SƯ Đ̉AN 18 và NHỮNG NGÀY
TỬ CHIẾN TẠI XUÂN LỘC
Hồ Đinh – KBC4424
Thiếu tướng Lê Minh Đảo (T ư
Lịnh S ư Đoà n 18 B ộ Binh) Chiế n trường Xuân Lộc 1975
Kính tặng Sư
Đ̣an 18BB, riêng Trung Đoàn 43BB Và Thiếu Tá Nguyễn Hữu
Chế (TĐT/2/43)
Qua những tài liệu lịch sử đă bật mí, nên ngày nay ai
cũng biết, trong suốt cuộc chiến Đông Dương lần thứ 2
(1960-1975), người Mỹ gần như cung cấp cho VNCH, tất cả
vũ khí, quân trang, tiền bạc và những hệ lụy của cuộc
đời mà bi thảm nhất là sự mất nước vào tạy cộng sản quốc
tế.
... Theo sự chỉ trích gay gắt của Đô đốc Sharp, trong
cuốn ‘Strategy for defeat‘, vị tư lệnh đầu tiên của Đồng
Minh tại Thái B́nh Dương, th́ sự thất trận tại VN vào
ngày 30-4-1975, rơ ràng là cố ư, do những tên đầu nảo
dân sự, ngồi tại Hoa Thịnh Đốn, tự trói một tay của quân
lực Hoa Kỳ và Nam VN, trong khi họ đang tử chiến với
khối cộng sản đệ tam quốc tế, qua tấm b́nh phong, mang
tên Bắc Việt. Trên tạp chí Encounter tháng 8-1981, kư
giả người Mỹ Robert Elegant, cũng đă hài tội bọn trí
thức, khoa bảng và truyền thông Tây phương thiên tả, đă
dùng vũng bùn văn, báo, truyền h́nh của ḿnh, để giúp
cộng sản đánh bại nước Mỹ. Ông đă chua chát nói thẳng
với thế giới rằng: ’Bắc Việt đă thảm bại trên chiến
trường nhưng cuối cùng ngày 30-4-1975, người Việt quốc
gia, đă phải mất nước tại Hoa Thịnh Đốn, Nữu Ước, Ba Lê,
Luân Đôn, Huế và Sài G̣n, v́ trận giặc báo chí, từ những
cái miệng thúi vô liêm sỉ, chuyên bẻ cong ng̣i bút, dựng
đứng câu chuyện, để hại người. ‘
Ngày nay ai cũng biết hết những thành tích của QLVNCH,
qua thời gian tồn tại suốt 20 năm máu hận (1955-1975)
giữa biển thù trời lệ, giặc ngoài, giặc trong, giặc đâm
sau lưng chiến sĩ, ngay cả trong lời kinh tiếng kệ và
những ngón tay lần hạt đỏ, đen. Cũng nhờ người lính VNCH
đă can trường anh dũng, trong suốt cuộc chiến, cho tới
giờ phút cuối cùng tháng 4-1975, bị Dương văn Minh quyền
tổng tư lệnh, dùng kỷ luật quân đội, bắt mọi người đầu
hàng giặc, mới phải buông súng tan hàng. Nhờ vậy, mà một
thế hệ sau của VN ngày nay tại hải ngoại, mới có cơ hội
ngẩng mặt nh́n trời, lấy lại sự hănh diện của cha anh
trong cuộc sống lưu vong uất hận trùng hằng.
Tóm lại như b́nh luận của Luật sư Lawrence L.O’Brien
trên The Wall Street Journal vào ngày 25-1-1983, chứng
minh là từ sau ngày kư hiệp định ngưng bắn tháng 1-1973,
nước Mỹ và quốc hội Hoa Kỳ, do đảng dân chủ phản chiến
cầm chịch, kể cả cái gọi là Liên-Hiệp-Quốc, gần như ra
mặt bưng bợ cộng sản. Bởi v́ phần lớn, họ đă bị Nixon,
Kissinger và Việt Cộng , dụ gạt, lừa bịp, dễ dàng như
lừa con nít, qua cái thủ đoạn xảo quyệt, được tiếp tay
công khai bởi bọn nhân danh, khoa bảng, trí thức ăn hại,
khôn nhà dại chợ của miền Nam lúc đó . Năm 1944, người
Mỹ điều động 5000 quân xa, để chuyển Lộ quân 1 và 2 của
Đồng Minh, xuyên nước Pháp, đánh Đức. Lúc đó và về sau,
người Mỹ khoe là thành tích vĩ đại, để cho ai cũng biết
và khen ngợi.
Nhưng tại chiến trường Đông Dương, từ 1960-1975, khối
cộng sản quốc tế, đă dùng 10.000 xe bộ đội, để đưa 20 sư
đoàn từ Bắc Việt vào xâm lăng Miền Nam VN, qua đường
rừng Trường Sơn. Rồi nhờ cái loa tuyên truyền của trí
thức Miền Nam, đâm mù thế giới, nên rốt cục ai cũng tin
và bảo đó là lực lượng của quân cách mạng Mặt Trận Giải
Phóng Miền Nam. Tất cả đều là thực chất của một cuộc
chiến vừa đánh, vừa đàm hay đúng hơn là hành động con
buôn chính trị của siêu cường Mỹ, giờ chót bán đứng Đồng
Minh VNCH cho kẻ thù, đổi lấy sự liên kết chiến lược với
Trung Cộng, gỡ lại lời vốn đă tiêu phí tại chiến trường
nhiều trăm tỷ đô la và ngàn ngàn sinh mạng. Phải biết
như vậy, chúng ta mới đánh tan được cái huyền thoại, tại
sao Miền Nam sụp đổ chỉ có 55 ngày và cuối cùng, xin
thương xót cho thân phận những người đă cầm súng chiến
đấu tại miền Nam suốt 20 năm qua, quanh quanh chỉ là kẻ
thù và khung cảnh xă hội vô ơn bạc bẽo. Đời sống của
lính và vợ con, nhất là khi lính nằm xuống hay bị thương
đui, què, tàn phế, có thua ǵ kiếp sống của gia cầm, vậy
mà cứ bảo Lính ḿnh đánh thuê cho giặc Mỹ ? Tồi tệ hơn
hết khi đi t́m sự thật, là câu chuyện người Mỹ trong lúc
bỏ tháo chạy, đă dùng cái thủ đoạn ‘ăn không được phải
phá nát bấy’, khi đưa cái bă vật chất an toàn, làm mồi
để dụ dỗ một số cấp chỉ huy của QLVNCH, nhất là không
quân, đào ngũ bỏ đơn vị, đem máy bay trả lại để được tới
Hoa Kỳ. Chính sự tồi tệ trên, đă góp phần phá hủy tinh
thần chiến đấu của quân lực VNCH, trong lúc nguy ngập.
Sau rốt là việc sử dụng bom CBU đâu có trái với qui ước
chiến tranh đă kư kết. Theo hai kư gia người Pháp thân
cộng là Jean Lartégui và Pierre Darcourt, đă chứng kiến
cảnh quân Bắc Việt bị chết ngạt tại Xuân Lộc, v́ bom
này, đă viết: ’Miền Nam sẽ không mất, nếu Mỹ thả tiếp
vài chục trái CBU vào đoàn quân xâm lược, đang công khai
di chuyển trên các quốc lộ, thế nhưng Hoa Kỳ đă không
làm ‘.
Mới đây, trong tác phẩm ‘55 days of the fall of South
Vietnam’, tác giả Alan Dawson, có nhắc tới hai tiểu đoàn
c̣n lại của Nam VN, chừng 600 người, giữa trùng vây của
Bắc Việt, sau khi QLVNCH được lệnh rút bỏ Xuân Lộc.
Chuyện có thật nhưng Alan viết sai dữ kiện, v́ giờ chót
rút quân, không có một đơn vị nào, kể cả Nghĩa quân, bị
buộc ở lại để bảo vệ Xuân Lộc, lúc đó không c̣n giá trị
chiến lược, v́ Bắc Việt đă t́m đường khác để tiến quân
về Sài G̣n. Đơn vị bị kẹt lại, đó là Tiểu Đoàn 2, Trung
Đoàn 43, SD 18BB, do Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế làm Tiểu
Đoàn Trưởng. Trong suốt những ngày tử chiến tháng
4-1975, TD2/43/18 có nhiệm vụ đóng trên Núi Thị, ngoại ô
thị xă Xuân Lộc, để bảo vệ dàn pháo của Sư Đoàn. Khi
Tướng Lê Minh Đảo, tư lệnh Mặt Trận Long Khánh, nhận
lệnh của Bộ Tổng Thanm Mưu QLVNCH, qua lệnh trực tiếp
của Trung tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn 3,
ngay tại mặt trận, ‘BỎ LONG KHÁNH’ và triệt thoái tất cả
các đơn vị đang chiến đấu, gồm SD18BB, Tiểu Khu Long
Khánh, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, Biệt Động Quân... th́ Tiểu
Đoàn 2/Trung Đoàn 43/SD18BB là đơn vị cuối cùng, trong
cuộc rút quân, v́ c̣n có nhiệm vụ đánh nghi binh, chận
đường, để giúp đại quân an toàn trở về cơi sống, nên bị
thiệt hại nặng nề. C̣n luật sư Nguyễn văn Chức th́ dựa
vào tài liêu của Hoàng Cơ Thụy và Frank Snepp, nên nói
trực thăng tới bốc 4 tiểu đoàn c̣n lại của SĐ18BB, trong
đó có Tướng Tư Lệnh Lê Minh Đảo, Đại Tá Trung Đoàn
Trưởng TrĐ43/18 là Lê Xuân Hiếu, v́ vậy bị 40.000 bộ đội
Bắc Việt tràn ngập. Thật sự trong cuộc lui quân, từ
tướng xuống tới hàng binh sĩ, không có ai được trực
thăng tới bộc về, mà tất cả đều hành quân bộ. Lúc các
cánh quân VNCH, hầu hết đă về gân như an toàn tại B́nh
Giả, Phước Tuy,th́ TD2/43’18BB, chỉ một ḿnh c̣n trong
biển giặc như Alan Dawson mô tả. Sự thật là vậy đó, các
nhân chứng như tướng Đảo, các Đại Tá Lược, Lến, Hiếu.
Dũng, Công... của SD18), Đại Tá Phạm Văn Phúc-Tỉnh
Trưởng Long Khánh, Đại Tá Đính, Lữ Đoàn Trưởng Lữ Đoàn 1
Nhảy Dù, các Tiểu Đoàn Trưởng thuộc SD18BB, có tham dự
trận đánh và cuộc lui quân như Nguyễn Phúc Sông Hương, Ư
Yên-Phan Tấn Mỹ, Đại Uư Lê Sơn, Chi Đoàn Trưởng Thiết
Đoàn 5 Kỵ Binh, các Đại Uư Đặng Phúc (Biệt Đội Quân
Báo), Ngô Gia Hậu (Phóng Viên), Nguyễn Hào (Pḥng
3.SD)... và nhất là Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế, Tiểu Đoàn
Trưởng Tiểu Đoàn 2/TrD43/SD18BB, người từ cơi chết trở
về, vào tù tại Bắc Việt và tới Mỹ qua diện HO... đều là
những nhân chứng sống, có đủ tư cách, để nói và viết
những sự thật lịch sử.
Tóm lại, đến giờ này, sự đau đớn nhất của người Lính
Miền Nam, là thấy cái thân phận bọt bèo của chính ḿnh,
cứ bị đem ra mổ xẻ rao bán, bởi những người không hề
biết ǵ về thực chất của đời lính, dù họ có là lính.
Nhưng lịch sử vẫn là lịch sử, câu chuyện sử gia số 1 của
nước Mỹ là giáo sư Joseph J.Ellis, tại Đại Học Mount
Holyoke, vừa bị nhà báo Walter V. Robinson, lột mặt nạ
trong bài báo ‘Professors past in doubt ‘, đăng trên tờ
Boston Globe ngày 18-6-2001, về những đề tài có liên
quan tới Chiến tranh VN và sự Ellis dù ở trong quân đội
Mỹ nhưng chỉ ngồi dạy học ở Hoa Kỳ, nên đă mao tôn
cương, khi viết trận đánh không có đại bàng. Mới đây là
bài học thất cử của ứng cử viên tổng thống Mỹ, thượng
nghị sĩ John Kerry, cũng do chính khẩu nghiệp, đă làm
hại thân ḿnh. Việt Cộng và những kẻ lừa đảo ng̣i bút,
đă đến lúc phải đối mặt với những tra vấn của lương tâm,
trong cuộc chiến VN vừa qua, v́ cuộc chiến đấu thần
thánh của QLVNCH, trách nhiệm bảo vệ quê hương, trong đó
có SD18BB, LD1 Dù, BDQ, DPQ và NQ Long Khánh.. vào những
ngày cuối tháng 4-1975, là câu chuyện lịch sử, trong
ḍng sinh mệnh của Dân Tộc Hồng Lạc, miên viễn sẽ không
bao giờ bị phủ nhận của bất cứ một ai, qua thời gian hay
miệng lưỡi nào, kể cả những lỗ miệng có gan có thép, nhổ
ra nuốt vào của bọn văn cộng giặc cộng.
1-THÂN PHẬN NGƯỜI LÍNH VNCH
TRONG 20 NĂM CHINH CHIẾN (1955-1975)
Sau ngày 30-4-1975, quê hương của người Việt quốc gia bị
cộng sản quốc tế dô hộ hoàn toàn từ nam ra bắc, mọi
người mới sáng mắt thấy rằng, không có một lănh tụ nào
của đảng, từ Hồ Chi Minh xuống tới chàng du kích, biết
coi trọng sinh mạng của người dân, bởi v́ nguyên tắc
thành công của cộng sản, là chỉ có thẳng tay bắn giết ,
th́ mới có sự phục tùng. Riêng chuyện dài VN, v́ chính
người dân lúc trước tự xiềng xích ḿnh, để chui vào
thiên đàng xă nghĩa, cho nên nay, cũng chỉ có người dân,
tuy thầm lặng đứng bên vệ đường thời gian, nhưng lại là
động lực chính, bẻ găy được khóa cổng thiên đường mù, để
trở về cuộc sống tự do no ấm của con người.
Ngày nay, mỗi lần đọc lại lịch sử, cảm thấy ngùi ngùi và
thương xót biết bao cho dân tộc ḿnh, bỗng dưng trở
thành nhược tiểu, v́ cả nước mù quáng nên bị Hồ Chí
Minh, thắng một vụ lừa bịp bẩn thỉu nhất, trong ḍng sử
Việt, từ vụ cướp chính quyền tháng 8-1945, cho tời sự
lănh đạo của cộng sản trong chín năm kháng Pháp. Cũng từ
đó, người Việt quốc gia coi như đứng trước ngă ba đường
sinh mệnh và dù có chọn lối nào chăng nữa, rốt cục cũng
chỉ dẫn tới địa ngục mà thôi.
Năm 1951, thống chế De Lattre de Tassigny sau khi chận
đứng Việt Minh tại Vĩnh Yên, Bắc Việt, đă lên lớp người
Việt lúc đó thụ động, hèn nhát, không chịu ra chiến
trường để bảo vệ quê hương ḿnh. Trong cuộc chiến Đông
Dương lần 2 (1955-1975), thế giới bên ngoài, qua tuyên
truyền từ báo chí của VC và truyền thông Mỹ, Tây Phương,
nên đă đánh lận cuộc xâm lăng của cộng sản quốc tế,
thành một tấn tuồng chống ngoại xâm của Hà Nội. Nữ kư
già Ư là Oriana Fallaci, trước trận mùa hè đỏ lửa 1972,
khi tới Hà Nội phỏng vấn, Vơ Nguyên Giáp, mới biết Bắc
Việt đă nướng trên 800.000 sinh mạng bộ đội tại Miền
Nam, trong thời gian qua, trước khi tiếp tục nướng trong
trận hè đỏ lửa 1972 và địa ngục Xuân Lộc tháng 4-1975.
Điều này cho thấy là Cộng Sản không bao giờ thiếu nhân
lực, tiếp tế lẫn t́nh báo. Ngược lại th́ mai mỉa biết
bao, trong cách đối xử của người dân ta đối với phe
ḿnh, nhất là những vùng bị giặc tạm chiếm hay là xôi
đậu. Nói chung, Chính phủ VNCH trong suốt 20 năm, cố
gắng gần như tuyệt vọng, chỉ mong mang lại cơ hội sống
tự do, no ấm cho người dân, nhưng giống như ngày trước,
v́ quá khao khát độc lập, nên người dân đă khoán trắng
cho họ Hồ và đảng. Lần nữa, trong cuộc chiến, họ cũng bỏ
mất cơ hội cuối cùng. Nói như vậy để mọi người thấy rơ
thân phận của người Lính Miền Nam, qua tấm ḷng hy sinh
cao cả, trong gần một phần tư thế kỷ, phải chiến đấu ở
một chiến trường bất hạnh, thù nghịch, dù rằng những
người Lính ấy, đă phải đem cái mạng sống cùng với hạnh
phúc của cá nhân và gia đ́nh ḿnh, bảo vệ làng xóm, chùa
nhà thờ và sinh mạng của người dân miền Nam, trong đó có
nhiều kẻ đang chực chờ giết hại Lính. Dù vậy, bao nhiêu
xương máu của QLVNCH nói chung, đă hy sinh vô cùng ư
nghĩa, phần nào đă mang đến no âm tự do cho mọi người,
dù chính quyền quốc gia chưa được toàn hảo trọn vẹn như
mong muốn, trong thời gian 1955-1975.
Ra đời từ năm 1950 nhưng quân đội Quốc Gia VN, coi như
chỉ được chính thức nh́n nhận bằng văn kiện hành chánh,
trong ngày Quân Lực 19-6-1965. Sự nghịch lư này, phần
nào nói lên những bất hạnh chồng chất, đă và sắp tới với
một quân đội mang đầy máu lệ, ngay từ ngày thành lập. Sự
lộng hành của báo chí và truyền thông Mỹ, gần như trong
suốt cuộc chiến, đă trút hết căm hờn lên quân đội VNCH,
làm tác hại ghê gớm đến tinh thần chiến đấu của người
lính, đến nỗi nhà báo Mỹ là Robert Elegant phải ngao
ngán viết rằng, chiến tranh VN trước hết đă thua trong
trận giặc miệng và nước bọt tại hậu phương.
Ngày 17-4-1961, tổng thống Mỹ John F Kenedy, nghe xúi
dại của CIA, dưa 1000 quân đổ bộ lên đảo Cuba, lật đổ
Trùm Fidel Castro nhưng kế hoạch Bay of Pigs hoàn toàn
thất bại, lực lượng đổ bộ bị bắt sống gần hết và Mỹ phải
đem máy cầy cùng xe ủi đất, chuộc tù binh về. Thua me gỡ
bài cào, Kenedy đem con thiêu thân Nam VN làm vật tế
thần, gỡ thể diện. Sứ mệnh này, được giao cho Đại Tá
Lansdale, mở cuộc chiến tranh bí mật (The Secret War)
tại miền bắc VN và Lào, nói nôm na là màn đem con bỏ
chợ. Tiếp tới là sự ngây thơ của Mỹ, dại dột kư thỏa ước
trung lập Lào, giúp Bắc Việt mượn đường xăm lăng miền
Nam. Cuối cùng là gởi 12.000 cố vấn sang Nam VN, sau khi
bị Trùm đỏ Liên Xô là Khrushchev nhục mạ tại bàn hội
nghi thượng đỉnh. Tóm lại như Edward Weintal và
CharleBarlett viết trong ‘Facing the Brink‘, th́ Kenedy
đă nghĩ rằng đưa vài chục ngàn cố vấn vào VN, để buộc Hà
Nội từ bỏ mộng cuồng xâm nhưng đó lại là sự điên rồ, để
cho giặc có cái cớ, gây chiến tranh xâm lược VNCH mà
thôi. Máu VN bắt đầu đổ từ đó, bởi sự ngông cuồng lếu
láo của tổng thống Mỹ.
Với tổng thống Lyndon Johnson, th́ t́nh trạng VN càng
thê thảm hơn, v́ rơ ràng khi lên thế chức tổng thống Hoa
Kỳ, thay Kenedy bị ám sát, Johnson chỉ v́ rất sợ bị đảng
Cộng Ḥa buộc tội quá nhu nhược khi đương đầu với cộng
sản, nên đă đưa nước Mỹ và Miền Nam VN vào một cuộc
chiến tranh kỳ lạ nhất trong lịch sử , với sách lược
‘không cho thắng‘. Như John Fisher, đô đốc của Anh đă
viết: ’thực chất của chiến tranh là tàn bạo, đánh giặc
mà cầm chừng là ngu xuẩn, nên muốn đạt chiến thắng, phải
đánh mạnh và đánh khắp nơi‘. Theo các nhà quân sử, trong
chiến tranh VN, Mỹ chỉ cần phong tỏa đường biển, oanh
tạc biên giới Việt-Hoa-Lào và cho lệnh QLVNCH tấn công
trả đũa vào Bắc Việt, th́ giặc đă yên từ lâu. Nhưng
Johnson th́ làm ngược lại, hạn chế tối đa các mục tiêu
trên lănh thổ Bắc Việt, với lư do sợ chọc giận Bắc Kinh.
Tại Lào, các căn cứ của Bắc Việt được coi là bất khả xâm
phạm, cấm tấn công. Đồng thời Johnson đưa đề nghị viện
trợ kinh tế, dụ Việt Cộng chấm dứt xâm lăng Miền Nam,
nên đă bị giặc Cộng khinh bỉ xem thường, v́ đă biết được
con bài tẩy ‘kém nhất’ trong quân bài Domino, chính là
siêu cường Hoa kỳ, mà khối cộng sản lúc đó ngạo là con
cọp giấy...
Với tổng thống đảng cộng ḥa Richard Nixon, ngoài bệnh
chủ quan, tự tin, tự tôn của Kennedy, Johnson c̣n là một
tổng thống Mỹ liên hệ sâu đậm nhất trong chiến tranh VN,
bị kết tội là kẻ xảo quyệt, bội tín, bất nhân, nên dân
chúng Mỹ ghét nhất. Do thành tích bán đứng Nam VN cho
cộng sản đệ tam quốc tế vào ngày 30-4-1975, cũng như tội
đă liên kết với trùm đỏ Mao Trạch Đông năm 1972, v́ lợi
lộc của Mỹ mà phản bội thế giới tự do, nhân quyền, nên
sau 25 từ chức tổng thống, được các nhà báo Mỹ xếp hạng,
chỉ đứng trên tổng thống trốn quân dịch là Bill Clinton.
Thành tích khôi hài nhất của cặp Nixon-Kissinger là chủ
thuyết ‘Nixon’, hay ‘VN hóa chiến tranh’, thực chất là
cuộc chạy làng, bỏ bạn, vô liêm sỉ của một siêu cường số
1 lúc đó và ngay cả bây giờ. Nói rơ hơn, Nixon chỉ v́
quyền lợi cá nhân, nên tuyên bố ‘đơn phương’ rút quân,
trong lúc đang hợp đồng chiến đấu với nhiều quốc gia
khác. Đây là một sự lố bịch và c̣n tàn nhẫn đối với sự
sống chết của VNCH. Trước tin này, Hà Nội chỉ cần ngồi
chờ để thừa cơ đánh lén. Riêng những màn dội bom và đánh
vào mật khu Mỏ Vẹt tại Kampuchia năm 1970, Hạ Lào 719
cũng là những tṛ bịp, dùng máu xương của QLVNCH lót
đường cho cặp Nixon-Kissinger, mua thời gian cho quân Mỹ
về nước sớm hơn hai năm, trước khi Nixon tái ứng cử vào
năm 1972. Trong hồi kư ‘A Sldier’s Report‘ của tư lệnh
Mỹ tại VN, tướng Westmoreland đă vô cùng cảm phục và
thương xót người lính VNCH, tham dự trong chiến dịch Lam
Sơn 719. Ông đánh giá cao QLVNCH, khi cho biết, chính kế
hoạch này là của Kissinger, định dùng 60.000 quân Mỹ
nhưng rồi thấy không chắc thắng trận, nên đă bỏ ư định
và bắt ép tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thi hành. Theo sử
liệu, trong trận này, VNCH chỉ có 17.000 quân và dù bị
tổn thất nặng, do Mỹ thất hứa không yểm trợ đủ hỏa lực
pháo và không yểm, nhưng Sư Đoàn 1 Bộ Binh cũng đă đạt
được mục đích cuối cùng, là đặt chân vào cứ điểm
Tchepone như Nixon mong muốn.
Tóm lại suốt cuộc chiến 1960-1975, người Mỹ lúc nào cũng
muốn QLVNCH chiến thắng cộng sản quốc tế, trong khi
chính ḿnh không làm được. Vô lư hơn là bó buộc người
lính Miền Nam phải chiến đấu, trong khi không cung cấp
đầy đủ vũ khí, quân dụng, kể cả việc ngăn cấm không cho
tấn công giặc. Chưa hết, chỉ vài ngày sau khi Nixon nhậm
chức tổng thống lần 2, th́ quốc hội đảng dân chủ Hoa kỳ,
đă cắt xén những hứa hẹn mà Nixon hứa với Nam VN trước
khi VN hóa. Tồi bại nhất là quốc hội của đảng dân chủ,
đ̣i Nixon phải tiết lộ bí mật quốc pḥng, để kịp báo cho
Hà Nội, tấn công VNCH. Cuối cùng lư do mà Việt Cộng phải
kư với Mỹ tại Ba Lê tháng 1-1973, nói chung là không c̣n
chịu nổi những đợt oanh tạc khủng khiếp và hàng rào thủy
lôi quanh hải cảng Hải Pḥng nhưng trên hết, theo tố cáo
của nhân chứng Stephen Young, v́ cặp Nixon-Kissiger cam
kết với VC, là sẽ không đ̣i quân Bắc Việt rút về lại bên
kia vỹ tuyến 17 như tinh thần hiệp định Genève 1954, nên
Hà Nội mới kư THỎA HIỆP BỊP, c̣n Mỷ th́ kư BẢN KHAI TỬ
VNCH.
Sau này chính Stephen Young đích thân tới hỏi Nixon, có
biết Kissinger tự ư sửa ‘Bản đề nghị ngưng bắn của đại
sứ Mỹ ở VN là Bunker không‘, Nixon trả lời ‘KHÔNG‘. Một
điều bí mật khác, là Kissinger trong thời gian hành sử
chức vụ Tổng Trưởng Ngoại Giao và Cố Vấn An Ninh Quốc
Gia cho TT. Mỹ, đă hoàn toàn học theo đúng sách lược của
tên điệp viên Pháp thân cộng Jean Saintery (đại diện phe
De Gaulle năm 1945 ), một kẻ đă từng hợp tác với Hồ Chi
Minh, để thực dân Pháp công khai trở lại Bắc Việt năm
1946. Chính Saintery đă chỉ dậy bài bản, giúp Kissinger
bán đứng Nam VN cho Hà Nội, gián tiếp trả thù việc chính
phủ VNCH theo Mỹ, hất chân thực dân ra khỏi đất Việt.
Cũng liên quan tới Người Lính VNCH, qua tài liệu của
MACV mới phổ biến, cho biết, suốt cuộc chiến, Nam VN đă
có nhiều binh sĩ đào ngũ nhưng đó lại là một điều rất kỳ
lạ, v́ Lính đào ngũ không phải để đầu hàng Việt Cộng, mà
họ muốn trở về nguyên quán đầu quân vào các đơn vị địa
phương, để chiến đấu gần gia đ́nh ḿnh. T́nh yêu quê
hương của người Việt là vậy đó, chỉ khi nào không c̣n
con đường nào khác để lựa chọn, họ mới đành gạt lệ bỏ xứ
mà trong đau khổ. Cho nên đâu lạ, năm 1954, chia đôi đất
nước, không riêng ǵ 300.000 binh sĩ và gia đ́nh của
Quân đội Quốc Gia, mà c̣n cả triệu người dân b́nh thường
khác, đứt ruột, ĺa nơi chôn nhao cắt rún ở miền Bắc, để
di cư vào Nam, v́ họ không muốn sống chung với cộng sản
bạo tàn. C̣n Dwight Owen cố vấn Mỹ th́ nói QLVNCH không
có những thứ tối thiểu mà các quân đội nước khác có, từ
lương bổng, khẩu phần hành quân, nghĩ phép... tới t́nh
thương làng xóm. Chính những điều này làm giảm sút tinh
thần và hiệu năng chiến đấu. Nhưng tất cả cũng đều là
phép lạ, khiến cho người lính Miền Nam vẫn tiếp tục
chiến đấu cho đến giờ phút cuối cùng tại Sài G̣n, trong
khi Quân Đoàn 4 vẫn an toàn và chờ Chính phủ trung ương
di chuyển tới, để lại tiếp tục chiến đấu, th́ có lệnh
buông súng đầu hàng giặc.
Tổng thống Nixon những ngày cuối đời, trong tác phẩm ‘No
more Vietnams‘ nói rằng nếu tin vào báo chí Hoa kỳ, th́
VNCH không c̣n tồn tại sau khi Mỹ rút quân hoặc khi Mỹ
chưa tới giúp. Điều này cho thấy QLVNCH rất anh dũng,
kiêu hùng và qua những bản phân tích quân sự khách quan,
th́ lính miền nam giỏi gấp 10 lần bộ đội miền bắc về mọi
mặt, kể cả nhân cách và t́nh người. Phân tích gia Allan
Goodman, năm 1983 trong cuộc hội thảo đề tài rút kinh
nghiệm chiến tranh VN, quy tụ 50 học giả, tại
Smithsonian Hoa Kỳ, đă ca tụng tinh thần chiến đấu anh
dũng của người lính miền nam, họ đă tử trận trên 200.000
người và hơn nửa triệu thương binh. Nhưng có lẽ mai mỉa
nhất là lời của Lewis Walt, tướng Thủy Quân Lục Chiến
Hoa Kỳ đă viết:
‘Không phải ngồi biểu t́nh, ăn
chơi, trốn lính đi tu hay làm báo, viết văn, lấy Mỹ tại
Sài G̣n-Huế, mà có một con số chết và bị thương như
vậy’.
2-SƯ ĐOÀN 18BB VÀ CÁC ĐƠN VỊ
TĂNG VIỆN,
TỬ CHIẾN VỚI CỘNG SẢN QUỐC TẾ TẠI
XUÂN LỘC THÁNG 4-1975:
Sau ngày Sài G̣n thất thủ, ngày 2-5-1975 Peter Kahn chủ
bút Wall Street Journal, giải báo chí Pulitzer, đă viết
bài truy điệu Nam VN đăng trên báo này ‘Quả
thật sau cùng, quân lực VNCH đă ră ngũ v́ tuân theo lệnh
của tổng tư lệnh quân đội lúc đó, là tổng thống hai ngày
Dương Văn Minh. Nhưng đó không phải là một quân lực hèn
nhát hoặc vô dụng, v́ có một vài phần tử quan quyền đào
ngũ chạy theo Mỹ. Sự thật, quân đội VNCH rất vững mạnh
và chiến đấu dũng cảm khắp các mặt trận, đặc biệt là từ
mùa hè đỏ lửa 1972 tại Quảng Trị, Kon Tum, B́nh Định và
An Lộc. Đó là một quân đội xứng đáng được biết ơn, ca
tụng v́ đă giữ được từng mảnh đất quê hương, trước cuộc
xâm lăng của cộng sản quốc tế, trong nhiều năm qua. Và
cuối cùng vào những tuần lễ chót của tháng tư, khi người
Mỹ đă chấp nhận đầu hàng giặc, th́ người Lính VNCH vẫn
tiếp tục chiến đấu khắp nơi, và mặt trận XUÂN LỘC đă trở
thành mồ chôn tập thể của những kẻ xâm lăng, bạo tàn.
Nhờ vậy, một số người, VN lẫn Mỹ mới có cơ hội trốn chạy
ra ngoại quốc, thoát được cảnh tù đầy địa ngục, chốn
nhân gian cùng khốn tận tuyệt của cơi đời, khi rợ Hồ từ
miền Bắc vào Nam làm chủ. Một số ít này, hiện nay, dù đă
cuối đời nhưng vẫn không giữ nổi khí phách và danh phận
của đấng trượng phu, tướng lănh, trí thức, khi đă quay
lưng phản bội dân tộc, bôi mặt hợp tác với giặc, đề dầy
xéo thêm nỗi đau tận tuyệt của đồng bào ḿnh trong suốt
30 năm quốc hận, đối lấy chút hư danh cặn thừa trong
vũng bùn ô uế xă nghĩa. Đây là những h́nh nộm nói tiếng
người, hằng ngày được VC bêu xấu trên báo chí, để miệng
đời bôi bác rủa trù, chẳng những riêng chúng, mà lây xấu
tới con cái ḍng họ.
Tháng tư ở Long Khánh, trời thường đổ những cơn mưa rào
như trút nước, nhiều lúc lính đang hành quân trong rừng,
có cảm tưởng như ḿnh đang lênh đênh bơi trong biển khổ
của cuộc đời.
Và tháng tư năm 1975, trời h́nh như biết trước cơn băo
táp của miền Nam, nên đổ mưa rất sớm. Trong mưa có gió,
nên khiến cho cả thị xă Xuân Lộc, đỏ ối một màu v́ xác
hoa phượng vĩ ven đường, bị gió mưa dồn dập.
‘... đêm nay Xuân Lộc, vầng
trăng khuyết
như một vành tang trắng đất trời
chân theo quân rút, hồn ta ở
nghe nước La Ngà cuồn cuộn trôi
...em ơi tiếng tắc kè thê thiết
gọi giữa đêm dài quá lẽ loi
chân bước, nửa hồn chinh chiến dục
nửa hồn Xuân Lộc, gọi quay lui..’.
(thơ của Nguyễn Phúc
Sông Hương).
Xuân Lộc là chiếc nôi đầu đời, mà người lính Tiểu Đoàn
1, Trung Đoàn 43 Biệt Lập, của Đại uư Ngô Văn Diệp, từ
miền xa cao nguyên Di Linh, tới hành quân và tru đóng
vào giữa tháng 4-1964, coi như là đơn vị tiền phương
thành lập Sư Đoàn 10 bộ binh vào ngày 16-5-1965, gồm ba
Trung Đoàn biệt lập, kỳ cựu của quân lực VNCH là Trung
Đoàn 43, 48 và 52.
Trung Đoàn 43 bô binh thoát thai từ Trung Đoàn 404 thành
lập tại Phan Thiết ngày 1-8-1954, trước khi biệt lập,
trực thuộc SD5 khinh chiến, từng tham dự các chiến dịch
Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Huệ... tại Nam Phần vào năm
1955. Trung Đoàn 48 bộ binh thoát thai từ Trung Đoàn 203
bộ binh, gồm các tiểu đoàn 47, 702 và 52.
Sau đó cải thành Trung đoàn 48 bộ binh, thuộc Sư Đoàn 16
khinh chiến, gồm các Trung Đoàn 46, 47 và 48. Năm 1958
qua đợt cải tổ, SD16 khinh chiến bị băi bỏ, các Trung
Đoàn 46,47 và 48 trở thành biệt lập. Sau này, Trung Đoàn
47 bô binh cùng với Trung Đoàn 43 qua nhiều lần hoán đổi
đơn vị, để trực thuộc SD23 bộ binh, cuối cùng Trung Đoàn
46 thuộc SD25BB, Trung Đoàn 47 thuộc SD22 BB và Trung
Đoàn 48 thuộc SD18 BB. Riêng Trung Đoàn 52 được thành
lập ngày 1-12-1954 tại Đệ 1 Quân Khu, gồm các Tiểu Đoàn
54 BVN, 704 và 713. Về Trung Đoàn này, ngày 14-2-1968,
tướng Wheeler, chủ tịch Liên quân Mỹ, khi trả lời với
báo chí, trong cuộc điều trần trước Hạ Viện Mỹ, là sáng
nay tướng Westmoreland có báo, là đă tới thăm Trung Đoàn
52 biệt lập, đóng ở phía nam Đà Nẳng, để chúc mừng và
tưởng thưởng cho Họ v́ đă chận đứng được Sư Đoàn 2 Bắc
Việt, trong mưu toan chiếm Đà Nẳng, vào Tết Mậu Thân.
Hai tiểu đoàn nổi tiếng nhất của SD18/BB là TD2/43 của
Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế và TD1/52 của Đại Uư Nguyễn Văn
Út, nhiều lần được vinh danh trước quân đội, v́ thiện
chiến và là đơn vị bắn cháy nhiều xe tăng của Bắc Việt
tại trận địa. Năm 1974, hai chiếc T54 và PT76 của Bắc
Việt, bị hai đơn vị trên bắn cháy, được kéo về làm kiểng
trước sân Dinh Độc Lập, sau khi mất nước, mới bị VC phi
tang.
Sư Đoàn 10 BB sau đổi thành SD18BB vào ngày 1-1-1967 qua
đề nghị của Tư lệnh lúc đó là Chuẩn tướng Đổ Kế Giai. SĐ
mang phù hiệu Nỏ Thần, đang lướt trên hai nền màu xanh
da trời đậm và lợt, tượng trung cho bước chân của lính
trong cơi mông mênh cùng tận, mà Nguyễn Cộng Trứ khi đề
cập tới chí nam nhi, đă viết:
‘tang bồng hồ thỉ nam nhi trái, làm cho bách thế lưu
phương, trước là sĩ sau là khanh tướng‘.
Từ năm
1965-1969 qua các tư lệnh như Đại Tá Nguyễn Văn Mạnh
(16/5/1965-10-8-1965), Chuẩn Tướng Lữ Lan
(10/8/1965-15/9/1966), Đại Tá Đổ Kế Giai
(15/9/66-20/8/69), trong giai đoạn này, Sư Đoàn 18BB bao
vùng Khu 31 Chiến Thuật, gồm các tỉnh B́nh Tuy, Long
Khánh, Biên Ḥa, Phước Tuy và Đặc Khu Vũng Tàu, thuộc
Vùng III Chiến Thuật.
Từ ngày
20-8-1969 tới 4-4-1972, tư lệnh là Thiếu tướng Lâm Quang
Thơ, v́ bị Quân Đoàn III, chia chặt thành từng mănh,
tăng phái khắp nơi, dưới quyền của các SD5 và 25 BB, nên
binh sĩ có mặc cảm là đơn vị trừng giới, khiến cho SD18
BB, bị xếp hạng chót trong bảng xếp hạng đơn vị thuộc
QLVNCH...
Cá sống nhờ nước, lính chiến đấu giỏi khi gặp được cấp
chỉ huy tài ba, can trường, thương lính và trên hết phải
biết lội với lính trước súng đạn... Ngày xưa, qua huyền
thoại, điển tích và sách vở, ta biết giai nhân cùng danh
sĩ, như có duyên nợ với nhau từ tiền kiếp. Dương Chí
Hoán đời Đường, nổi danh nhờ một ca kỷ hát bài Lương
Châu Từ của ḿnh. Tô Đông Pha làm giúp một bài phú cho
ca nhi Triệu Vân, mà lấy được một người vợ tài hoa ư hợp
nhưng cảm động hơn hết, có lẽ là Giang Châu Tư Mă-Bạch
Cư Dị (772-846), trong một đêm mưa rơi tầm tả, tiễn bạn
trên Bến Tầm Dương, t́nh cờ gặp lại người ca kỷ năm nào
nổi danh tài sắc chốn Trường An, qua một bản đàn tuyệt
diệu, Danh Sĩ đă cảm hứng viết Trường Ca ‘Tỳ Bà Hành’ cổ
kim bất hủ.
Trong đời binh nghiệp cũng vậy, suốt cuộc chiến VN,
những nguời lính nhảy dù, biệt kích, thủy quân lúc
chiến, biệt động quân... được đồng bào miền nam thân
thương quen gọi là các thiên thần, bởi v́ hầu hết các
đơn vị trên đă có nhiều cấp chỉ huy tài ba can trường.
Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Đại Tá Ngô
Tấn Nghĩa... luôn ḥa ḿnh với thuộc cấp của
ḿnh tại các tiền đồn hẻo lánh, bên những đơn vị nghĩa
quân, cảnh sát dă chiến, xây dựng nông thôn và địa
phương quân tại chiến trường. Nhờ vậy hai tỉnh Chương
Thiện-B́nh Thuận, bị cộng sản quậy phá nhiều nhất, lại
là hai địa phương an ninh hạnh phúc cho tới 30-4-1975.
Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu (1967-1975) dù bị lịch
sử phán xét thế nào cũng kệ nhưng rơ ràng nhất, ông là
một cấp lănh đạo can đảm, biết chia xẻ gian lao, máu lệ
với người chiến sĩ đang lăn xả trong bom đạn sa trường
nguy hiểm nhất, ngay lúc trận tuyến chưa im tiếng súng,
tại Quảng Trị, KonTum, An Lộc, B́nh Định... Tương tự,
những người lính Nỏ Thần Miền Đất Đỏ, đă tao phùng-kỳ
ngộ với một cấp chỉ huy năng động, thích hợp với những
lính biệt lập 43, 48 và 52 đă từng bị đầy ải khắp mọi
miền đất nước, đâu có khác ǵ các Đơn Vị Biệt Động Quân
Biên Pḥng, Biệt Lập, không biết ai là Cấp Ch́ Huy tối
cao của ḿnh. Đây cũng là một trong những yếu tố then
chốt, đă vực dậy một Đại Đơn Vị sắp quỵ v́ quá nản
phiền. Nhờ đó mà SD18 BB từ đội đít, lần lần dọc ngang
và cuối cùng, đứng ưỡn ngực với các Đơn Vị khác của Quân
Lực trong bảng xếp hạng cuối đời.
Ngày 4-4-1972, Đại Tá Lê Minh
Đảo làm Tư Lệnh SD18 BB, thế Thiếu Tướng Lâm
Quang Thơ. Gọi là Sư Đoàn Trưởng cho oai, chứ lúc đó
quân số c̣n lại của SD18BB vỏn vẹn chỉ có DD18 Trinh
Sát, DD48 Trinh Sát và 1 Tiểu Đoàn của Trung Đoàn 48BB.
Tất cả lính của Sư Đoàn từ Thiết Đoàn 5 kỵ binh, Trung
Đoàn 43, 48, 52 đều bị Quân Đoàn III xử dụng, tận góc
biển chân mây, khiến cho Tư Lệnh SD18BB lúc đó, thật ra
c̣n thua Tiểu Đoàn Trưởng, v́ trong tay không c̣n một
đơn vị nào thuộc về ḿnh., để chỉ huy xử dụng.
Khởi sự từ con số không, Tướng Đảo, một sĩ quan thường
bị cười nhạo là hành chánh v́ quẩn quanh chỉ làm quận
trưởng, tỉnh trưởng. Nhưng đó là một nhận xét có ác ư
ganh tỵ, v́ qua kinh nghiệm lịch sử cận đại VN, không
thiếu ǵ những vị tá, tướng... một đời lăn xả ngoài trận
mạc, vẫn không được đời xưng tụng là tài giỏi.
Để chứng minh
người thật việc thật, tri hành phải hợp nhất, qua việc
hành sử lúc ban đầu, với số đơn vị ít ỏi trong tay, đă
biết khôn khéo, cũng như bỏ cái quan niệm ‘lính chính
quy-lính bảo an’, trong việc phối hợp hành quân cùng các
Đơn Vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và B́nh Định Xây Dựng
Nông Thôn, kể cả Cảnh Sát Dă Chiến (Lúc đó toàn là
chủ lực quân biệt phái hay thuyên chuyển về gần nhà)...
tại các Tiểu Khu Long Khánh, Phước Tuy, nên chỉ một thời
gian ngắn đă b́nh định xong vùng này. Rồi th́ lần lượt
Quân Đoàn III, trả lại các Trung Đoàn cơ hữu của SD18BB
cho tướng Đảo. Lúc đó,Trung Đoàn 52BB, đang hành quân
tại B́nh Long, Trung Đoàn 48BB trách nhiệm giữ nhà, nên
chỉ c̣n Trung Đoàn 43 của Trung Tá Lê Xuân Hiếu, cùng tư
lệnh là Đại Tá Đảo, xông pha hầu hết các miền đất dữ của
VC lúc bấy giờ, dẹp tan chiến khu Chà Rầy, Trung Lập, Củ
Chi để giải vây cho quận Trảng Bàng. Tiếp đến, Trung
Đoàn 43 và Tướng Đảo lại vào Bến Súc, Dầu Tiếng, giải
vây Đồn Điền Michelin, giữ được con đường huyết mạch từ
B́nh Dương-Bến Cát, mà trong trận Mùa hè đỏ lửa 72, quân
tiếp viện của ta sử dụng để vào An Lộc.
Tới cuối tháng 6-1972, SD5BB của Tướng Lê Văn Hưng, tuy
vẫn giữ vững An Lộc nhưng đă bị tổn thất nặng nề, nên
được điều động ra khỏi trận địa. Các đơn vị tăng phái
của Vùng 4 CT như SD21BB, Trung Đoàn 15/SĐ9BB..cũng được
trả về bản địa. Do trên, Quân Đoàn III, sau khi hoàn lại
đủ quân số cho Tướng Đảo, đă điều động toàn bộ SD18BB
vào An Lộc, phối hợp với Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân của
Trung Tá Ngô Minh Hồng, chiếm lại toàn vẹn lănh thổ B́nh
Long. Tháng 12-1972, sắp đến ngày kư Hiệp Định Paris,
nên VC lại ồ ạt dành dân chiếm đất, v́ vậy QDIII giao
B́nh Long-An Lộc cho Biệt Động Quân và sử dụng SD18BB
như một đơn vị Tổng Trừ Bị của Quân Đoàn. Thời Trung
Tướng Phạm Quốc Thuần thay Tướng Nguyễn Văn Minh làm Tư
Lệnh QDIII, ngày 7-11-1973 đă cho tái lập lại Lực Lượng
3 Xung Kích, trước sau vẫn do Chuẩn Tướng Kỵ Binh Trần
Quang Khôi, là một trong những tướng lănh tài ba, anh
hùng của QLVNCH chỉ huy. Đại đơn vị này có bảng cấp số
tương đương với một sư đoàn bộ binh nhưng về hỏa lực có
phần hùng mạnh hơn v́ được phối hợp tác chiến giữa bộ,
thiết giáp và pháo binh, gồm 3 Chiến Đoàn Thiết Giáp
315,318 và 322. Các Chiến Đoàn đều tổ chức giống nhau,
gồm 1 Tiểu Đoàn BDQ, 2 Chi Đoàn Thiết Vận Xa 113, 1 Chi
Đoàn Chiến Xa M48, 1 pháo đội cơ động 105 ly gắn trên xe
M548 và 1 Trung Đội Công Binh. Đây là đơn vị trừ bị thứ
2 của QDIII, sau ngày kư hiệp định Ba Lê năm 1973. Từ đó
chiến cuộc càng ngày càng tàn khốc, Bắc Việt ngoài số bộ
đội có sẵn được Mỹ cho ở lại, c̣n có nhiều sư đoàn khác
cũng ào ạt vào Nam, v́ đường ṃn Hồ Chí Minh coi như đă
bị bỏ ngơ, tấn công khắp mọi nơi nhưng dữ nhất vẫn là
những địa danh sát nách Sài G̣n như Định Quán, Củ Chi,
Tam Giác Sắt, Phước Tuy... hầu hết những vùng trên đều
thuộc trách nhiệm của SD18BB. Tóm lại, từ năm 1972 tới
đầu năm 1975, SD18BB dưới quyền của Tướng Lê Minh Đảo,
gần như xông pha trăm trận, nên đă hy sinh rất nhiều
quân nhân các cấp. Nhờ vậy mà người lính Nỏ Thần đă
trưởng thành trong khói lửa, quân kỳ của Sư Đoàn được
gắn nhiều anh dũng bội tinh, mang giây biểu dương màu
quân công bội tinh, nhờ niềm hănh diện đó, dân và lính
miền đất đỏ, đă đánh một trận cuối cùng với giặc tại
Xuân Lộc, vừa rửa hận cho Dân-Nước, vừa lưu danh ngàn
đời trong Việt Sử, chống ngoại xâm do Bắc Việt mang từ
Nga-Tàu về.
Tháng 4-1974, Thượng Viện Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ cho
Nam VN. Tại chiến trường, Bắc Việt xé bỏ hiệp ước vừa kư
tại Ba Lê năm 1973, tấn chiếm Thường Đức và Trại Tống Lê
Chân. Ngày 9-8-1974, Nixon từ chức tổng thống v́ vụ
Watergate mang theo hẹn hứa giúp VNCH xuống mồ, v́ Ford
lên thay không bao giờ đếm xỉa tới., hoặc có muốn giúp
miền Nam, th́ nói cũng chẳng ai nghe, v́ ông không phải
là vị tổng thống do dân bầu lên theo luật định.
Trước t́nh h́nh hỗn độn chính trị tại Mỹ, Bắc Việt tấn
công và chiếm tỉnh Phước Long nhưng Hoa Kỳ vẫn im lặng,
c̣n Ford theo B.Paulmer trong ‘The 25 th year war‘ năm
1984, đă tuyên bố là Hoa Kỳ dứt khoát không can thiệp
vào chiến tranh VN. Thế là Hà Nội hồ hởi xâm lăng Miền
Nam. Ngày 10-3-1975 đánh thành phố Ban Mê Thuột. Ngày
14-3-1975 rút bỏ cao nguyên bằng Liên tỉnh lộ 7,
Pleiku-Phú Bổn-Phú Yên. Ngày 20-3-1975 bỏ Huế, Quảng
Trị. Nói chung hai cuộc lui quân, làm hàng trăm ngàn
đồng bào vô tội, gia đ́nh binh sĩ, chết và bị thương
thảm thiết v́ hỏa lực của cộng sản, bắn nhắm vào những
người dân lánh nạn, trong đó phần lớn là người già, đàn
bà, trẻ thơ vô tội. Tổng thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm,
Đại Tướng Cao Văn Viên... chỉ một phút quyết định ngắn
ngủi tại Cam Ranh đă làm mất 2/3 lănh thổ, hủy diệt một
nửa lực lượng quân lực tinh nhuệ của VNCH, trong đó có
các Đại đơn vị ưu tú như SD Dù, Thủy Quân Lục Chiến,
SD1, 23 BB và các Liên Đoàn BDQ... Như vậy sau ngày
2-4-1975, Quân Đoàn 1 mất hẳn, QD2 chỉ c̣n Ninh
Thuận-B́nh Thuận, nên sát nhập vào Quân Đoàn III. Phan
Rang-Phan Thiết và Xuân Lộc, trở thành vùng hỏa tuyến,
v́ là cửa ngỏ ( quốc lộ 1 – 20), để Bắc Việt vào Sài
G̣n.
Để tấn công Long Khánh –Xuân Lộc, cộng sản quốc tế Bắc
Việt, tung vào chiến trường Quân Đoàn 4, gồm 3 Sư Đoàn
6, 7 và 341 và Sư Đoàn 7 Việt Cộng, do tướng Bắc Việt là
Hoàng Cầm và Hoàng Thế Thiệp chỉ huy. Về VNCH, ngoài SD
18 BB với các Trung Đoàn 43 của Đại Tá Lê Xuân Hiếu,
Trung Đoàn 48 của Trung Tá Trần Minh Công, Trung Đoàn 52
của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng, Thiết Đoàn 5 của Trung Tá Nguyễn
văn Nô, Tiểu Khu Long Khánh của Đại Tá Phạm văn Phúc và
các Đơn vị tăng phái như Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù của Đại Ta
Nguyễn văn Đỉnh, đặc biệt là Tiểu Đoàn 82 BDQ, thuộc
LD24BDQ, của Thiếu Tá Vương Mộng Long, từ Quảng Đức, Lâm
Đồng di tản về Xuân Lộc... cùng với các SD 3, 4 và 5
Không Quân, kể luôn các đơn vị Truyền Tin, Công Binh, đă
đánh với quân xâm lăng cộng sản quốc tế, một trận để
đời, như các trận Chí Lăng, Bạch Đằng, Chương Dương,
Xuân Kỷ Dậu, Rạch Gầm Xoài Mút, mà tổ tiên ta đă lưu lại
ngh́n đời muôn kiếp cho con cháu sau này, trong ḍng sử
Việt...
Ngày nay đọc những trang sử trong cũng như ngoài nước,
từ người thương cho đến kẻ thù Việt Cộng, kể cả bọn ăn
cơm quốc gia thờ Hồ tặc, tất cả đều hớn hở hoặc cúi mặt,
kính chào và ngưỡng mộ, cuộc chiến đấu thần thánh của
người lính VNCH, trong lúc đất nước đă tận tuyệt, gần
hết cấp lănh đạo tối cao cơng vợ con và vàng bạc chạy
theo Mỹ để cầu sinh, giữ chức. Giữa giờ thứ 25, trong
lúc bên ngoài th́ Đồng Minh phản bội, bên trong đầy rẫy
bọn trí thức, cha-sư, đầu hàng giặc Cộng, toa rập trù
dập và đâm sau lưng người lính trí mạng.
Trong ‘ Đại thắng mùa xuân’, Văn Tiến Dũng, tổng tư lệnh
bộ đội cọng sản Bắc Việt, đă thú nhận rằng ‘
Mặt trận Xuân Lộc vô cùng ác liệt và đẫm máu ngay từ
ngày đầu tiên. Các sư đoàn 6,7,341 của ta, dù đă tấn
công nhiều lần vào thành phố Xuân Lộc, nhưng nhiều lần
đều gặp phải sức kháng cự mănh liệt của Trung Đoàn 43
địch, nên bị tổn thất nặng nề...
... Các đơn vị pháo của ta, đă sử dụng nhiều hơn cơ số
đạn dược dự trù. Số lớn tăng và xe bọc thép bị bắn cháy,
c̣n D.Todd người kư giả Pháp thân cộng, trong tác phẩm ‘
Cruel April, the fall of Sai Gon‘, đă viết ‘
tinh thần binh sĩ tại Xuân Lộc
rất cao, hệ thống truyền tin rất tốt, các đơn vị Dù và
BDQ đă đến, đường Sài G̣n được thông. Các Sĩ quan QLVNCH
đang gọi pháo binh và không yểm rất chính xác và nhanh
chóng. T́nh trạng chiến đấu của họ, gần giống như lúc
c̣n quân đội Mỹ yểm trợ.
Như vậy qua hai lời phê phán trên, ta biết mặt trận Xuân
Lộc vô cùng ác liệt và tinh thần chiến đấu của người
lính VNCH dũng mănh phi thường. Được như vậy, trước hết
theo lời của tướng Lê Minh Đảo, tư lệnh Sư Đoàn 18 BB
cũng là Tư lệnh Mặt Trận Long Khánh – Xuân Lộc từ ngày
8-4-1975 tới ngày 20-4-1975, đó là tinh thần của người
lính quyết tâm chiến đấu tới cùng v́ từ trên xuống dưới
không một ai đào ngũ hay bỏ theo giặc. Thứ hai do ta chủ
động trận địa và sau rốt là tinh thần binh sĩ ổn định,
khi thấy gia đ́nh ḿnh đă được di tản về hậu phương an
toàn tại Biên Ḥa.
CHIẾN TRƯỜNG XUÂN LỘC
Chiến trường Xuân Lộc gồm 3 mặt trận chính : Mặt trận
Ngă ba Túc Trưng, thành phố Xuân Lộc và Khu vực Núi Chứa
Chan-Gia Ray. Do nắm được t́nh h́nh chính sự, biết chắc
khi Phan Thiết-Lâm Đồng thất thủ, Bắc Việt sẽ xuyên qua
QL1 và 20 để về tấn chiếm Sài G̣n. Do trên Xuân Lộc sẽ
là chiến địa đẫm máu. Biết như vậy, cho nên tướng Đảo
sớm chuẩn bị trận địa để chờ. Trườc
hết, khuyến khích dân chúng có phương tiện, nên về lánh
nạn binh lửa ở Biên Hoà hay Sài G̣n. Đồng thời cho di
chuyển trại gia binh, bệnh viện, thương bệnh binh cùng
các pḥng sở chuyên môn về hậu cứ tại Long B́nh, làm một
đầu cầu tiếp vận từ Trung ương tới Chiến trường. Tại
Long Khánh, tướng Đảo cho sửa sang tất cả các pḥng
tuyến trong cũng như ngoài thị xă, đào giao thông hào
khắp nơi, để chuẩn bị chiến đấu lâu dài.
Chiếm lại tất cả các vị trí cao quanh Xuân Lộc, để quan
sát địch từ mọi hướng. Đem tất cả pháo dấu trong các vị
trí đào sẵn, một số câu lên núi Thị và giao cho TD2/43
cuả Thiếu Tá Nguyễn Hửu Chế bảo vệ, chỉ để lại 2 khẩu
cho Tiểu Khu Long Khánh và 2 khẩu khác cho Chiến Đoàn 43
của Đại Tá Lê Xuân Hiếu, trong thị xă Xuân Lộc sử dụng
mà thôi. Lại đặt ba bộ chỉ huy Sư Đoàn, một tại Xuân
Lộc, một tại Tân Phong và một trên núi Thị có TD2/43 bảo
vệ. Tất cả các Bộ Tư Lệnh Hành Quân, đều giống nhau,
được thiết kế đầy đủ máy móc truyền tin kể cả đài siêu
tầng số. Trong số này, BTL/HQ trên núi Thị giao cho
Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế, TDT/TD2/43 trách nhiêm, như một
đài liên lạc giữa Tướng Đảo và Quân Đoàn cũng như các
cấp tại Trung Ương, nhờ máy móc siêu tần đặt trên núi
cao nên rất mạnh. Ngoài ra, nhờ có ba BTL/HQ nên tướng
Đảo để di chuyển liên tục, tránh phao địch. Về Truyền
Tin của Ta cũng rất tài giỏi, nhờ thế nên đă bắt và giải
mă được tần số của giặc, gần như biết trước lệnh tấn
công của các đơn vị Bắc Việt, nên đă tránh được rất
nhiều tổn thất. Riêng bộ tham mưu của SD18BB lúc đó gồm
có : Tướng Lê Minh Đảo là tư lệnh SD, Đại Tá Lê Xuân Mai
tư lệnh phó, Đại Tá Huỳnh Thao Lược - tham mưu trường
SD, Đại Tá Hứa Yến Lến – tham mưu phó hành quân tiếp vận
và Đại Tá Dương Phun Sang – chánh thanh tra SD.
Theo tất cả các
cấp chỉ huy thuộc SD18BB c̣n sống, hiện đang ở Mỹ, hầu
hết ai cũng xác nhận một sự thật rất quan trọng, đó là
khi quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Xuân Lộc, th́
Tướng Lê Minh Đảo đang có mặt tại Bộ Tư Lệnh Tiền Phương
của SD18BB tại căn cứ Long B́nh và chỉ một vài giờ sau
đă bay vào biển máu bom đạn và xác người tại trận địa
Xuân Lộc. Trong lúc đó, đại úy Nguyễn Khiêm, trưởng ban
ba của TrD43/18 v́ công vụ cũng có mặt tại Long B́nh và
chính Tướng Đảo đă ra lệnh cho phi công chiếc C&C của
TL, chở ông ta vào BTL/HQ tại Tân Phong.
Bốn ngày đầu chưa có Lữ Đoàn 1 Dù tăng viện nhưng Chiến
Đoàn 43 và các Tiểu Đoàn Địa Phương Quân thiện chiến của
TK Long Khánh, cùng TD82 BDQ vẫn giữ được Xuân Lộc. Từ
ngày 12/4/75, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù của Đại Tá Đỉnh tăng
viện, đảm trách mặt trận Gia Ray-Chứa Chan, nên tướng
Đảo đả dùng Trung Đoàn 48 và Thiết Đoàn 5 kỵ binh, làm
lực lượng tiếp ứng khắp nơi. Cũng theo tướng Đảo, trong
trận Long Khánh, chỉ có cứ điểm Ngă Ba Túc Trưng, do
Chiến Đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng trấn giữ, là khó
khăn và ác hiểm nhất nhưng quân ta dù lực lượng ít ỏi so
với quân biển người của Bắc Việt, vẩn anh dũng chống cự.
Oanh liệt nhất là trận Đồi Móng Ngựa, chỉ có hai đại đội
của TD3/52 do Thiếu Tá Phan Tấn Mỹ, tức nhà văn nổi
tiếng Ư Yên làm Tiểu Đoàn Trưởng, đă giữ vững vị trí từ
ngày 10-4 tới 15-4-75, qua nhiều đợt tấn công biển
người, cấp Trung Đoàn của SD6 Bắc Việt. Trận tử chiến
trên Đồi Móng Ngựa cũng như hai trái bom con heo tại Dầu
Giây –Túc Trưng, đều là những huyền thoại đẹp nhất trên
những trang cận sử vừa nở hoa vừa loang đỏ máu, mà sau
này mỗi khi đọc tới, chắc ai cũng không thể ngăn nổi
giọt nước mắt muộn màng, để khóc tủi cho những người
lính trận năm nào, đă v́ ai mà xả thân không tiếc hận.
Đánh măi không lấy được Xuân Lộc, Văn Tiến Dũng điều
động Trần văn Trà thay Hoàng Cầm nhưng chiến trường vẫn
không thay đổi. Do trên Trà một mặt để SD7 VC ở lại cầm
chân SD18 BB và Dù tại Xuân Lộc, mặt khác tấn công biển
người vào các vị trí của Chiến Đoàn 52, mở một đường máu
từ Túc Trưng xuyên qua Biên Ḥa, đối mặt với các Đơn Vị
pḥng thủ của Lực Lượng 3 Xung Kích, của tướng Trần
Quang Khôi. Riêng Chiến Đoàn 52 của Đại Tá Dũng, tuy bị
tổn thất gần 1/2 quân số, nhưng cuối cùng vẩn mở được
đường máu Từ ngă ba Túc Trưng về Biên Ḥa.
HAI TRÁI BOM DAISY CUTTER VÀ
CUỘC LUI QUÂN CỦA SD18
Trong ‘Đứa con cầu tự ‘, ông Nguyễn Cao Kỳ nguyên Thiếu
tướng QLVNCH, cựu tư lệnh Không quân, cựu chủ tịch ủy
ban hành pháp trung ương, cựu phó tổng thống VNCH từ
1967-1971, có viết rằng chính ông ta là nhân vật đă ra
lệnh sử dụng bom con heo tại mặt trận Xuân Lộc. Ai cũng
biết từ sau năm 1972, ông Kỳ đă là một tướng lănh bị phế
thải, ngồi chơi xơi nước, trong tay ‘không quân, không
đơn vị‘. Cũng từ đó cho tới ngày 29-4-1975 bay trốn ra
biển để tới Mỹ hưởng vinh hoa phú quư, tướng Kỳ ngoài
việc trồng khoai ḿ tại đồn điền riêng ở Khánh
Dương-Khánh Ḥa, th́ gần hết thời gian quư báu c̣n lại
của một tướng lănh, chỉ lăn vùi trong rượu chè, mạt
chược, đá gà và bar-bung gái vợ. Như vậy, sức nào để ra
lệnh cho KQ đánh bom, một sự kiện quan trọng bậc nhất
của an ninh quốc pḥng quốc gia VNCH, lúc đó chỉ có
chính Tổng Thống, Thủ Tướng và Tổng Tham Mưu Trưởng
QLVNCH mới có thẩm quyền quyết định.
Bom Daisy Cutter, c̣n được gọi là bom con heo hay tiểu
nguyên tử, có chiều dài và chiều cao gần tương đương với
ḷng chiếc vận tải cơ C130, trọng lượng là 7 tấn, gồm vỏ
bọc và khối thuốc nổ 15.000 cân Anh TNT. Bom dùng mở băi
đáp cho cấp sư đoàn hay lộ quân trong bất cứ địa thế
nào. Với con người, bom có tầm sát hại trong ṿng bán
kính 5 dặm Anh, hút hết dưỡng khí, làm cho người bị chết
ngạt. Những ngày cuối cùng của tháng 4-1975, Mỹ có để
lại cho VNCH chừng 10 trái nhưng không có ng̣i nổ. Trong
trận Xuân Lộc, truyền tin của Bắc Việt gần như bị ta
giải mả hết, nên nhờ đó mà Bộ tư lệnh của SD18BB đều
biết trước. Nhờ vậy đă kịp thời xin không quân hay pháo
binh, bắn hay giội bom vào các vị trí của địch hay xe
tăng một cách vô cùng chính xác. Ngày 15-4-75, khi tướng
Đảo nhận tin vị trí của Chiến đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ
Dũng, từ Ngă ba Túc Trưng xuống tới Dầu Giây, bị hai sư
đoàn Bắc Việt 6 và 341 tràn ngập, nên đă xin tướng
Nguyễn văn Toàn, tư lệnh QD3, tŕnh Bộ TTM, sử dụng bom
con heo, để ngăn chận và giải cứu Chiến đoàn 52. Do
trên, trong ngày 15-4-1975, Bộ TTM đă dùng vận tải cơ
C130A thả 2 trái bom khổng lồ này, xuống vị trí của Bắc
Việt, từ Túc Trưng về tới Dầu Giây, khiến cả một quân
đoàn Bắc Việt, gồm người, tăng, pháo như rối loạn trong
ba ngày liền v́ có quá nhiều thương vong. V́ Hà Nội la
làng, Mỹ vi phạm hiệp định ngưng bắn, dùng bom nguyên tử
và trở lại VN, nên Hoa Kỳ đă chở số bom con heo c̣n lại
về Mỹ.
Ngày 16-4-1975, pḥng tuyến tại Phan Rang vở, các tướng
lănh Nguyễn Vĩnh Nghi, Pham Ngọc Sang, Đại Tá Nguyễn Thu
Lương và hầu hết các sĩ quan cao cấp trong Bộ tư lệnh
tiền phương của QD3, v́ đi bộ với lính (dù có máy bay),
và Đại Tá Lương, lúc đó đă cùng với các tiểu đoàn Dù về
tới Cà Ná, nhưng ông cũng đă trở lại t́m hai tướng
Nghi-Sang, nên đă bị giặc Cộng bắt giữa chốn ba quân.
May mắn nhất vẫn là tướng Trần văn Nhựt, Tư lệnh SD2 BB
đang tham chiến tại mặt trận, nhờ lanh lẹ, nên leo L19,
chạy kịp xuống tàu hải quân, đậu trong vịnh Ninh Chữ,
sau đo cũng là một trong nhiều tướng lănh tới Mỹ sớm.
Đêm 19-4-1975, B́nh Thuận-Phan Thiết mất và B́nh Tuy
ngày 20-4-1975. Như vậy các tuyến pḥng thủ trên QL1 và
20, dẫn về Long Khánh gần như khai thông. Tướng Nguyễn
Văn Toàn v́ không muốn Xuân Lộc, lúc đó lại trở thành
một Điện Biên Phủ hay Khe Sanh, giữa trùng vây của hơn
mấy vạn quân Bắc Việt như trước. Hơn nữa, khi Trần Văn
Trà thế Hoàng Cầm, đă dùng SD7 Bắc Việt cầm chân quân
ta, c̣n Lộ quân 4 th́ t́m đường khác tại Ngă ba Túc
Trưng về Biên Hoà. Ở đó, chỉ có Lực lượng 3 Xung Kích
của tướng Khôi, cùng Trung Đoàn 8 /SD5BB tăng phái, nên
không đủ quân chống giữa. Do trên tướng Toàn đă xin Bộ
Tổng Tham Mưu, chấp thuận bỏ Xuân Lộc, rút toàn bộ lực
lượng đang chiến đấu tại đây gồm SD18BB, TK Long Khánh,
Lữ Đoàn Dù, BDQ về Phước Tuy, giữ Biên Ḥa-Sài G̣n, và
đă được chấp thuận, dù lúc đó, quân ta c̣n đầy đủ đạn
pháo và tinh thần chiến đấu. Tại Gia Ray-Chứa Chan, Lữ
Đoàn Dù-BDQ-Thiết Đoàn 5 và Trung Đoàn 48/18 đang gom
SD7 Bắc Việt vào rọ, để tiêu diệt.
Theo tướng Đảo, th́ vào lúc 9 giờ sáng ngày 20-4-1975,
tướng Toàn thân hành bay trực thăng vào BTL SD18BB tại
chiến trường Xuân Lộc, ban lệnh RÚT QUÂN, BỎ LONG KHÁNH
của Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, tới Tướng Đảo và CUỘC RÚT
QUÂN hoàn toàn bằng đường bộ, không có ai được máy bay
tới chở về. Quan trọng hơn hết, tất cả đều đi, không có
600 quân nào của Trung Đoàn 43, do Đại Tá Lê Xuân Hiếu
t́nh nguyện ở lại bán mạng, như một vài người đả vin vào
tài liệu Mỹ, viết sử. Cảm động vô cùng, là khi Lữ Đoàn 1
Dù của Đại Tá Đỉnh rút quân, đồng bào công giáo ở các xă
Bảo Định, Bảo Toàn, Bảo Ḥa... đă đồng loạt rút theo,
làm cho cánh quân này v́ phải bảo vệ đồng nào tị nạn,
nên bị thiệt hại nhiều nhất.
Ngay khi nhận được lệnh, trong ngày 20-4-1975, tướng Đảo
ra lệnh cho Lữ Đoàn 1 Dù, tấn công tới tấp SD7 VC để
nghi binh. Trên núi Thị, rút hết pháo, chỉ để lại 2 khẩu
cho Tiểu Đoàn 2/43 bắn cầm chừng, làm giặc không biết
đâu mà ṃ. Cuộc lui quân, bắt đầu, lúc 8 giờ đêm
20-4-1975, bằng Liên Tỉnh lộ 2, Tân Phong-Long Giao-Bà
Rịa. Đây cũng là một quyết định táo bạo, đồng thời cũng
là một yếu tố bất ngờ mà Bắc Việt không bao giờ đoán
nổi. V́ Liên tỉnh lộ 2 dài khỏng 40 km, từ khi quân Đồng
Minh rút, đường đă bị bỏ hoang và trở thành căn cứ địa
cuả các lực lượng Du kích tỉnh cũng như Trung Đoàn 33
chính quy Bắc Việt. Theo kế hoạch lui quân, Trung Đoàn
48 của Trung Tá Trần Minh Công mở đường. Cánh 2 là đoàn
cơ giới, pháo, chiến xa Thiết đoàn 5 của Trung Tá Nô.
Đặc biệt tướng Đảo, đă mang trả lại cho QD3 hai khẩu đại
pháo 175 ly cho mượn, có tầm bắn xa trên 30 km, đặt trên
xe xích. Tất cả lực lượng này do Đại Tá Hứa Yến Lến,
tham mưu phó hành quân SD 18BB chỉ huy. Đơn vị kế tiếp
là DPQ và NQ Long Khánh của Đại Tá BDQ. Phạm văn Phúc,
Tỉnh trưởng Long Khánh. Cánh quân này, trong lúc rút bị
đụng nặng, làm Trung Tá Tiểu Khu Phó tử thương. C̣n Đại
Tá Phúc bị bắt và giải ngay ra Bắc, chịu nhiều năm tù
khôc hận như các cấp Sĩ quan/QLVNCH sau ngày 30-4-1975.
Tướng Đảo đi bộ với cánh quân Trung Đoàn 43 của Đại Tá
Lê Xuân Hiếu, hiện ở Oregon. Và cuối cùng là Lữ Đoàn 1
Dù đoạn hậu. Theo kế hoạch lui quân, Tiểu đoàn 2/43 của
Thiếu tá Chế từ Núi Thị xuống sẽ đi trước Lữ Đoàn Dù,
nhưng v́ trục trặc chiến thuật, nên cuối cùng lại trở
thành đơn vị cuối khi rời Long Khánh. Tóm lại cuộc lui
quân coi như thành công, nhờ có tổ chức, kế hoạch và
trên hết, chính tướng Đảo cũng như tất cả các đơn vị
trưởng từ Tỉnh Trưởng Phạm văn Phúc, Đại tá Đỉnh, Lữ
Đoàn trưởng Dù... đều đi bộ và tác chiến như lính. Thử
hỏi sao không đạt được chiến thắng ?
NGƯỜI VỀ TỪ ĐỊA NGỤC
Tiểu Đoàn Trưởng TD2/Trung Đoàn 43/SD18BB là Nguyễn Hữu
Chế, xuất thân từ khóa 13, sĩ quan trừ bị Thủ Đức. Từ
năm 1972 khi Đại Tá Đảo, về làm tư lệnh SD18BB, thay
tướng Thơ, lúc đó Trung Úy Nguyễn Hữu Chế ở TD2/43 nhưng
sau những chiến công rền vang khắp các mặt trận từ Chà
Rầy-Trung Lập, tới Tam Giác Sắt - An Điềm, chỉ trong 1
năm, đă được vinh thăng ngay tại mặt trận, Đại Uư rồi
Thiếu Tá và giữ TDT.TD2/43 là một đơn vị cùng với TD1/52
của Đại Uư Út, là hai đơn vị kiệt hiệt nhất của SD18BB.
Theo lời Thiếu Tá Chế, th́ trong đêm lui quân 20-4-1975,
lệnh hành quân ghi rơ: kể từ 12 giờ đêm, TD2/43 sẽ trở
về hệ thống liên lạc của sư đoàn. Tiểu đoàn sẽ di chuyẻn
trước, sau đó là Lữ Đoàn 1 Dù, theo lộ tŕnh về hướng
Đức Thanh-Bà Rịa. Lệnh là vậy nhưng thực tế vô cùng khó
khăn, v́ khi Lữ Đoàn 1 Dù, cho lệnh TD2/43 trở về với hệ
thống của sư đoàn 18BB, th́ lúc đó đă 3 giờ sáng. Tiểu
đoàn liền cho lệnh gom quân các tiền đồn về, trong đó có
Trung Đội Biệt Kích hoạt động tận núi Ma, cho nên tới 5
giờ sáng mơi hoàn tất việc thu quân. V́ vậy khi xuống
núi Thị, th́ trời đă rạng đông. Tiểu đoàn tiếp tục di
chuyển theo lộ tŕnh rút quân, gần tới Căn cứ Long Giao,
lúc đó đă 7 giờ sáng, th́ Đại Tá Ngô Kỳ Dũng, Trung Đoàn
Trưởng TrD52/18, bay trên chiếc C&C của Tư Lệnh, chuyển
lệnh của Tướng Đảo, ra lệnh cho TD2/43 phải hủy bỏ lộ
tŕnh cũ như lệnh hành quân ban đầu và phải băng rừng,
chuyển hướng về Long Thành, v́ Bắc Việt đă phát giác
SD18BB lui quân, mà đơn vị cuối cùng là TD2/43 nên ra
lệnh cho SD7 VC phải truy sát cho tận tuyệt. Thật ra,
lúc đó cũng c̣n một vài toán Địa Phương Quân và Nghĩa
Quân, lạc đàn chạy theo. Nhưng trong t́nh cảnh hiểm nguy
đó, làm sao biết được ai là bạn hay thù, hoặc có thể VC
đă theo kíp họ, nên TD 2/43 đă t́m cách đổi hương, để
giữ mạng.
Khi rời núi Thị, quân số của TD2/43, kể cả tăng phái
trong đó có nhiều SQ, HSQ, và binh sĩ Pháo Binh, hơn 600
người. Ngoài Hậu cứ của TD2/43 đă di chuyển trước với
cánh quân của Trung Đoàn, Bộ Chỉ Huy TD ngoài TDT Chế,
c̣n có TDP là Đại Uư Nguyễn Tấn Chi (Khóa 12 SQTB/TD),
Trung Úy Vơ Kim Thạch (DDT/DDCH), Trung Uư Nguyễn Văn
Hào (DDT/DD1), Trung Uư Vơ Văn Mười (DDT/DD2), Trung Uư
Nguyễn Văn Hùng (DDT/DD3), Trung Uư Hà Văn Dương
(DDT/DD4) cùng các Sĩ quan truyền tin, ban 2, ban 3,
quân y, sĩ quan tiền sát viên pháo binh...
Nhưng sau lần liên lạc được với Đại Tá Dũng, TD2/43 coi
như lạc lơng trong rừng sâu từ giây phút đó. Vùng này
bốn bề xưa nay đầy rẩy các căn cứ cộng sản trong đó có
mật khu Hắc Dịch nổi tiếng, đang có sự hiện diện của
SD341 Bắc Việt tân lập. Từ đó, TD2/43 không c̣n ai liên
lạc, chẳng có pháo binh, không quân hay thiết kỵ nào yểm
trợ, v́ mọi đơn vị bạn đều cách xa. Nhưng cũng may, từ
khi được thành lập tại Phan Rí, tỉnh B́nh Thuận vào năm
1955, qua danh xưng TD265, 84 sau đó là TD2/43 biệt lập
cho tới ngày nay. Hầu hết các vị Tiểu Đoàn Trưởng như
Đại Uư Nguyễn Văn Hai, cố Trung Tá Hắc Long Đỗ văn Tân,
cố Trung Tá Hắc Long Nguyễn Văn Thoại và cuối cùng là
Thiếu Tá Bảo Đinh Nguyễn Hữu Chế, tất cả đều là những
đơn vị trưởng tài giỏi, đầy kinh nghiệm hành quân trong
vùng, biết địa thế rơ như ḷng bàn tay, mà không cần
phải xem bàn đồ, nhờ vậy mới không bị biển người cộng
sản tiêu diệt. Từ 9 giờ sáng, TD2/43 đă bắt đầu chạm
địch ở phía tây căn cứ Long Giao, nhưng v́ không có quân
bạn yểm trợ, nên Thiếu Tá Chế đă cố gắng đoạn chiến, đổi
hướng nhiều lần lộ tŕnh, v́ không muốn gây thương vong
cho đơn vị. Đến chiều cùng ngày, khi TD2/43 vào tới b́a
của một khu rừng rậm, sau khi nghỉ ngơi, Thiếu Tá Chế
chia TD làm hai cánh, một do Đại Uư Chi TDP chỉ huy, để
hành quân xuyên rừng về Long Thành. Cũng từ đó, TD chạm
địch liên miên, đến đổi cánh quân do Thiếu Tá Chế chỉ
huy, chỉ c̣n vỏn vẹn có 28 người. Cũng trong đêm đó,
toán người của Thiếu Tá Chế lại bị lọt vào ṿng vây,
nhưng nhờ trong số này c̣n có Trung Đội Biệt kích thiện
chiến nhất của TD, nên cuối cùng anh em thoát được.
Đến ngày thứ tư, TD đến gần Long Thành nhưng TT Chế vẫn
không dám liên lạc truyền tin v́ sợ lộ mục tiêu, dù lúc
đó trên bầu trời lúc nào cũng có phi cơ của SD18BB bay
t́m kiếm TD2/43.
Tại căn cứ Long B́nh, tiền trạm của TD2/43 do Trung Uư
Nguyễn Văn Thắng, SQ ban 1 chỉ huy hậu cứ, điều động
quân xa vào các b́a rừng ven Long Thành để đón lính
TD2/43., đă vượt thoát được ṿng vây, trở về cơi sống.
Nói chung, cánh quân do Đại Uư Chi, TDP chỉ huy gần như
c̣n nguyên vẹn khi ra tới Long Thành. Nhưng trái lại,
cánh quân của Thiếu Tá Chế lại đụng độ rất nặng, nhưng
nhiều quân nhân c̣n sống sót, đă t́m được đường về điểm
tập trung.
Dù đă liên lạc được với Đại Tá Hiếu Trung Đoàn Trưởng
TrD43 vào buổi chiều ngày 24/4/1975 nhưng tới 9 giờ sáng
hôm sau, bốn chiếc trực thăng của SD mới vào bốc người
nhưng vẫn bị VC truy sát, không buông tha.
Tại căn cứ Long B́nh, Tiểu Đoàn tập hợp lại, bổ sung và
tiếp tục chiến đấu, sau khi thoát chết, để cùng với
SD18BB và tướng Đảo, cũng như tất cả các đơn vị trưởng,
chiến đấu cho tới ngày 30-4-1975, mới phải buông súng,
ră ngũ v́ lệnh đầu hàng của Dương Văn Minh. Riêng Tiểu
Đoàn Trưởng TD 1/43 là Đại Uư Chu hiện ở Úc nhưng vào
ngày 12-4-1975 được thay thế bởi Thiếu Tá Tùng. Thảm
nhất là Tiểu Đoàn Trưởng TD3/43, Đại Uư Du, ngày tan
hàng về nhà, th́ bị giặc bất ngay, đem thủ tiêu mất xác.
Trong ‘Đại thắng mùa xuân’, Văn Tiến Dũng, Tổng tư lệnh
bộ đội miền Bắc, đă lấy lư do v́ không kịp vẽ bản đồ
Long Khánh, nên đă bị bại trận Xuân Lộc. Thật sự trong
12 ngày ác chiến, Bắc Việt đă tung vào chiến trường sáu
Sư Đoàn, gồm 6, 7, 341, 325, 10 và 304 để chọi với
SD18BB, Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, TD82BDQ và các TD.DPQ, Trung
Đội NQ của tỉnh Long Khánh. Kết quả có hơn 6000 cán binh
bộ đội bị phơi thây tại chỗ và 37 chiến xa đủ loại bị
bắn cháy.
Để tưởng thưởng những quân nhân có công trong trận Xuân
Lộc, quyền Tổng Tham Mưu Trưởng lúc đó là Trung Tướng
Đồng Văn Khuyên, ban hành SVVT ân thưởng cho tất cả quân
sự đă tham dự, được lên một cấp. Riêng Chuẩn tướng Lê
Minh Đảo, Tư lệnh Mặt Trận Long Khánh kiêm TL.SD18BB,
được chính Tổng Thống Trần Văn Hương, vinh thăng Thiếu
Tướng, đặc cách tại Mặt Trận từ ngày 25-4-1975.
Ba mươi năm qua, cuộc chiến đă tàn theo năm tháng nhưng
hơn 80 triệu đồng bào trong nước vẫn không có đủ tự do
để thở, cũng như có cơm ăn áo mặc., khiến cho đất nước
càng ngày càng thảm thê héo hận.
Ngày nay ai có dịp được xuôi ngược trên các nẻo đường
quê hương lửa khói xa xưa, từ cổng bắc của Thị Trấn Hố
Nai, qua Bầu Cá, Trảng Bom, Hưng Lộc, Dầu Giây, lên Kiệm
Tân, Túc Trưng, Định Quán... hay về Xuân Lộc, Tân Phong,
Long Giao, Gia Ray, không hiểu họ có c̣n nhớ chăng những
ngày bi thảm tận tuyệt của đất nước vào cuối tháng
4-1975. Cũng chính tại Xuân Lộc, người dân cũng như lính
tráng của miền cao su-đất đỏ, trước cuộc xâm lăng tàn
bạo của giặc cộng xâm lăng Bắc Việt, đă phẫn nộ, tử
chiến lần cuối cùng với rợ Hồ. Trong lúc tại Sài G̣n
người ta t́m đường trốn khỏi nước, th́ tại Xuân Lộc,
người lính từ quan cho tới cấp binh nh́, binh sĩ quân
dịch, từng giây lội trong hố máu, hầm xương, c̣n trên
đầu th́ đội bom hứng đạn, giành nhau từng vách tường
cháy, đống gạch vụn, các công sự pḥng thủ để giữ mạng.
Tội nhất là những lính của TD2/43 đơn vị cuối cùng, đói
khát chết chóc trong rừng sâu, giữa chốn ba quân, để t́m
đường về cơi sống.
Bỗng dưng thấy thật u uất ngậm ngùi, khi vô t́nh đọc
được bài cổ thi ‘Lưỡng Tây Hành’ của Trần Đào thời Hậu
Hán, nói lên thảm trạng chiến tranh, đến nỗi xác của
những người lính tại sa trường, đă trở thành ‘đống xương
vô định cao hơn đầu‘, mà tại hậu phương những người
thiếu phụ vẫn cứ măi bên án trông chồng ngoài quan tái.
Hỡi ơi mới đó mà đă ba mươi năm đoạn trường máu lệ, tóc
xanh thành tóc bạc, bạn bè thân thương một c̣n, chín
mất, lưu lạc khắp ngàn phương, khiến mất cứ măi ngóng
t́m.
‘ngày mai rồi có ngày nào,
theo chân voi trận, để vào Thăng Long...
’ Cái mộng năm xưa nay cũng c̣n là mộng, khiến giờ chỉ
c̣n biết:
‘nghiêng bầu mà hỏi
thiên hạ mang mang
ai người tri kỷ
lại đây cùng ta cạn một hồ trường
hồ trường, hồ trường
ta biết rót về đâu ?
(thơ của Nguyễn Bá
Trác)
Xóm Cồn tháng 3-2005
HỒ ĐINH
TD1/43/18BB-kbc 4424
THAM KHẢO :
- Chiến sử QLVNCH của Phạm Phong Dinh và Nguyễn Đức
Phương.
- 55 ngày cuối cùng của Chánh Đạo
- Những ngày cuối cùng của VNCH, của Nguyễn Khắc Ngữ
- Tôn vinh Người Lính VNCH của Phạm Kim Vinh
- Nhật báo Tiền Phong, KBC hải Ngoại
- Tài Liệu của Tướng Lê Minh Đảo, Tư Lệnh SD18BB và
Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế, TDT/TD2/43/SD18BB
Đính Chánh một số chi tiết :
Ngay khi bài viết SD18BB cuả Hồ Đinh được tờ Sài G̣n Nhỏ
ở CA đăng tải, đă có một số Anh Em thuộc đơn vị cũ, l/l
giúp Hồ Đinh đính chính lại, ít sơ sót nhỏ, khi tŕnh sự
thành lập cuả SD.
1- Về TRUNG Đ̉AN 48 BB/Biệt lập:
Cũng giống như Trung đoàn 43 BB, trước khi trở thành đơn
vị cơ hữu cuả SD18BB, Trung đoàn đă nhiều lần thay đổi
danh hiệu từ 43 qua 47, nên lúc th́ trực thuộc SD23BB,
khi th́ biệt lập, măi tới tháng khi là một đơn vị cuả
SD18BB, mới chính thức mang số 43 tới khi tàn cuộc.
Như trường hợp cuả Trung Đoàn 43, Trung Đoàn 48BB,
nguyên là Trung đoàn 32 cuả SD21BB, vào ngày 6-3-1963,
tại SVVT số 00326 cuả Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, chuyển
đổi Trung Đoàn 32 thuộc SD 21BB, thành Trung Đoàn 48
BB-Biệt lập, c̣n Trung đoàn 48 biệt lập lúc đó, gồm các
Tiểu Đoàn 1/48 ( tiền thân là TD 5BVN), TD2/48 (Tiền
thân là TD13BVN) và TD3/48 (tiền thân là TD19BVN) trở
thành Trung Đoàn 32,thuộc SD21BB.
Tháng 6/1965 SD18BB được tăng quân số, càc Trung Đoàn cơ
hửu đều có thêm Tiểu Đoàn 4, v́ thế TD4/48/SD18BB cũng
được tân lập nhưng tới 2/1971 th́ giải tán.
** Riêng Trung Đoàn 52/18BB được cải tuyển từ Trung đoàn
135 Địa Phương cuả Tỉnh Gia Định. Đơn vị này, chẳng
những có TD2/52 được nổi tiếng, mà các TD1/52 và nhất là
3/52 cũng vang danh, trong trận đánh cuối cùng vào tháng
4-1975 tại đồi Móng Ngựa (Kiệm Tân - Long Khánh). **
Trong suốt thời gian từ 1965 tới ngày 30-4-1975, Trung
Đoàn 48/18 trách nhiệm vùng Chiến Khu D (B́nh-Phước
Thành), Trung Đoàn 52/18 có tổng đàn tại Đồi Phượng Vỹ
(Núi Chưa Chan, ngả ba Ông Đồn). Riêng 43/18 túc trực
tại Long Khánh, để lưu động khắp vùng chiến thật trách
nhiệm.
Thành thật cám ơn Đại Tá Huỳnh Bá Thành, Trung Đoàn
Trưởng TrD48/SD18BB cũng là Tỉnh trưởng B́nh Tuy, từ
ngày 13-1-1975 tới khi B́nh Tuy bỏ ngơ vào ngày
23-4-1975.
Đây cũng là một bi thảm của ngựi lính VNCH. Trước đây
theo hầu hết sử sách, đài BBC Luân Đôn, th́ B́nh Tuy đă
mất ngay khi Phan Thiết-B́nh Thuận bị thất thủ vào ngày
19-4-1975 nhưng theo lời Đại Tá Huỳnh Bá Thành, th́ dù
B́nh Thuận đă thất thủ, Xuân Lộc được lênh rút nhưng
Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn (TLQD3) vẫn bắt buộc B́nh
Tuy tử thủ với quân số lúc đó chỉ có 300 binh sĩ cuả 3
TD/DPQ.
Cũng may B́nh Tuy sát biển, nên giờ cuối những chiến sĩ
trên mới c̣n mạng, để trở về cơi sống và nói lên sự u
uất cuả kiếp lính miền Nam.