Thư ngỏ kính gởi quư đồng đội trong Quân Lực VNCH
 

Kính thưa quư vị niên trưởng,

Kính thưa quư bạn đồng đội,

Tôi viết thư ngỏ gửi đến quư vị để xin được giúp đỡ trong việc viết quyển Từ Điển Chiến Tranh Việt Nam.

Trước hết tôi xin tŕnh bầy là quyển từ điển này h́nh thành trên 5 quan niệm

* Quan niệm đầu tiên là không thể không viết quyển “
Từ Điển Chiến Tranh Việt Nam”. Chúng ta là một trong 4 lực lượng quân sự tham chiến, 3 lực lượng kia, Việt Cộng, Pháp, và Hoa Kỳ đều đă viết từ điển về cuộc chiến tranh này. Khi cố ư, lúc vô t́nh, họ viết nhiều xuyên tạc gây hiểu lầm về miền Nam Việt Nam, về chiến tranh Việt Nam, và về quân lực VNCH.

Một thí dụ: quyển DICTIONARY OF THE VIETNAM WAR của nhà xuất bản Webster phát hành năm 1998 viết về bộ binh VNCH, “
Được Hoa Kỳ tạo ra năm 1955, bộ binh Việt Nam là lực lượng bộ chiến của quân lực VNCH bên cạnh một hải lực và một không lực. Nhiệm vụ của bộ binh VNCH là vô hiệu hóa Quân Đội Nhân Dân của Bắc Việt và quân lực đồng minh của họ ở Nam Việt là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, lực lượng này c̣n được gọi là Việt Cộng.

Năm 1879 tại Sài G̣n, một quốc gia Tây Âu (Pháp) dựng lên đơn vị quân sự Việt Nam đầu tiên để đánh những người Việt Nam đối nghịch, đơn vị đó là Régiment de Tirailleurs Annamites (trung đoàn lính An Nam); 4 năm sau, Pháp thành lập thêm Trung Đoàn lính Bắc Kỳ (Regiment de Tiraillers Tonkinois) tại Hà Nội …”

(Created by the United States in 1955, the arvn was the land force component in the Republic of Vietnam Armed Forces [RVNAF], which included a navy and air force. The ARVN’s mission was to neutralize North Vietnam’s People’ Army of Vietnam (PAVN) and its southern ally, the National Front (NFL) also khnown as the Viet Cong.

The first Vietnamese military force created by a Western nation to fight Vietnamese opponents dates from 1979. In that year, the French organized the Regiment de Tirailleurs Annamites (the Annamite Rifles) in Saigon; four years later, a companion unit, the regiment de Tiralleurs Tonkinois [the Tonkin Rifles] was formed in Hanoi.)

Không những không đúng sự thật, quyển DICTIONARY OF THE VIETNAM WAR c̣n bóp méo sự thật và nhục mạ Quân Lực VNCH khi đem so sánh chúng ta với hai trung đoàn lính An Nam và trung đoàn lính Bắc Kỳ được thành lập để đánh những người Việt Nam chống đối Pháp. Hơn nữa, Hoa Kỳ không thành lập quân đội VNCH; năm 1955 khi họ mới bước một chân vào chiến tranh Việt Nam, chân kia c̣n đứng ngoài, quân đội Việt Nam đă có trên 200,000 chiến sĩ.

Một trong những sai lầm thông thường mà miên viễn và tai hại của người Mỹ là họ chẻ hai một lực lượng quân sự duy nhất của địch bằng hai danh xưng “quân Bắc Việt” và “quân Việt Cộng”, họ c̣n nói là hai lực lượng này đồng minh với nhau.

Độc giả Mỹ không bật cười v́ họ không hiểu tính chất ngu xuẩn ngộ nghĩnh trong phân tách này. Nhưng họ sẽ bật cười, nếu có người bảo họ là lính TQLC Hoa Kỳ đồng minh với lính Không Quân Hoa Kỳ.

Đành rằng lính Việt Cộng có một khả năng chuyên môn mà lính Bắc Việt không có: khả năng đánh du kích. Khác biệt này cũng đồng loại với việc người lính TQLC Mỹ không lái phóng pháo cơ.

Tôi diễu cợt sai lầm ngớ ngẩn của người Mỹ, nhưng sai lầm này không phải là chuyện đùa, một trong những hậu quả nó đẻ ra là cái bàn quái thai tại Hội Nghị Ba Lê năm 1973, cho phép Việt Cộng ngồi ngang hàng với VNCH, và chúng ta ngồi dưới Bắc Việt.

Nhóm biên tập Webster đem sai lầm mới về quân lực VNCH nhập chung vào sai lầm sẵn có của quân đội Hoa Kỳ, để đánh rối h́nh ảnh cuộc chiến tranh Việt Nam đến mức vĩnh viễn bị hiểu lầm.

Chưa hết, Việt Cộng cũng tạo nhiều sai lầm khác nữa. Một thí dụ: Trận Ấp Bắc.

Việt Cộng mô tả trong quyển “Từ điển bách khoa quân sự” của chúng như sau, “…
lực lượng ta (Việt Cộng) gồm một đại đội tăng cường thuộc tiểu đoàn 261, bộ đội chủ lực quân khu 8, một đại đội địa phương tỉnh Mỹ Tho, 1 trung đội huyện Châu Thành, 1 trung đội trợ chiến, và lực lượng dân quân du kích tại chỗ, do tiểu đoàn trưởng 261 chỉ huy.

5 giờ sáng ngày mùng 2 tháng Giêng, địch (VNCH) huy động khoảng 2,000 quân (25 đại đội) gồm 3 tiểu đoàn bộ binh Sư Doàn 7, Tiểu Đoàn dù 8, 13 xe M 113, 13 tầu chiến, có máy bay, pháo binh yểm trợ chia thành nhiều mủi dùi, theo đường bộ, đường thủy, đựng không đánh vào Ấp Bắc.

Dựa vào hệ thống công sự, bờ mương, lùm cây trong ấp, bằng cách đánh du kích ta lần lượt bẻ gẫy 5 đợt tiến công của địch. Để hổ trợ cho Ấp Bắc, ban quân sự tỉnh Mỹ Tho cho hai đại đội (tiểu đoàn 514) đánh địch ở ṿng ngoài, đồng thời huy động hàng ngàn quần chúng đấu tranh chặn đường hành quân của địch, đ̣i chấm dứt bắn pháo, càn quét. Trận đánh kéo dài đến 20 giờ, quân địch với số lượng gấp 10 lần, có phương tiện vũ khí hiện đại phải rút lui. Kết quả loại khỏi chiến đấu 450 địch, bắn rơi 7 máy bay trực thăng, bắn hỏng 3 xe M 113 và 1 tàu chiến.”

Dĩ nhiên tài liệu này thất thiệt rất nhiều, nhưng năm nay, 2007, sau 44 năm, không ai c̣n nhớ ǵ nữa để biết là Việt Cộng láo khoét những ǵ. Không biết những dữ kiện, và thiếu những con số đích thực, nhưng cũng không ai tin chúng.

* Quan niệm thứ nh́ là quyển từ điển phải trung thực, mặc dù nó không thể nào khách quan. Vẫn dùng những thí dụ vừa dẫn ở đoạn trên, chúng ta thấy không những Webstern và Từ điển bách khoa của Việt Cộng mạ lỵ chúng ta mà họ c̣n mạ lỵ cả sự thật nữa.

Chúng ta cố gắng tới mức tối đa để tôn trọng sự thật, dù sự thật có không đẹp cho chúng ta; nhưng điều không tránh khỏi là chúng ta sẽ nh́n sự thật một cách chủ quan, qua góc nh́n của chúng ta.


Trực thăng đáp trước họng đại liên địch

Một điển h́nh về tính trung thực trong lịch sử chiến tranh là trận Ấp Bắc vừa được viện dẫn ở đoạn trên để tŕnh bầy tính không trung thực trong tài liệu của Việt Cộng. Chúng ta không phủ nhận việc 5 chiếc trực thăng của Hoa Kỳ trong lúc đổ quân gần một bờ kinh đă đáp xuống ngay họng đại liên phục kích của Việt Cộng, nhưng chúng ta khẳng định là những chiến sĩ Việt Nam, thuộc sư đoàn 7 bộ binh tinh nhuệ, đă nhanh chóng phản ứng đánh lui được địch quân.

Lỗi lầm về địa điểm và phương thức đổ quân là của cố vấn trưởng sư đoàn, trung tá John Paul Vann, v́ chính ông đích thân ra lệnh cho phi đội trực thăng Hoa Kỳ về địa điểm đổ quân. Cũng v́ lỗi lầm, ông đă bị đại tường Paul Harkins ngưng chức, trả về Hoa Kỳ và cho giải ngũ.

Về phía Việt Cộng chúng thổi phồng trận đánh Ấp Bắc đến một mức quá đáng trong lúc tổn thất thật sự là Hoa Kỳ mất 5 chiếc trực thăng, chúng nói chúng bắn rơi 7 chiếc, VNCH tổn thất 80 tử thương và 100 bị thương, chúng nói chúng loại 450 chiến sĩ VNCH ra khỏi ṿng chiến. Ấy là chưa kể những việc hoàn toàn dựng đứng như dân chúng biểu t́nh, và tiểu đoàn 514 vây đánh chúng ta ṿng ngoài.

Quyển từ điển này tuyệt đối tôn trọng mọi dữ kiện thật, từ bản chất cuộc chiến cho đến từng diễn biến nhỏ của chiến tranh.

* Quan niệm thứ ba là cuộc chiến tranh Việt Nam không giống Thế Chiến Một, Thế Chiến Hai, Chiến Tranh Cao Ly, Chiến Tranh Iraq, hoặc bất cứ một cuộc chiến tranh nào đă có.

Sự khác biệt của chiến tranh Việt Nam tạo thành nét đặc thù mà chúng tôi tự đặt cho ḿnh bổn phận phải nói lên cho bằng được. Nét đặc thù căn bản đầu tiên của mỗi cuộc chiến tranh là những lực lượng giao tranh.

Trong chiến tranh Cao Ly, lực lượng giao tranh chính là hai quân đội Bắc và Nam Hàn, và lực lượng trợ chiến cho Bắc Hàn là Trung Cộng; những lực lượng trợ chiến cho Nam Hàn là lực lượng Liên Hiệp Quốc dưới sự thống lănh của Hoa Kỳ.

Chiến tranh Việt Nam không bắt đầu bằng một cuộc tiến quân quy mô như quân Bắc Hàn vượt vĩ tuyến 38 tiến xuống Nam Hàn, mà bắt đầu bằng thái độ hy sinh của toàn thể dân tộc Việt Nam đem tầm vông vót nhọn, và súng ngựa trời ra chống với đạo quân viễn chinh của Pháp.

Cuộc chiến thành công rực rỡ, quân Pháp cuốn gói quy hàng năm 1954, nhưng năm đó cũng là thời điểm 90% người Việt Nam nhận ra là ḿnh bị lừa. Chiến thắng đuổi được quân Pháp ra khỏi nửa phía Bắc của lănh thổ Việt Nam, nhưng hàng triệu người miền Bắc lại bỏ quê cha đất tổ tại Bắc Việt Nam, đạp trên chiến thắng để bỏ chạy vào miền Nam.

Góc cạnh vô cùng thật và đau đớn này, sau 55 năm vẫn chưa ai t́m ra. Không phải là người Việt Nam không ai hiểu tính chất “bỏ phiếu bằng chân” của người dân Bắc Việt, và không ai thấy là chiến tranh Việt Nam không phải là cuộc chiến cộng sản đánh Pháp và đánh Mỹ.

Chúng đánh người Việt Nam, mỗi lần chúng thắng là người Việt Nam thua, bỏ chạy; hai lần chúng ta thua lớn là năm 1954 và 1975. Chúng ta thua, nhưng chiến tranh vẫn chưa chấm dứt, người Việt Nam vẫn tiếp tục kháng cự chống lại Việt Cộng, dù kháng cự bằng đôi tay không.

* Quan niệm thứ tư là mặc dù mọi cố gắng để t́m kiếm chính xác, quyển từ điển này không thể không sai lầm. Việc nhuận chính phải là một công việc thường xuyên để ghi nhận đầy đủ những diễn biến trong cuộc chiến tranh đă dài gần 70 năm mà vẫn chưa chấm dứt; ngoài những sai lầm không thể tránh, quyển từ điển này c̣n thiếu xót rất nhiều. Việc bổ túc là việc phải thường xuyên làm cho đến lúc mọi người Việt Nam thỏa măn về nội dung của nó.

* Quan niệm cuối cùng là đặc tính trung thực của sách phải được bổ túc bằng những nhân chứng sống. Không một mô tả nào có thể định nghĩa trung thực một trận đánh hay một diễn biến bằng bài tường thuật của một hay nhiều nhân chứng sống. Đây là ưu điểm mà sách Pháp, sách Mỹ không có được, và sách Việt Cộng cũng không thể có v́ bản chất khoa trương, tuyên truyền của họ biến nhân chứng sống thành một cái loa không trung thực.

Trên 5 quan niệm này, chúng tôi đang viết quyển
Từ Điển Chiến Tranh Việt Nam, để làm tài liệu khởi điểm hầu từ đó mời quư vị tham dự vào việc điểm khuyết những thiếu xót và sửa chữa mọi sai lầm.

Ư thức được tầm vóc lớn lao của quyển Từ Điển, và khả năng vô cùng giới hạn của chúng tôi, chúng tôi chờ đón nhận cao kiến và sự giúp đỡ của quư vị tại địa chỉ nguyendatthinh@aol.com để quyển từ điển được cập nhật hoá hơn.

Ngay lúc này, chúng tôi xin quư bạn đồng đội giúp chúng tôi viết lại trung thực trận Ấp Bắc, trận Ban Mê Thuột, trận An Lộc, trận Xuân Lộc, và tất cả những trận đánh khác, dù thật nhỏ. Nếu có được h́nh ảnh kèm theo, hoặc bất cứ h́nh ảnh nào khác về chiến tranh Việt Nam, xin quư vị gửi cho chúng tôi.

Đến giờ này chúng tôi đă có được hai bài tường thuật về trận B́nh Giả của Trung Tá Trần Hữu Thành, và trận Ban Mê Thuột của hai đại úy nhẩy dù Vơ Trung Tín và Nguyễn Hữu Viên.

Chúng tôi mời gọi thêm bài vở của các bạn nhân chứng sống đă tham gia các trận đánh, và xin trân trọng cảm ơn quư vị

Nguyễn Đạt Thịnh