Ai bảo vệ hoà b́nh và tự do

 

  Cách mạng 1/11/1963 TT Ngô Đ́nh Diệm bị lật đổ. T́nh h́nh chính trị tại miền Nam thay đổi nào là chỉnh lư, đảo chánh liên tục của một số tướng lănh có tham vọng chính trị. Cộng sản nằm vùng có nhiều cơ hội hoạt động và phát triển mạnh với sự ủng hộ của nhóm chủ chiến, đứng đầu là bí thư Lê Duẩn (1907-1986) là cựu bí thư trung ương cục miền Nam và Lê Đức Thọ, Trường Chinh... chủ trương dùng giải pháp quân sự giải quyết mọi vấn đề. Tập đoàn cộng sản không bỏ lỡ cơ hội. Họ tin rằng thời cơ sẽ tạo nên những điều kiện trong lịch sử và họ thành lập Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam (MTDTGPMN) ngày 12/12/1960 tại Hà Nội.

 

Tránh dư luận thế giới  MTDTGPMN được chính thức công bố ngày 20/12/1960 tại chiến khu Dương Minh Châu ở Tây Ninh. LS Nguyễn Hữu Thọ (1910-1996) được bầu làm chủ tịch Mặt Trận Giải Phóng miền Nam, phần lớn trong mặt trận là cán bộ CS miền Nam và những người bất măn với chế độ miền Nam bỏ ra bưng theo mặt trận ?

 

Sau tết Mậu Thân ông Huỳnh Tấn Phát (1913-1989) được bầu làm chủ tịch Chính Phủ Lâm Thời Miền Nam Việt Nam, bà Nguyễn Thị B́nh cháu ngoại Phan Chu Trinh làm bộ trưởng ngoại giao trong mật khu biên giới Việt Miên, là một con cờ tạo thế đứng trong các cuộc hoà đàm Paris ?

 

Cộng sản thực hiện được giấc mộng đánh miền Nam, bất kể hy sinh sanh mạng thanh niên miền Bắc  “ Sinh Bắc tử Nam”,  thanh thiếu niên  khoảng 16 hay 17 tuổi bị đưa vào Nam chiến đấu gọi là “đánh Mỹ cứu nước, giải phóng miền Nam”, Lê Duẩn đă tự hào cuộc chiến đó “ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc”  (Vũ Thư Hiên sđd 422).

 

 Trường Chinh nói : “ Kháng chiến là một h́nh thức cao rộng, của đấu tranh giai cấp, nghiă là cuộc đấu tranh lớn lao trên thế giới, giưă tư bảnvô sản ...”  (Nguyễn Kỳ Nam tài liệu Lịch sử 1945-54 trang 83), lời phát biểu trên của kẻ quyền lực làm tay sai cộng sản quốc tế, gây nên cuộc nội chiến tương tàn khổ đau dân tộc Việt Nam, như nhà thơ Phùng Quán đă viết: “ Những con người tiêu máu của dân như tiêu giấy bạc giả “ (Trăm Hoa Đua Nở) .

 

Chính Quyền miền Nam dù được Đồng Minh giúp đỡ, Hải-Lục-Không quân, Cảnh sát Quốc gia được đào tạo phát triển để xây dựng bảo vệ chế độ tự do và dân chủ VNCH. Quân đội không hiếu chiến, không gây hấn, không muốn tàn sát đồng loại, nhưng ở thế tự vệ, họ phải chiến đấu chống lại anh em là những người ở bên kia chiến tuyến, Quân đội VNCH đối xử với tù binh như những người bạn, bộ đội CS bị thương được cấp cứu, chửa trị như những chiến sĩ VNCH.

 

Trong suốt cuộc chiến tranh tại miền Nam với những âm mưu tuyên truyền thâm độc của cộng sản vận động với chiếu bài trung lập, phản chiến ru ngủ người dân miến Nam, có một số người không hiểu hay hiểu lầm, chính họ đă phản bội lại sự hy sinh cuả quân đội VNCH. Ngày 30/4/75 cộng sản  chiếm miền Nam, thi hành chế độ độc tài đảng trị chuyên chế trên toàn đất nước, tài sản của các Giáo hội bị tịch thu, thậm chí những người có công phản chiến biểu t́nh chống chính phủ VNCH bị đối xử tệ bạc bị lăng quên hoặc bắt đi cải tạo !!... những người đó mới sáng mắt ra và mới ư thức được giá trị  sự hy sinh trước đây của Quân Dân VNCH th́ đă muộn.

 

Chính sách của Hoa Kỳ đối với miền Nam

 

Chính trị gia Hoa Kỳ đă có quan niệm Hy sinh Việt Nam mới thật là đáng giá. C̣n hơn là hao phí thêm sinh mạng (58.000 quân tử trận) và hàng tỷ mỹ kim để chống đỡ Việt nam chẳng có hy vọng thắng lợi. Tại sao không thoả thuận thua cuộc để đổi lấy sự mở cưả  của Trung Hoa nhằm làm yếu đi kẻ thù thực sự là Liên sô (Roger Waner sđd tr. 336)  Người Mỹ v́ quyền lợi cho nước Mỹ không tiếp tục giúp chính quyền VNCH !! Thế cờ thế giới thay đổi dưới con mắt cuả các chính trị gia Hoa Kỳ, Việt Nam không c̣n là  tiền đồn chống cộng tại Đông Nam Á. Giữa Nga Tàu dù là trong khối CS anh em, nhưng vấn đề tranh chấp biên ǵới quyền lợi, đă làm cho Hoa Kỳ bớt lo ngại về khối CS. Người Mỹ tiếp xúc buôn bán với Trung Hoa đông dân số có lợi nhiều hơn...Bởi vậy Hoa Kỳ bỏ rơi miền Nam Việt Nam. Họ đă bang giao mới với Nga-Tàu sau nhiều năm lạnh nhạt. 

 

Hiệp định Paris ngày 27/1/1973 Quân đội Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam trong danh dự và mở đường cho sự sụp đổ của chính quyền VNCH. Đây là kết quả của gần 5 năm đàm phán, với 201 phiên họp công khai, 45 cuộc gặp riêng giữa Việt Nam và Mỹ, 500 buổi họp báo, gần 1.000 cuộc phỏng vấn

và phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam trên khắp thế giới.

                                 

Cuộc chiến Việt Nam được tranh căi qua Hiệp định Paris đă đưa miền Nam Nam đến bên bờ vực thẳm để rồi bỏ lỡ cuộc chiến bảo vệ cho tự do và hoà b́nh... Các bộ sách The Vietnam Experience; The fall of the South… viết lại sự thật về những giai đoạn lịch sử, tại sao VNCH bị thất bại ? và rất nhiều tài liệu mật được giải mă cuộc chiến tại miền Nam.

 

Chiến sĩ VNCH không bao giờ bị lăng quên họ không thiếu tinh thần chiến đấu, nhưng phải chấp nhận số phận của một nước bế nhỏ bị hy sinh trên bàn cờ quốc tế. Khốn nạn nhất  Hoa Kỳ nhận tù binh rút quân, ngược lại cắt bỏ tiền viện trợ cho chính phủ Việt Nam cộng Hoà, trước đó họ xem là VNCH là đồng minh chống cộng tại Đông Nam Á.

 Các trận chiến đấu ác liệt muà hè đỏ lửa 1972 từ  B́nh Long, An lộc, cổ thành Quảng Trị. Quân đội VNCH chiến đấu đẩy lui cộng sản Bắc Việt với quân số gấp hai ba lần với chiến thuật biển người, sử dụng tối đa hỏa lực hỏa tiển 122 đại bác 130 ly, xe tăng nhận từ Liên Sô của toàn khối cộng sản Đông Âu..nhưng không chiến thắng được quân lực VNCH, cuộc chiến đấu kéo dài cho đến 30/4/1975. Độc giả có thể vào www.phanchautrinhdanang.com 
đọc bài
Tại Sao Tôi Bỏ Đà Nẳng của Tướng Ngô Quang Trưởng trong chủ đề 30/4 !! và cuộc triệt thoái cao nguyên của Phạm Huấn để chia xẽ nỗi đau của các cấp chỉ huy quân đội VNCH !!

 

 Sau năm 1975 CSVN theo chính sách cai trị của cộng sản Nga-Tàu, chủ tịch Michail Gorbatschow đổi mới năm 1989 với Glasmost/cởi mở Perestrojka/ tái phối trí, từ đó thiên đường CS Nga Sô sụp đổ kéo theo các nước Đông Âu. CSVN ngă theo Trung Cộng. Việt Nam hiện nay lệ thuộc trên phương diện chính trị ngọai giao, mà c̣n bị ảnh hưởng nặng trên phương diện văn hóa và kinh tế. Biên giới phiá Bắc chia cắt không được kiểm soát bởi vậy hàng hóa nhập lậu từ Trung quốc đă giết chết nền kinh tế VN chưa được phát tiển. Những phim ảnh, hàng giả của Trung Cộng tràn đầy thị trường, tiêu huỷ  văn hoá  Việt Nam.

 

 Thương tiếc Quân dân VNCH đă hy sinh xương máu, chiến đấu để bảo tự do dân chủ cho miền Nam, không cộng sản, yêu chuộng hoà b́nh từ 1954 đến 1975 . Nếu không có Quân đội chiến đấu chống cộng, th́ không có đường ranh lư tưởng rơ ràng giữa tự do cộng sản. Cuộc chiến chấm dứt thống nhất Việt Nam, nhưng miền Nam bị đánh tư sản, cải tạo Công-Thương-Nghiệp, đổi tiền với mục đích san bằng đời sống 2 miền Bắc Nam, hàng triệu Sĩ quan, Công chức VNCH bị đưa đi cải tạo .. Từ đó người miền Nam đối diện với  nhà cầm quyền cộng sản bất măn với chế độ, gây nhiều đợt vượt biển đi t́m tự do, làn sóng vượt biên vĩ đại lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, đă chứng tỏ dân chúng không tin tưởng hợp tác với chính quyền CSVN và nêu cao được t́nh thần yêu chuộng tự do mà họ từng sống dưới chế độ miền Nam. Sự ra đi của người Việt làm rung động lương tâm nhân loại và nói lên sự thật bản chất độc tài cuả CS. Các quốc gia trước 1975 là Đồng minh của chính phủ VNCH mở rộng ṿng tay nhân ái cứu vớt và đón nhận chúng ta.

 

Những người lính chiến hy sinh bản thân và gia đ́nh để chiến đấu cho tự do bảo vệ miến Nam cho đến ngày cuối cùng, Theo lệnh của TT Đương Văn Minh phải bỏ súng, họ giă từ những hy sinh và gian khổ. Họ đă khóc nhiều lần cho quê hương chinh chiến và đă khóc cho những xác bơ vơ, nhiều người đă tự nổ súng vào đầu hay cùng nhau mở  lưu đạn cùng chết, họ  không muốn sống giữa quê hương rối loạn tràn ngập bóng quân thù.

 

 Lịch sử đă sang trang, cả thế giới công nhận gửi điện văn chúc mừng sự thống nhất ở Việt Nam. Người ta uống rượu mừng Hoà B́nh! Hoà b́nh với kẻ chiến thắng nhưng hoà b́nh không thật đến với người niền Nam.!! Chính quyền CSVN không để Sĩ  quan, Công chức b́nh yên, bắt họ tập trung cải tạo nhiều năm dài .. May mắn những người c̣n sống trở về với mái nhà xưa, nhưng h́nh hài héo uá.  Những “người tù chính trị” nầy được định cư Hoà Kỳ theo diện HO (Humanitarian opperations) nguồn an uỉ hít được không khí tự do  của tuổi già nắng xế.

 

Các thế hệ đàn anh tuổi đời đă cao, nhưng tinh thần yêu nước không bao giờ bị phôi phai. Luôn giữ danh dự và trách nhiệm. Những nhà văn, nhà báo miền Nam họ tiếp tục viết, xuất bản báo, các cuốn sách lịch sử giá trị cho những thề hệ kế tiếp biết tại sao chúng ta bỏ nước ra đi làm người lưu vong !

 

Suốt trong thời gian qua CSVN đổi mới, cải cách.. nhưng không đổi chính sách cai trị ! Sau khi Mỹ bỏ lệnh cấm vận, Việt Nam được các nước Tây phương giúp đỡ, đầu tư xây dựng phát triển tại các thành phố. Nếu du khách nh́n thấy đời sống bề ngoài tại các thành phố tưởng lầm CSVN đổi mới !! nhưng tại nông thôn cuộc sống vẫn nghèo đói lạc hậu..., phần lớn dân chúng c̣n khá vất vả để kiếm ăn từng ngày, những quan chức các bộ của chế độ th́ giàu sang ăn nhậu, nhờ tài bóc lột tham nhũng, biển thủ, bán đất đai, khai phá tài sản quốc gia lấy tiền bỏ túi.. Tệ nạn xă hội xảy ra hằng ngày như, lường gạt buôn lậu, x́ ke ma túy măi dâm, xuất cảng người ra ngoại quốc làm nô lệ, đạo đức, luân lư bị suy đối...

 

Nh́n lại lịch sử thế giới Nga và các nước Đông Âu đă ư thức được sự phát triển xă hội và tự do của con người họ đă từ bỏ chủ thuyết cộng sản để sống với xă hội tự do dân chủ . Nước Đức trong thời đệ nhị thế chiến bị phân chia hai miền Đông Tây, nhưng họ đă thống nhất trong hoà b́nh và không có bất cứ trại cải tạo cho những người đă làm việc với chế độ cộng sản (DDR). Nhưng Việt Nam với danh từ thống nhất đă trả bằng xương máu, tài sản đất nước bị tàn phá, kinh tế suy sụp nhân tâm Nam Bắc thêm chia rẽ, bức tường ḷng c̣n ngăn cách.

 

Ngày 30 /4/1975 quân đội VNCH bị ră ngũ, nhưng từ đó mang lại sự sụp đổ vĩnh viễn của huyền thoại cộng sản trong ḷng dân tộc Việt Nam. Chủ nghiă độc tài cộng sản sẽ có một ngày toàn dân Việt Nam cùng đứng lên lật đổ, chính nghiă Quốc Gia  phục sinh là một ngọn đuốt sáng ngời cho tự do, để dân tộc Việt Nam sống hạnh phúc cùng xây dựng đất nước phú cường. Lịch sử thế giới cho thấy rằng các chế độ độc tài  đă bị đào thải theo thời gian.
  

Cộng đồng người Việt hải ngoại thành công với đời sống tự do trong xă hội văn minh, con cháu thành đạt trên các phương diện khoa học, kinh tế, là một tiềm năng hy vọng góp công xây dựng đất nước nếu không c̣n cộng sản. Người Việt yêu chuộng tự do, công bằng nên vẫn tiếp tục đấu tranh cho Việt nam, không chủ trương bạo động bằng vũ khí, chỉ gây thêm khổ đau cho dân tộc.

 

 Người Việt lưu vong luôn hướng về quê hương Việt Nam, vận động khắp nơi trên thế giới đấu tranh tự do và dân chủ cho Việt Nam, tạo một thế chính trị đối đầu giữa tự do và độc tài đảng trị của CSVN. Nh́n đài tưởng niệm Quân Nân Việt Mỹ đă hy sinh trong cuộc chiến miền Nam dưới cờ vàng ba sọc đỏ tung bay, nói lên ḷng biết ơn với quân dân VNCH những người đă chiến đấu và nằm xuống cho tự do, những người c̣n lại tiếp tục tranh đấu bất bạo động cho cuộc chiền bị bỏ lỡ. H́nh ảnh hai người lính chiến VNCH để lại cho chúng ta nhiều thương nhớ !!  

                     

Các nhà văn quân đội : Hải Triều, Phan Nhật Nam thực hiện cuốn NHỮNG TRẬN ĐÁNH KHÔNG TÊN TRONG LỊCH SỬ, không phải khơi lại ḷng hận thù, nhưng để vinh danh những Sĩ quan chỉ huy tài giỏi, những lính chiến VNCH một thời anh dũng chiến đấu bảo vệ Tự do và dân chù cho miền Nam ! Chúng ta cùng đốt nén nhang tưởng nhớ những người quá văng. và không thể quên vinh danh những nữ Quân Nhân, nữ quan Cảnh Sát (đoàn Thiên Nga) từ lâu ít được nhắc đến và  những người vợ hiền chịu đựng gian khô, đóng vai vừa là mẹ vừa là cha, nuôi con nhỏ dại vất vả mưu sinh, dành tiền mua sắm qùa đi thăm chồng trong trại cải tạo xa xăm, nơi núi rừng ngăn cách đó là những người đàn bà Việt Nam tuyệt vời thủy chung  âm thầm và lặng lẽ.

 

 Mong tất cả mọi người với ḷng bác ái, từ tâm tiếp tục quyên giúp cho thương phế binh c̣n lại trong nước vơi bớt nỗi buồn của thời gian bị lăng quên !! Thương Phế Binh Quân lực VNCH, CSQG t́m được niềm vui an ủi nhỏ bé trong những ngày c̣n lại !!

 

Tài liệu tham khảo

 

Những Biến Cố Lớn Trong 30 Năm Chiến Tranh 1945-1975 (Tg Nguyễn Đ́nh Tuyến)

Bộ Quân sử Quân Đội VNCH  do bộ TTMQLVNCH

Việt Nam Sử Lược (Tg. Trần Trọng Kim)

Cuộc Chiến Thắng  Bị Bỏ Lỡ  (Tg. Stephen B. Young)

Những Ngày Không Quên ( Tg. Đoàn Thêm )

Đêm Giữa Ban Ngày ( Tg Vũ Thư Hiên)

 

1/  Khoá 1 Nam Định : Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn Việt Nam Cộng Ḥa. Tr/tướng Lê Nguyên Khang Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến (1960-1972); Tr/Tướng Nguyễn Bảo Trị; Th/ tướng Nguyễn Cao Kỳ Không Quân VNCH; Th/ tướng Nguyễn Duy Hinh tư lệnh sư Đoàn 3 Bộ Binh; Đại tá Nguyễn Xuân Vinh; Chuẩn tướng  Phạm Ngọc Sang..

 

 2/ Tr/tướng Ngô Quang Trưởng Khóa 4 Thủ Đức), Tư Lệnh Quân Đoàn I; Thiếu Tướng Bùi Thế Lân, Tư Lệnh Thủy Quân Lục Chiến (1972-1975); Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng, Tư lệnh  Sư Đoàn Dù; Phó đề đốc Hoàng Cơ Minh khoá 5 SQHQ Nha Trang.

 

 Nguyễn Quư Đại