Cuối tháng 3 năm 1975 Quân Khu 1 hoàn toàn
thất thủ, Quân khu 2 chỉ c̣n Phan Rang và
Phan Thiết trong tổng số 12 tỉnh, đến ngày
4-4 hai tỉnh này được sáp nhập vào Quân khu
3. Trên thực tế cả hai Vùng 1 và 2 được coi
như đă lọt vào tay quân thù, các sư đoàn
chủ lực của Quân khu 2 và Quân khu 1 phần
th́ tan ră, phần đă bị thiệt hại nặng nề tới
1/2 hay 2/3 lực lượng.
Cuộc triệt thoái Cao Nguyên đă khiến cho
trên 75% chủ lực của Quân đoàn 2 bị tan ră,
sư đoàn 23 và 7 liên đoàn Biệt động quân mất
gần hết quân số. Sư đoàn 22 vùng duyên hải
giao tranh dữ dội với các sư đoàn Việt Cộng
cuối tháng 3 tại B́nh Định, khi được tầu Hải
quân đến cứu tại Qui Nhơn chỉ c̣n 2000 người.
Toàn bộ xe tăng , thiết giáp khoảng 470
chiếc , 380 khẩu pháo đều bị bỏ lại hết, một
số ít bị phá hủy c̣n lại lọt vào tay kẻ địch.
Các
sư đoàn cơ hữu 1, 2, 3 của Quân đoàn 1 và
sư đoàn TQLC đă bị thiệt hại nặng trên đường
triệt thoái, 90 ngàn chủ lực quân của quân
đoàn chỉ có 16 ngàn được tầu vớt chở về miền
Nam trong đó khoảng 6000 TQLC, 45% quân số
của sư đoàn. Toàn bộ trên 400 khẩu pháo, 450
xe tăng coi như mất hết, một số lớn lọt vào
tay Cộng quân. Các kho đạn, nhiên liệu tại
miền Trung chưa kịp hủy cũng đă biến thành
chiến lợi phẩm của địch. Phạm Huấn nói về sự
thiệt hại do kế hoạch triệt thoái gây nên
như sau:
"Chiến
lược 'đầu bé đít to' của ông Thiệu là rút bỏ
vùng rừng núi Cao Nguyên, vùng ít dân, 'đất
cằn sỏi đá' miền Trung, mang chủ lực quân,
đại bác chiến xa về pḥng thủ vùng đông dân,
mầu mỡ: miền đồng bằng sông Cửu Long và vùng
duyên hải.
Nhưng chỉ hai tuần lễ, khởi đầu bằng Quyết
Định Cam Ranh triệt thoái khỏi Cao Nguyên
ngày 14-3-1975, sau đó lệnh chính thức rút
bỏ Huế ngày 20-3-1975, chiến lược 'Đầu bé
Đít to' của ông Thiệu đă làm tan ră1/2 Quân
Lực Việt Nam Cộng Hoà và mất 2/3 Đất Nước.
Tất cả lực lượng Thiết Giáp và Pháo Binh của
Quân đoàn II và Quân Đoàn I bị hủy diệt. 3
sư đoàn 1, 3, 23 Bộ Binh bị tan ră hoàn toàn.
Các Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến, Sư Đoàn 2,
22 Bộ Binh, ba Sư Đoàn 1, 2, 6 Không Quân, 1
Lữ Đoàn Dù, 11 Liên Đoàn Biệt Động Quân, các
Liên Đoàn Công Binh, Truyền Tin, Tiếp Vận,
Quân Cụ, các Trường Trung Tâm Huấn Luyện Bộ
Binh, Biệt Động Quân, Pháo Binh…bị thiệt hại
từ 60 phần trăm đến 70 phần trăm quân số.
Tổng số phi cơ các loại bỏ lại khoảng 200
cùng với 900 đại bác và hơn 1000 chiến xa.
'Thành
quả' chiến lược 'Đấu bé Đít to' của ông
Thiệu, trong 2 tuần, quả đă vượt xa mọi kỷ
lục về thiệt hại trong cuộc chiến Việt Nam
từ trước đến nay."
(Những Uất Hận Trong Trận Chiến Mất Nước 1975
trang 98).
Trong khi Đồng minh phản bội cắt giảm quân
viện khiến ta thiếu hụt về nhiên liệu đạn
dược, hoả lực giảm 60%, kế hoạch triệt thoái
hỗn độn vô tổ chức của Tướng Thiệu lại càng
làm cho t́nh h́nh xấu đi một cách nhanh
chóng tạo điều kiện thuận lợi cho Việt Cộng
chiếm nốt phần đất c̣n lại của miền Nam.
"Chúng ta đă tiêu diệt và làm tan ră hơn 35
phần trăm sinh lực địch, lần đầu tiên diệt
và loại khỏi ṿng chiến đấu 2 quân đoàn địch,
hơn 40 phần trăm các binh khí kỹ thuật hiện
đại của chúng bị mất; ta thu và phá hơn 40
phần trăm cơ sở vật chất và hậu cần của quân
ngụy, giải phóng 12 tỉnh, đưa tổng số nhân
dân vùng giải phóng lên gần 8 triệu"
(Văn Tiến Dũng, Đại Thắng Mùa Xuân trang 136.)
Một điều vô cùng nguy hại là trong trong
cuộc lui binh vội vă hỗn độn, các kho vũ khí
đạn dược, quân dụng, cơ sở tiếp liệu… không
kịp hủy đă lọt vào tay quân thù, đúng là
giáo vào tay giặc, miền Nam đă đưa dao cho
người ta giết ḿnh.
Văn Tiến Dũng khoe.
"bộ
đội hy sinh và bị thương rất ít so với thắng
lợi đă giành được, vũ khí, đạn dược tiêu hao
không đáng kể. . .
... Ta thu đựợc của địch một khối lượng rất
lớn vũ khí và đạn dược. Về thế chiến lược và
lực lượng quân sự, chính trị ta đă có sức
mạnh áp đảo quân địch.
(ĐTMX trang 137).
Vũ khí đạn dược, binh khí kỹ thuật của ta kể
cả máy bay đă được Việt Cộng triệt để khai
thác xử dụng để đánh lại ta khiến cho lực
lượng địch ngày càng lớn mạnh như đi hia bẩy
dặm, phải nói là kế hoạch lui binh của ta
quá tệ đến nỗi máy bay chiến đấu mà c̣n để
lọt vào tay quân thù.
"Các
chiến sĩ ta đă tranh thủ nghiên cứu, t́m ṭi
và học sử dụng các loại vũ khí và phương
tiện chiến tranh hiện đại của Mỹ.
Trong đội h́nh hành quân của ta bắt đầu xen
lẫn những xe bọc thép M.113, xe tăng M.48,
M.41, những khẩu pháo 105, 155 mi-li-mét,
những máy thông tin chiến thuật PCR 25 của
Mỹ. Đặc biệt là những máy bay chiến đấu
A.37, F.5 lấy được của địch đă được các đồng
chí lái máy bay chiến đấu của ta chuyển sang
tập xử dụng. Khả năng ta lấy của địch, đánh
địch chưa bao giờ phong phú và giầu có như
trong chiến dịch này. Khả năng to lớn ấy làm
cho hoả lực của ta càng áp đảo địch một cách
ghê gớm và cũng làm cho tốc độ tiến công của
ta càng cao"
(Văn Tiến Dũng, ĐTMX trang 148).
Trước khi phát động cuộc tổng tấn công, Bộ
chính trị Trung ương đảng Cộng Sản Bắc Việt
hoạch định kế hoạch 2 năm để nuốt trọn miền
nam, như thế địch cũng đă đánh giá cao lực
lượng và khả năng tác chiến của quân ta
nhưng kế hoạch di tản, tái phối trí lực
lượng của Tướng Thiệu và những lệnh lạc lừng
khừng không dứt khoát của ông đă tạo điều
kiện vô cùng thuận lợi cho kẻ địch.
"Quyết
tâm chiến lược của Bộ Chính trị được thể
hiện trong kế hoạch chiến lược hai năm
1975-1976: năm 1975, tranh thủ bất ngờ, tiến
công lớn và rộng khắp, tạo điều kiện để năm
1976 tiến hành Tổng công kích - Tổng khởi
nghĩa, giải phóng hoàn toàn miền Nam.
(Văn
Tiến Dũng, ĐTMX trang 29).
Trong phim Vietnam history by Television,
khi trả lời phỏng vấn, Văn Tiến Dũng cũng
nói như vậy, y nói Bắc Việt dự trù hai năm
để giải phóng toàn bộ miền Nam. Sự sai lầm
chiến lược của ta đă dọn cỗ sẵn cho Việt
Cộng xơi, khôn ba năm dại một giờ, lănh đạo
của ta đă tạo thời cơ cho địch, rút ngắn
thời hạn tổng công kích của chúng để biến
thành kế hoạch chớp nhoáng.
Cuộc lui binh trên tỉnh lộ 7 và tại Thừa
Thiên - Đà Nẵng khiến cho cả hai quân đoàn
của ta tan ră trong ṿng ba tuần lễ, đó là
món quà tự trên trời rơi xuống của Việt Cộng.
Địch bèn chớp thời cơ táo bạo tập trung toàn
bộ lực lượng tấn công chiếm Sài G̣n, lần này
Việt Cộng xả láng dốc toàn bộ lực lượng vào
cái mà chúng gọi là "Chiến dịch Hồ chí Minh
lịch sử". Trong chiến dịch tháng 3 - 1975,
Bắc Việt tung vào hai quân khu 1 và 2 của ta
14 sư đoàn bộ binh, nay thấy thời cơ đă tới
chúng đưa nốt 3 sư đoàn tổng trừ bị ở ngoài
Bắc vào cộng với hơn một chục trung đoàn độc
lập đă đưa lực lượng tham gia chiến dịch này
lên tới gần 20 sư đoàn bộ binh chưa kể sự
yểm trợ hùng hậu của hơn hai chục trung
đoàn xe tăng, pháo binh, pḥng không, công
binh… Văn Tiến Dũng nói.
"Chúng tôi nóng
ruột chờ đón đồng chí Lê Đức Thọ vào, chờ
đón những chỉ thị cực kỳ quan trọng của Bộ
Chính trị vào thời điểm này của dân tộc.
Ngày 25 tháng 3, Bộ
Chính trị lại họp. Phiên họp lịch sử ấy
khẳng định: 'Cuộc tổng tiến công chiến lược
của ta đă bắt đầu với chiến dịch Tây Nguyên.
Thời cơ chiến lược mới đă
đến, ta có điều kiện hoàn thành sớm quyết
tâm giải phóng miền Nam, Bộ Chính trị chủ
trương: tập trung nhanh nhất lực lượng, binh
khí kỹ thuật và vật chất giải phóng Sài G̣n
trước mùa mưa."
(ĐTMX trang 124).
Việt Cộng phát hiện nhậy bén, nhanh tay nắm
ngay lấy thời cơ. "Thời
cơ giải phóng Sài G̣n càng ngày chín mùi"
(ĐTMX trang 129.)
Địch chớp thời cơ ngh́n năm một thuở, chưa
bao giờ chúng gặp cơ hội béo bở như thế, cả
một đạo binh to lớn hai trăm ngh́n người
bỗng tan ră tháo chạy khỏi hai quân khu. Lần
đầu tiên trong chiến tranh Đông Dương hai
quân đoàn cùng triệt thoái giao lại đất cho
kẻ địch, chúng tiến nhanh y như vào chỗ
không người, Văn Tiến Dũng nói:
"Cán bộ cơ quan tham mưu ở mặt trận lúc này
phải thốt lên: 'Vẽ bản đồ không kịp bước
quân đi'
(ĐTMX trang 122.)
Trong khi Việt Cộng hối hả chuyên chở bằng
cả ba phương tiện đường thủy, đường bộ,
đường hàng không để chuyển vận vũ khí, quân
nhu, nhân lực … đánh xả láng một ván bài
chót th́ ta hầu như không thấy có một kế
hoạch nào khả dĩ ngăn chận bước tiến của
địch.
"Để
kịp phục vụ cho chiến trường sẽ được giải
phóng sau cùng của cả nước, Quân khu 5 tổ
chức một đoàn xe đặc biệt, chở thẳng vào Nam
Bộ những thứ súng đạn cần thiết mà Khu 5 vừa
thu được của địch và những thứ của bộ đội ta
mà Khu chưa dùng hết khi giải phóng Đà Nẵng
và các tỉnh phía Nam. Đoàn xe này do đồng
chí thiếu tướng Vơ Thứ, Phó tư lệnh Quân khu
5, trực tiếp chỉ huy chạy từ đồng bằng Quân
khu lên Tây nguyên rồi đi xuống miền Đông
Nam Bộ.
Các sân bay Gia Lâm, Vĩnh Phú, Đồng Hới, Phú
Bài, Đà Nẵng, Công Tum nhộn nhịp khác thường.
Các loại máy bay lên thẳng nặng, nhẹ, các
loại máy bay vận tải và cả máy bay chở khách
đặc biệt của ta đều được huy động, không
những để chở người, chở đạn, chở vũ khí, chở
sách, báo, phim ảnh, tranh vẽ, bản nhạc… mà
c̣n chở hàng tấn bản đồ Sài G̣n - Gia Định
vừa mới in xong ở Xưởng bản đồ Bộ Tổng tham
mưu ta tại Hà Nội.
Các bến sông Hồng, sông Gianh, sông Mă, sông
Hàn, các cảng Hải Pḥng, Cửa Hội, Thuận An,
Đà nẵng cũng ngày đêm nhộn nhịp. Các mặt
hàng được bốc xếp kịp thời để các đoàn tầu
vận tải của Bộ giao thông vận tải và tầu của
Hải quân nhân dân đưa vào phía trong, nối
dài đường biển qua các cảng vừa được giải
phóng như Qui Nhơn, Cam Ranh.
Phải có bằng ấy con đường và phương tiện mới
đủ sức vận chuyển thần tốc ra mặt trận một
số lượng quân đội và vật chất lớn chưa từng
có của cách mạng nước ta."
(ĐTMX trang 142).
Trước cuộc chuyển vận bộ đội, súng đạn, quân
nhu … ồ ạt vào Nam của quân thù, ta không
thấy một kế hoạch cụ thể nào của Bộ Tổng
tham mưu hay Dinh Độc Lập khả dĩ ngăn chận
hoặc giảm bước tiến quân của địch như oanh
tạc các đoàn xe, tầu vận tải, phục kích đánh
công voa, giật sập cầu cống, phá đường …
Thượng cấp của ta quan tâm tới cuộc pḥng
thủ phần đất c̣n lại th́ ít mà lo cho kế
hoạch "Tẩu vi thượng sách" của ḿnh th́
nhiều.
Ngày 4-4-1975 Phan Rang và Phan hiết được
sáp nhập vào Quân khu 3. Tại Phan Rang lực
lượng ta gồm 2 trung đoàn bộ binh 4 và 5
thuộc sư đoàn 2, 1 lữ đoàn Dù, 1 liên đoàn
Biệt Động quân, 4 tiểu đoàn Địa phương quân,
sư đoàn 6 Không quân, Hải quân gồm 2 khu
trục hạm, một giang pháo hạm, một hải vận
hạm… Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi Tư lệnh
tiền phương Quân đoàn 3 đóng tại Tháp Chàm.
Phan Rang phố xá vắng tanh, dân di tản về
Phan Thiết rất nhiều, ngày 14-4 Việt Cộng
tấn công tuyến pḥng thủ Phan Rang tại phi
trường, một tiểu đoàn Dù đụng độ Việt Cộng,
địch bỏ xác cả 100 tên. Ngày 15-4 Phó Thủ
tướng đặc trách Quốc pḥng Trần văn Đôn và
Tướng Toàn thị sát mặt trận. Khi phái đoàn
vừa về th́ Việt Cộng tấn công mạnh, địch
tăng cường sư đoàn 325 và nhiều chiến xa.
Quân đội VNCH phản công dữ dội nhưng không
thể chống lại lực lượng quá đông của địch
phải rút lui, trung đoàn 4 và 5 tan ră.
Khuya ngày 16-4 chỉ có 200 người thoát ṿng
vây, các sĩ quan thuộc Bộ tư lệnh tiền
phương và và sư đoàn 6 không quân bị bắt hết,
các đơn vị ta tại đây coi như tan ră, Việt
Cộng chiếm được 40 máy bay tại Phan Rang.
Hai hôm sau ngày 18-4 Phan Thiết cũng bị
lọt vào tay Cộng quân
Quân đoàn 4 BV gồm các đơn vị đă chiếm QK 2
theo Quốc lộ 1, Quốc lộ 20 tiến về Sài G̣n,
gần giao điểm của hai Quốc lộ này là Xuân
Lộc thuộc tỉnh Long khánh cách Sài G̣n 60
cây số, Xuân lộc giữ vị trí quan trọng bảo
vệ phi trường Biên Hoà.
Phạm vi trách nhiệm của sư đoàn 18 là Long
Khánh, phụ trách an ninh phía Bắc căn cứ
Long B́nh, Quốc lộ 15 và căn cứ Không quân
Biên Hoà. CSBV huy động 4 sư đoàn thuộc Quân
đoàn 4 đă bị sứt mẻ: sư đoàn 6 gồm 2300
người, sư đoàn 7 có 4100, sư đoàn 341, sư
đoàn 1 gồm 3400 người sư đoàn 325 gồm5000
người, trung đoàn biệt lập 95B gồm 1200
người.
BV khi tấn công Xuân Lộc nhằm các mục tiêu.
-Tấn
công tuyến pḥng thủ then chốt phía đông như
Xuân Lộc, Bà Rịa, Vũng Tầu.
- Kéo lực lượng Việt nam Cộng Hoà ra ngoài
để tiêu diệt, mở cửa lớn để vào Sài G̣n.
-Thu hút lực lượng Việt Nam Cộng Hoà vào
phía đông để đưa các lực lượng khác tới bắc
và tây bắc Sài G̣n. Giữa tháng 3 sư đoàn 18
bắt được một số tù binh c̣n nhỏ tuổi, mới
được đưa từ ngoài Bắc vào, lấy cung tù binh
biết trước ư định củaVC, sư đoàn 18 chuẩn bị
sẵn sàng chờ địch. Bộ binh và pháo binh được
đưa lên giữ các cao điểm quan trọng, gia
đ́nh binh sĩ được đưa về hậu cứ Biên Hoà.
Sáng 9-4 Việt Cộng pháo Xuân Lộc 4000 quả,
cho hai tiểu đoàn đặc công đột nhập thị xă
bị đẩy lui bỏ lại hằng trăm xác chết, dân bị
trúng đạn nhiều người chết, địch pháo phi
trường Biên Hoà. Ngày 11-4 tiểu đoàn 2/52
VNCH băng rừng tăng cường Xuân Lộc đă phục
kích tiêu diệt một đoàn xe 30 chiếc , gần
100 tên VC bỏ xác. Quân đội VNCH kháng cự
mănh liệt tại Xuân Lộc, biệt đội kỹ thuật
của ta bắt được điện báo VC và biết vị trí
đóng quân của chúng để gọi máy bay oanh kích
khiến thiệt hại của địch cao. Xuân Lộc tuy
không phải là mục tiêu cuối cùng nhưng vẫn
là mục tiêu chính, VC đưa thêm quân vào
chiến trường, sáng ngày 16-4 Tướng Toàn cho
lệnh thả 2 trái bom CBU (Daisy Cutter) tại
Bắc Gầu Giây tiêu diệt nhiều đơn vị bộ binh,
thiết giáp, pháo binh địch. Bị Việt Cộng tố
cáo trên dư luận quốc tế nên Mỹ không dám
cung cấp ng̣i nổ, sự thực họ chỉ thử nghiệm
vũ khí cũng như ngăn chận đà tiến quá nhanh
của VC để dễ di tản khỏi VN.
Ngày 20-4 Tướng Toàn bay trực thăng vào Xuân
Lộc gặp Tướng Đảo bàn kế hoạch lui binh, sư
đoàn 18 rút lui vào lúc đêm vừa đánh vừa rút,
giữ trật tự b́nh tĩnh, tối 20 trung đoàn 48
về đến Long Giao đặt pháo binh yểm trợ tổng
quát cho cuộc lui binh, sau đó truyền tin,
công binh, pháo binh, quân y… rút theo.
Sư đoàn 18 thiệt hại 30% quân số, Địa phương
quân nghĩa quân bị thiệt hại nặng, VC chết
5000, 37 xe tăng bị bắn cháy. Sư đoàn 18 để
2500 quân ở ngoài và 2500 quân ở trong thị
xă, VC pháo 2000 quả, đến tối sư đoàn 6 VC
phải gom quân rút lui. Trân đánh kéo dài mấy
ngày, VC đưa thêm vào mặt trận một sư đoàn
nữa ngày 10 để tấn công thị xă nhưng vẫn bị
đẩy lui. Địch pháo 2000 quả vào tuyến pḥng
thủ nhưng sư đoàn 18 vẫn đứng vững. Trước
đấy sư đoàn này được coi như một sư đoàn
loại dở, tệ thế nhưng đă đẩy lui nhiều đợt
tấn công dữ dội của đối phương. Trong mấy
ngày tấn công VC đă pháo 8000 quả vào Xuân
Lộc nhưng sư đoàn 18 vẫn bám sát trận địa
chiến đấu rất dũng mănh không lùi một bước.
Sư đoàn 18 lui binh tốt đẹp cho thấy khuyết
điểm của Quân đoàn 1 và 2.
-
Thiếu chuẩn bị, không lập kế hoạch lui binh,
không kiểm soát đôn đốc từ cấp chỉ huy.
-
Gia đ́nh binh sĩ, dân chúng di tản làm rối
loạn hàng ngũ, sư đoàn 18 đă có kế hoạch cho
di tản gia đ́nh binh sĩ về Biên Hoà trước
nên không sẩy ra hỗn loạn. Ngày 18-4 Ủy ban
Quốc pḥng Thượng viện Mỹ bác bỏ đề nghị
viện trợ khẩn cấp cho VNCH của Tổng thống
Ford.
Từ ngày 8-4 -1975 Lê Đức Thọ, người thực sự
cầm đầu Bắc Việt chủ toạ phiên họp tại Lộc
Ninh với các cán bộ thuộc Trung ương Cục
miền Nam và Bộ Tổng tham mưu CS. Thọ tuyên
bố thành lập Bộ Tư lệnh chiến dịch giải
phóng Sài G̣n Chợ Lớn, Tư lệnh Đại Tướng Văn
Tiến Dũng, Chính ủy Phạm Hùng, Phó Tư Lệnh
Thượng Tướng Trần Văn Trà. Bộ Tư lệnh bàn kế
hoạch đánh chiếm Bộ TTM, dinh Độc Lập, Bộ Tư
lệnh Biệt khu Thủ đô, Bộ Tư lệnh Cảnh Sát
Quốc Gia, Phi trường Tân Sơn Nhất.
Ngày 21-4, Nguyễn Văn thiệu từ chức Tổng
thống tại dinh Độc lập để rồi mấy hôm sau ra
khỏi nước.
Phó Tổng thống Trần văn Hương lên thay,
trong khi ấy các nhà ngoại giao quốc tế ra
sức vận động hai bên để tránh cho Sài G̣n
khỏi trở thành băi chiến trường. Mấy hôm sau
Cộng quân bắn 4 trái hoả tiễn 120 ly vào
Khánh Hội làm cháy mấy chục căn nhà. Đài BBC
nói BV cảnh cáo chính phủ Trần Văn Hương
phải bàn giao cho một chính quyền do họ chỉ
định, người ta hiểu ngay đó là nhóm chính
khách thứ ba do ông Dương Văn Minh lănh đạo.
Ngày 27-4 Quốc Hội nhóm họp để biểu quyết
việc trao quyền cho Dương Văn Minh.
Trung tướng Nguyễn Văn Toàn Tư lệnh Quân
đoàn 3 QLVNCH tổ chức pḥng thủ Thủ đô trên
5 tuyến chính với khoảng cách tới trung tâm
thành phố xa hơn tầm pháo của đại bác 130 ly
VC đồng thời bảo vệ các căn cứ quan trọng
tại Biên Hoà, Củ chi, Lai Khê, Long B́nh.
Phía tây bắc là tuyến Củ chi với sư đoàn 25
BB và hai liên đoàn 8, 9 Biệt động quân.
Tuyến B́nh Dương ở phía bắc với sư đoàn 5
BB. Tuyến Biên Hoà phía đông bắc với sư đoàn
18 BB và lực lượng Xung kích Quân đoàn 3.
Tuyến Vũng tầu và Quốc lộ 15 do lữ đoàn 1 Dù
cùng với một tiểu đoàn thuộc sư đoàn 3 BB và
các đơn vị thiết giáp, Địa phương quân,
nghĩa quân của tiểu khu Phước Tuy phụ trách.
Tuyến Long An phía nam ngoài lực lượng địa
phương quân, nghĩa quân cơ hữu c̣n có sư
đoàn sư đoàn 22 BB phụ trách cộng với sự
tăng cường của trung đoàn 12 thuộc sư đoàn 7
BB và trung đoàn 14 thuộc sư đoàn 9 BB và
Liên đoàn 6 BĐQ.
Năm tuyến pḥng thủ chính của ta cũng trùng
với 5 hướng tấn công của năm quân đoàn địch:
Hướng tây nam là đoàn 232, Tư lệnh trung
tướng Lê đức Anh với các sư đoàn 3, 5, 8, 9
BB và 27 đặc công và 4 trung đoàn độc lập
16, 24, 88, 71 và trung đoàn pḥng không
tiến từ sông Vàm Cỏ Đông và Hậu Nghĩa. Quân
đoàn 3, Tư lệnh thiếu Tướng Vũ Lăng gồm các
sư đoàn 10, 316, 320 và 968 tiến về phía Tây
Ninh. Phía bắc là quân đoàn 1, Tư lệnh là
Thiếu Tướng Nguyễn Hoà gồm các sư đoàn 312,
320B và 308 từ Lộc Ninh và Phước Long tiến
về khu tập trung ở phía nam sông Bé. Quân
đoàn 4, Tư lệnh Thiếu tướng Hoàng Cầm gồm
các sư đoàn 6, 7 và 341 sau khi chiếm Xuân
Lộc đang tiến về Trảng Bom. Mũi sau cùng là
quân đoàn 2 , Tư lệnh thiếu tướng Nguyễn Hữu
An gồm các sư đoàn 3 Sao vàng, 304, 324B, và
325 tiến đánh Long Thành, Vũng Tầu, Phước Lễ.
Kế hoạch BV như sau: Hướng tây bắc quân đoàn
3 và địa phương quân Tây ninh, Củ chi, các
lực lượng đặc công biệt động, tăng pháo tiến
đánh căn cứ Đồng Dù, tiêu diệt sư đoàn 25 từ
Củ chi đến Trảng bàng rồi tiến đánh Tân sơn
nhất, phối hợp với quân đoàn 1 đánh Bộ Tổng
tham mưu sau đó tiến về Dinh Độc Lập. Hướng
bắc quân đoàn 1 cùng các lực lượng đặc công,
pháo binh, hoả tiễn.. bao vây căn cứ B́nh
Dương, Bến Cát rồi đánh BTTM, BTL các binh
chủng G̣ gấp rồi tiến về dinh Độc Lập. Hướng
đông quân đoàn 4 tiến đánh Biên Hoà, phi
trường BH rồi tiến vào quận 1 SG. Hướng Đông
nam quân đoàn 2 đánh Bà Rịa, Vũng Tầu.. để
chặn đường rút lui của VNCH, chiếm căn cứ
Nươc Trong, Long thành, pháo kích phi trường
TSN, chiếm Long b́nh. Hướng tây, tây nam
đoàn 232 chiếm Hậu nghĩa, rồi tiến đánh Biệt
Khu Thủ Đô.
Quân
đội VNCH như chúng ta đă biết từ cuối tháng
3-1975 đă mất gần một nửa lực lượng chủ lực.
Tại Quân khu 3 ta chỉ c̣n 3 sư đoàn 25, 5,
18 và các đơn vị di tản từ miền Trung về với
quân số thiếu hụt, tổng cộng gần 6 sư đoàn
để đối đầu với khoảng 20 sư đoàn BV. Lực
lượng hai bên như sau.
"Về
tương quan lực lượng giữa hai bên th́ QLVNCH
chỉ có 6 sư đoàn để bảo vệ thủ đô chống lại
một lực lượng đông đảo với quân số gần 20 sư
đoàn CSBV. Ba sư đoàn 7, 9 và 21 BB thuộc
quân đoàn IV QLVNCH không thể dùng để tiếp
ứng do điều kiện an ninh lănh thổ của vùng
đồng bằng sông Cửu Long. CS cũng đă xác nhận
cán cân lực lượng trong chiến dịch này như
sau:
Ta: 4 quân đoàn 1, 2, 3, 4, và 232 bao gồm
15 sư đoàn bộ binh, 5 lữ đoàn bộ binh biệt
lập, 4 trung đoàn tăng thiết giáp và 6 trung
đoàn đặc công. Quân số tổng cộng khoảng 280
ngàn với 400 xe tăng và 420 pháo.
Địch: 5 sư đoàn bộ binh 5, 18, 22 và 25, sư
đoàn TQLC, 2 lữ đoàn Dù, lữ đoàn 3 Kỵ binh
và 4 liên đoàn Biệt động quân. Quân số tổng
cộng khoảng 240 ngàn với 625 xe tăng thiết
giáp và 400 pháo"
(Nguyễn
Đức Phương, Chiến Tranh Việt Nam Toàn Tập.)
Quân
số của BV gồm 280 ngàn người trong đó đa số
là thành phần tác chiến, lính VC không có
lương nên không có các đơn vị hành chánh tài
chánh, chúng cũng không có cứu thương y tế,
bác sĩ, y tá… nên nói chung thực lực địch
đông đảo hơn ta nhiều.
Quân số của VNCH là 240 ngàn nhưng trong đó
chỉ có khoảng sáu chục ngàn là lính nhà nghề,
c̣n lại là địa phương quân, nghĩa quân và
các thành phần không chiến đấu. BV có đầy
đủ đạn dược trong khi ta gặp khó khăn về
tiếp liệu, lực lượng hai bên trên thực tế
chênh lệch, ưu thế quân sự về phía địch.
Bắt
đầu từ 26-4-1975 VC đă bắt đầu tấn công vào
Trường Thiết Giáp Long Thành, căn cứ Nước
Trong , đặc công tấn công Tân cảng , cầu xa
lộ, đài ra đa Phú Lâm nhưng thất bại bị đẩy
lui.
Sáng
ngày 27-4 sư đoàn 3 BV tấn công chiếm Phước
Lễ, Lữ đoàn Dù rút về Vũng Tầu, sư đoàn 18
được lệnh lui về giữ Trảng Bom. Phía tây các
căn cứ dọc theo Vàm Cỏ Đông lần lượt bị VC
chiếm, chúng pháo phi trường Biên Hoà dữ dội,
sư đoàn 3 Không quân phải di về Tân sơn nhất
và Cần thơ. Phía tây nam đoàn 232 cắt quốc
lộ 4 nhiều nơi để chận viện binh từ quân khu
4, phía bắc quân đoàn 1 BV tiến về Thủ Đầu
Một, phía tây bắc quân đoàn 3 BV cắt quốc lộ
1 và 21 để chặn đường rút của sư đoàn 25 BB.
Chiều ngày 28-4 Tướng Dương Văn Minh tuyên
thệ nhậm chức Tổng thống tại dinh Độc Lập,
chừng một tiếng sau, phi công nằm vùng trung
úy Nguyễn Thành Trung hướng dẫn năm phi cơ
A-37 của ta do Việt Cộng chiếm được ném bom
phi trường Tân Sơn Nhất rung chuyển cả trời
đất khiến dân chúng Đô thành hốt hoảng. Tối
hôm ấy BTL Quân đoàn 3 di chuyển từ Biên Hoà
về G̣ Vấp.
Từ
4 giờ sáng ngày 29-4 BTTM, phi trường Tân
Sơn nhất, BTL Hải quân bị pháo kích dữ dội.
Cộng quân chiếm được Nhơn Trạch đặt hai khẩu
130 ly pháo 300 quả vào Tân Sơn Nhất gây
nhiều thiệt hại nặng, các băi đậu phi cơ,
bồn chứa nhiên liệu, kho đạn bị trúng pháo
kích gây nhiều đám cháy lớn. Sư đoàn 325 BV
chiếm Nhơn Trạch, thành Tuy Hạ, tiến về Cát
Lái. Sư đoàn 304 chiếm căn cứ Nước Trong.
Trong
khi ấy Dương văn Minh cử ba người sứ giả
đến trại Đê Vít tại Tân Sơn Nhất để thương
thuyết ngưng bắn với phái đoàn Quân sự VC
nhưng bị Đại tá Vơ Đông Giang bác bỏ.
Tại Biên Ḥa sư đoàn 18 cùng với lực lượng
xung kích Quân đoàn 3, Lữ đoàn 4 Dù và 469
TQLC … vẫn giữ được pḥng tuyến. Buổi chiều
Bộ Tư lệnh Hải quân và Không quân di tản.
Một liên đoàn BĐQ tại Bến Tranh Bắc Mỹ Tho
được lệnh trực thăng vận về Cần Đước ngăn
chận Việt Cộng trên liên tỉnh lộ 5A nhưng
không có trực thăng, do đó Chợ Lớn được coi
như bỏ ngỏ. Đến tối Cộng quân đụng độ với
các chiến đoàn 315, 322 tại hai hướng đông
bắc thành phố. Trung tướng Vĩnh Lộc, tân
Tổng tham mưu trưởng lệnh cho sư đoàn 18 BB
về giữ khu vực nằm giũa Thủ Đức và nghĩa
trang Quân đội.
Phía bắc, căn cứ Lai Khê của sư đoàn 5 bị
địch pháo kích dữ dội, quận Bến Cát bị tấn
công.
Phía tây 2 liên đoàn 8, 9 BĐQ bị thiệt hại
nặng , VC bỏ xác cả trăm tên cùng 18 xe tăng
bị bắn cháy, quốc lộ 1 giữa Sài G̣n và Củ
Chi bị gián đoạn.
Sư
đoàn 22 BB vẫn làm chủ được t́nh h́nh phía
nam, mặc dù bị VC tấn công.
Chiều
29-4 toà Đại sứ Mỹ bắt đầu di tản bằng trực
thăng, sau 19 giờ bay liên tục 80 trực thăng
đă chở đi được hơn 1,000 người Mỹ và khoảng
6,000 người Việt Nam ra ngoài hạm đội.
Ngày 30-4 một trung đoàn BV giao tranh ác
liệt với quân Dù tại Ngă Tư Bẩy Hiền và Lăng
Cha Cả, VC bị thiệt hại nặng tới 50% quân số.
Địch tấn công trại Hoàng Hoa Thám, BTL không
quân, căn cứ sư đoàn 25 BB VNCH thất thủ,
chuẩn Tướng Lư Ṭng Bá bị bắt.
Cộng quân xâm nhập Ngă Tư Bẩy Hiền, trong
ṿng 15 phút có 6 chiến xa bị liên đoàn 81
Biệt Cách Dù bắn hạ, địch bị chận đánh tơi
bời phải rút khỏi ngă tư Bẩy Hiền.
Theo Tướng Hoàng Lạc, ông Dương Văn Minh lại
cử người tới Tân Sơn Nhất để thương thuyết
với VC xem có vớt vát được tí nào không
nhưng họ vẫn một mực đ̣i phải buông súng đầu
hàng nếu không chúng sẽ bắn phá dữ dội thành
phố. Sài G̣n bây giờ đang nằm trong tầm
pháo của quân thù. Tướng Dương Văn Minh phần
v́ thấy pḥng tuyến của ta đă sụp đổ dưới
các trận tấn công, pháo kích của địch, chúng
đă vào sát thành phố không hy vọng cứu văn
được t́nh thế. Lúc 10 giờ 30, trên đài phát
thanh, ông tân Tổng thống kêu gọi các cấp
chỉ huy, binh sĩ QĐVNCH ngưng bắn giao nạp
vũ khí cho các đơn vị Cộng Hoà Miền Nam Việt
Nam để tránh đổ máu vô ích. Khi ấy tiếng
súng trận khắp nơi đều đă im bặt.
Dương
Văn Minh tuyên bố ngưng bắn th́ Lê Đức Thọ
ban lệnh cho các quân đoàn BV không chấp
nhận đ́nh chiến “cứ tiến thẳng vào Sài G̣n
tước vũ khí và bắt quân ngụy đầu hàng không
điều kiện.” Cộng quân tiến vào Thủ Đô đang
bỏ ngỏ làm bốn ngả: Cánh thứ nhất từ Long
Khánh theo xa lộ Biên Hoà, thứ hai từ Củ Chi
qua Ngă Tư Bẩy Hiền, thứ ba từ Long An kéo
lên qua ngả Phú Lâm Chợ Lớn, cánh cuối cùng
từ B́nh Dương theo xa lộ Đại Hàn vào Hàng
Xanh.
Theo báo Sài G̣n Giải Phóng năm 1976 nhân
ngày kỷ niệm chiến thắng 30-4, VC cho biết
đoàn quân vào dinh Độc Lập trước nhất là
cánh từ Long An , họ có chụp h́nh những
chiếc xe lội nước PT-76 vào sân dinh và bộ
đội thiết giáp VC trên xe nhẩy xuống. Theo
tài liệu của kư giả ngoại quốc hoặc do lời
kể của các viên chức chính phủ trong dinh
Độc Lập th́ cánh quân từ Biên Hoà cùng với
các xe T-54 đă tiến chiếm dinh Độc Lập trước
tiên.
Báo VC năm 1976 cho biết người đi đầu là một
viên đại uư, được các viên chức tiếp đón tại
cửa vào, y hỏi thăm đường lên lầu rồi vội
kéo cờ vàng của ta xuống để treo cờ Mặt trận
lên để chứng tỏ giang sơn này, đất nước này
đă hoàn toàn thuộc về CS. Trong số các sĩ
quan BV vào tiếp thu dinh Độc Lập sau đó,
người cấp bậc cao nhất là một Đại tá kư giả
chiến trường (journaliste de guerre), các
tài liệu Mỹ (Vietnam, A History; The World
Almanac Of The Vietnam War) đều nói tên
người này là Bùi Tín. Báo chí VC năm 76 đăng
tấm h́nh ngày 30-4-1975 tại dinh Độc Lập,
Dương Văn Minh nói với viên Đại Tá VC bước
vào dinh:
"Chúng tôi chờ các ông đến để bàn giao quyền
hành."
Viên
Đại tá VC (không thấy nói tên) người to lớn
nắm tay trợn mắt la lối dữ tợn trước ông
Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu nguyên văn: "Các
ông c̣n cái ǵ nữa để mà bàn giao, các ông
phải đầu hàng vô điều kiện".
Rồi
hống hách bắt Tướng Dương Văn Minh phải lên
đài phát thanh tuyên bố đầu hàng. Bùi Tín
nói láo hoàn toàn, trong khi ấy Quân khu 4
vẫn c̣n nguyên vẹn với hơn 200 ngàn địa
phương quân và ba sư đoàn BB chủ lực. V́ là
một bọn nhà quê, VC không biết một tí ǵ về
nghi lễ quốc tế của chiến tranh, quân sự.
Khi tiếp thu một cuộc đầu hàng tại mặt trận,
nếu là cấp bậc thấp hơn phải chào người cấp
bậc cao dù kẻ ấy thua trận, kế đó bắt họ kư
giấy đầu hàng không thể chửi bới vô phép như
vậy. Theo lời kể của cựu dân biểu Lư Quí
Chung th́ cả những tên sĩ quan cấp úy BV khi
mới vào dinh cũng quát tháo những người cầm
đầu chính phủ và gọi họ bằng anh:
"Các
anh phải hàng hết."
Chúng ta thấy rơ các thanh niên xuất thân từ
một xă hội bán khai lạc hậu như miền Bắc chỉ
là những người thiếu giáo dục.
Sau
khi ông Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng th́
các mặt trận quanh Sài g̣n đều im tiếng súng
chỉ c̣n một vài trận lẻ tẻ như tại Hố Nai,
bốn tiếng sau lệnh đầu hàng, Thiếu Uư Tư,
Biệt kích Dù và năm người lính thân tín dùng
súng chống chiến xa M-72 phục kích bắn cháy,
lật một xe Jeep, một T-54, 2 xe Molotova…
rồi chạy thoát hết. Khi ông Dương Văn Minh
tuyên bố đầu hàng th́ Tướng Phạm Văn Phú Tư
lệnh Quân đoàn 2 và Tướng Lê Nguyên Vỹ, Tư
lệnh sư đoàn 5 tự sát.
Quân
khu 4 vẫn c̣n nguyên vẹn, Thiếu tướng Nguyễn
Khoa Nam không cho giật sập cầu Long An như
Tỉnh trưởng đề nghị. Theo lời kể của Trung
úy Lê Ngọc Danh, sĩ quan tùy viên của Tướng
Nam th́, trước khi tự sát ông đă thắp nhang
lễ vái trước bàn thờ Phật. Thiếu Tướng Lê
Văn Hưng, Tư lệnh phó tự sát chiều tối 30-4,
hôm sau 1-5 Tướng Nam cũng tự sát lúc 7 giờ
rưỡi sáng, Chuẩn tướng Trần Văn Hai tư lệnh
sư đoàn 7 cũng tự vẫn.
Thực ra rất nhiều người quyên sinh trước
ngày tàn của chế độ, của đất nước như thiếu
tá Đặng Sĩ Vinh thuộc BTL Cảnh sát Quốc gia
tự sát lúc 2 giờ chiều 30-4 cùng vợ và 7
người con tại nhà riêng. Trung tá Vũ đ́nh
Duy, Trung tá Nguyễn Văn Hoàn thuộc Đơn vị
101 tự sát… Các quân nhân Biệt kích Dù cũng
như nhiều binh chủng khác đă mở lựu đạn tự
tử v́ chán chường thất vọng khi thấy đất
nước lọt vào tay quân thù. Ngoài ra c̣n
nhiều người tự sát ngoài mặt trận như Trung
tá Nguyễn Hữu Thống trung đoàn trưởng trung
đoàn 42 (sư đoàn 22) khi tầu Hải quân vào
Qui Nhơn cứu đám tàn quân của sư đoàn cuối
tháng 3-75 , Trung tá Thống từ chối di tản ở
lại tự sát. Đại Tá Lê Cầu, Trung đoàn
trưởng trung đoàn 47 (sư đoàn 22) cũng tự
sát ngoài mặt trận khi không c̣n lối thoát.
Tháng 4 năm 2006 một cựu sĩ quan tham mưu
của Quân đoàn 4 tiết lộ ngày 30-4-1975 họ đă
dự định hành quân qua Miên sang Thái Lan
hoặc ra Phú Quốc lập pḥng tuyến chống lại
CS, cũng có người cho rằng Quân khu 4 chờ
chính phủ Sài G̣n dời xuống để tiếp tục
chiến đấu nhưng ông Dương Văn Minh lại đầu
hàng địch. Theo lời kể của Trung uư Danh,
tuỳ viên của Tướng Nam th́ ông là người nhân
ái, sùng đạo Phật không muốn đổ máu, ông hay
lễ bái trước bàn thờ Phật tại văn pḥng.
"Là
một tư lệnh Quân đoàn, đă nắm trong tay
nhiều đơn vị trung thành, tướng Nguyễn Khoa
Nam có thể ra lệnh tiếp tục chiến đấu, nhưng
là vị tướng có ḷng nhân ái, không muốn binh
sĩ và đồng bào đổ máu vô ích, ông không cho
phá cầu, ông không muốn có người chết thêm."
(Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, Bút kư của
Trung úy Lê Ngọc Danh.)
Nhận xét về Tướng Dương Văn Minh nhiều người
hồi đó cũng như bây giờ chỉ trích chê bai
ông là kẻ đầu hàng địch, dâng nước cho Việt
Cộng, nhưng cũng có nhiều người đồng ư với
quyết định của Tướng Minh cho rằng tiếp tục
chiến đấu sẽ chỉ gây thêm tang tóc đổ máu
cho quân dân một cách vô ích không hy vọng
ǵ cứu văn t́nh thế. Sau khi ra định cư tại
Hải ngoại, Đại Tướng Dương Văn Minh đă trả
lời phỏng vấn:
"Tôi
không cứu được nước nhưng tôi phải cứu dân".
Nhiều
người bỏ nước chạy trước khi Sài G̣n thất
thủ cả tuần hoặc hai ba tuần lễ nhưng nay
cũng vẫn lớn tiếng chê bai Tướng Minh đầu
hàng phản bội!.
Quyết định đầu hàng của Dương Văn Minh có
thể coi là hợp t́nh huống v́ dù tiếp tục
chiến đấu anh dũng cũng vẫn thua, tuy nhiên
sau này ông lại chấp nhận để Việt Cộng phục
hồi quyền công dân cho ḿnh và đi bầu Quốc
Hội VC th́ thật là thiếu tự trọng, một người
cấp bậc Đại Tướng bốn sao như ông không thể
hèn nhát như vậy được. Trong khi có những
Tướng lănh, quân nhân… tự sát để giữ danh dự
cho QĐVNCH th́ lại có những nhà quân sự,
công chức cao cấp hèn nhát bỏ chạy và rồi
sau đó c̣n huyênh hoang tuyên bố chỉ trích
người này người nọ.
Việt
Cộng bắt đầu mở chiến dịch tấn công Sài G̣n
từ 26-4- 1975, bốn ngày sau pḥng tuyến của
ta đă hoàn toàn sụp đổ. Trước khi Dương Văn
Minh lên làm Tổng Thống người ta đă đoán
biết công việc của ông chỉ là để đầu hàng.
Một viên chức hành chánh thân cận của ông
Trần Văn Hương sau này tiết lộ hồi đó ông
Hương cho biết người ta đă sắp đặt sẵn để
ông Thiệu bàn giao cho ông Hương rồi ông
Hương bàn giao cho ông Minh, ngay cả việc
Dương Văn Minh yêu cầu cơ quan Tuỳ viên quân
sự DAO Mỹ rút lui cũng là do người ta sắp
đặt cả. Khi Dương Văn Minh đang làm lễ bàn
giao ngày 28-4 th́ đài BBC đă nói: "Hôm
nay tại Sài G̣n ông Dương Văn Minh được cử
giữ chức vụ Quyền Tổng thống do ông Trần Văn
Hương trao lại để chuẩn bị cho một cuộc đầu
hàng."
Như thế mọi việc đă được sắp đặt cả, tất cả
chỉ là một tấn tuồng hề chính trị. Nhiều
người không tin tưởng ông Dương văn Minh, họ
cho rằng sau cuộc đảo chính 1-11-1963, cờ đă
đến tay mà ông không phất được th́ chẳng
bao giờ thành công. Khi hai Tướng Thiệu và
Khiêm ra đi hôm 24-4, quân dân đều thất vọng
lớn, ai nấy thừa hiểu số phận của miền Nam
như thế nào, lại nữa hai hôm sau đó, Tổng
Thống Trần Văn Hương hiệu triệu đồng bào về
t́nh h́nh vô cùng bi đát của đất nước, ông
đă khóc lóc trên làn sóng điện về viễn ảnh "cái
núi xương sông máu của thành phố Sài G̣n"
khiến cho quân dân ai nấy mất hết tinh thần.
Phần th́ ta không đủ lực lượng để chống lại
gần 20 sư đoàn Cộng quân, phần v́ đạn dược
thiếu hụt do cắt quân viện, lại nữa trong
hàng lănh đạo nhiều người bỏ trốn như ngày
28-4 các ông Tổng tham mưu trưởng, Tư lệnh
quân đoàn 3 và nhiều ông lớn khác đă "tẩu vi
thượng sách", cha chung không ai khóc... Đài
BBC Luân Đôn cũng tuyên truyền phá hoại
khiến binh sĩ thất vọng chán chường, tinh
thần chiến đấu của quân ta không c̣n nữa.
Lực lượng pḥng thủ dần dần ră ngũ, một số
đơn vị can đảm chiến đấu tới cùng nhưng dù
tinh thần chiến đấu cao tới đâu cũng không
thể địch nổi lực lượng quá đông đảo và hoả
lực hùng hậu của quân thù.
Sau
khi Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng, Quân
khu 4 vẫn c̣n nguyên vẹn 3 sư đoàn chủ lực
và hơn 200 ngàn địa phương quân, một lực
lượng đông đảo chiếm 40% tổng số ĐPQ toàn
quốc. Điều này cho ta thấy rơ sự bố trí lực
lượng của ta sai lầm và phí phạm. Tháng
3-1975, trong khi vùng 1, 2 bị Cộng quân tấn
công vây hăm tơi bời ta vẫn không chịu rút
bớt quân từ Vùng 4 lên yểm trợ tuyến đầu và
cuối tháng 4-1975 khi Sài G̣n như người bệnh
nhân hấp hối cũng vẫn không chịu dốc quân từ
vùng 4 lên đánh xả láng một ván bài chót.
Trận đánh cuối cùng đă kết thúc cuộc chiến
tranh Đông Dương chỉ kéo dài có mấy ngày từ
26-4 cho tới 30-4 -1975, cũng vào ngày này
30 năm trước đó, năm 1945 tại Bá Linh quân
Đức đầu hàng Nga. Sài G̣n tái diễn lịch sử
nước Đức Thế Chiến Thứ Hai, có khác chăng
tại Bá Linh giới lănh đạo không bỏ trốn và
ép buộc quân đội của họ chiến đấu tới người
lính cuối cùng.
Kể
từ ngày Cộng quân đánh chiếm quận Đức Lập
9-3-1975 và Ban Mê Thuột 10-3 để mở đầu
cuộc Tổng công kích cho tới 30-4-1975, ngày
kết thúc chỉ vỏn vẹn có năm mươi mấy ngày.
Vơ Nguyên Giáp ra lệnh tấn công quân Pháp
tại Hà Nội nửa đêm 19-12-1946 là ngày khởi
đầu cuộc chiến tranh dài nhất của thế kỷ đến
trưa ngày 30-4-1975 là ngày kết thúc tính ra
đă gần 30 năm.
Theo thời gian những bí mật dần dần được
tiết lộ, trận chiến mất nước 1975 đă được
sắp đạt sẵn y như một vở tuồng hề, Việt Nam
đă trở thành băi chiến trường tan nát v́ bom
đạn, tệ hại hơn thế nữa, nó đă trở thành món
hàng mua bán đổi chác giữa các thế lực siêu
cường .
Trọng Đạt
Tài Liệu Tham Khảo:
Nguyễn Đức Phương: Chiến Tranh Việt Nam Toàn
Tập, 1963-1975, Làng Văn 2001.
Nguyễn Đức Phương: Những Trận Đánh Lịch Sử
Trong Chiến Tranh Việt Nam, 1963-1975, Đại
Nam, 2000.
Phạm Huấn: Những Uất Hận Trong Trận Chiến
Mất Nước 1975, Cali 1988.
Phạm Huấn: Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975,
Cali 1987.
Nguyễn Kỳ Phong: Vũng Lầy Của Bạch Ốc (Người
Mỹ Và Chiến Tranh Việt nam 1945-1975) Tiếng
Quê Hương 2006.
Nguyễn Tiến Hưng: Khi Đồng Minh Tháo Chạy,
Hứa Chấn Minh xuất bản, 2005.
Văn Tiến Dũng: Đại Thắng Mùa Xuân, nhà xuất
bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội 2005.
Đinh Văn Thiên: Một Số Trận Đánh Trước Cửa
Ngơ Sài G̣n, nhà xuất bản Quân Đôi Nhân Dân,
Hà Nội 2005.
Dương Đ́nh Lập, Trần Minh Cao: Cuộc Tổng
Tiến Công và Nổi Dậy Mùa Xuân 1975, nhà xuất
bản tổng hợp TPHCM 2005.
Hoàng Lạc, Hà Mai Việt: Việt Nam 1954-1975,
Những Sự Thật Chưa Hề Nhắc Tới Texas 1991.
Lam Quang Thi: Autopsy The Death Of South
Vietnam, Sphinx publishing 1986.
The World Almanac Of The VietNam War: John
S.Bowman, General editor, A Bison book.
Stanley Karnov: Vietnam - A History,
Penguin books 1991.
Marilyn B Young, John J. Fitzgerald, A.Tom
Grunfeld: The Vietnam War, A History In
Documents, Oxford University press 2002.
Lâm Lễ Trinh: Tổng Thống Hai Ngày Dương Văn
Minh, Người Việt Dallas 30-6-2005.
Trần Việt Đại Hưng: Một Bí Ẩn Cần Tiết Lộ
Trong Chuyện Bức Tử Miền Nam 1975, Sài G̣n
Nhỏ Dallas 2002.
Lữ Lan: Cuộc Chiến 30 Năm NH́n Lại Từ Đầu,
Sài G̣n Nhỏ Dallas 28-4-2006.
Lê Quang Lưỡng: Thiên Thần Mũ Đỏ Ai C̣n Ai
Mất, Người Việt Dallas 7-10-2005.
NgườiMỹ Và Chiến Tranh Việt Nam, Người Việt
Dallas 21-6-2006.
Lâm Lễ Trinh: Mạn Đàm Với Đại Tướng Cao Văn
Viên, Về Nguồn, Thuỷ Hoa Trang 2006.
Hồ Đinh: Cơn Phẫn Nộ Cuối Cùng Của Một Quân
Đội Bị Phản Bội, Người Việt Dallas
23-12-2005.
Lewis Sorley, Lịch Sử Quân Lực Việt Nam Cộng
Hoà, Trần Đỗ Cung dịch, Người Việt Dallas
22-11-2006.
Cao Văn Viên: Tuyến Đầu Vùng Một Thất Thủ,
Thằng Mơ Sacramento, số cuối tháng 4-2006.
Mường Giang: Tiểu Khu B́nh Thuận Và Tháng
4-1975 Đẫm Máu Và Nước Mắt, Sài G̣n Nhỏ
Dallas cuối tháng 4-2005.
Hồ Đinh: Sư Đoàn 18 Bộ Binh Và Những Ngày Tử
Chiến Tại Xuân Lộc, Sài G̣n Nhỏ Dallas cuối
tháng 4-2005.
Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà (RVNAF 1968-1975,
Bill Laurie) , Nguyễn Tiến Việt dịch, Con
Ong Việt số 71, tháng 5 -2006.
Trần Trung Đạo: 30 Năm Nh́n lại, Con Ong
Việt số 60, tháng 5-2005.
Hải Triều, Trung Nghĩa: Bán Tiểu Đội Biệt
Cách Dù & Trận Đánh Chớp Nhoáng Sau Lệnh Đầu
Hàng 30-4-75, Sài G̣n Nhỏ, cuối tháng
4-2006.
Nguyễn Văn Lục: Đi T́m Thời Gian Đánh Mất,
30-4-1975, 30-4-1976, 30-4-2007, Sài G̣n
Nhỏ Dallas, 6-4-2007.
Lê Ngọc Danh: Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam, (bút
kư của sĩ quan tuỳ viên Tướng Nguyễn Khoa
Nam), Bút Việt 28-4-2006.