Người lính Cộng Ḥa
1-THÂN PHẬN NGƯỜI LÍNH VNCH TRONG 20 NĂM CHINH CHIẾN (1955-1975)
Sau ngày 30-4-1975, quê hương của người Việt quốc gia bị cọng sản quốc tế dô hộ
hoàn toàn từ nam ra bắc, mọi người mới sáng mắt thấy rằng, không có một lănh tụ
nào của đảng, từ Hồ Chi Minh xuống tới chàng du kích, biết coi trọng sinh mạng
của người dân, bởi v́ nguyên tắc thành công của cọng sản, là chỉ có thẳng tay
bắn giết , th́ mới có sự phục tùng. Riêng chuyện dài VN, v́ chính người dân lúc
trước tự xiềng xích ḿnh, để chui vào thiên đàng xă nghĩa, cho nên nay, cũng chỉ
có người dân, tuy thầm lặng đứng bên vệ đường thời gian, nhưng lại là động lực
chính, bẻ găy được khóa cổng thiên đường mù, để trở về cuộc sống tự do no ấm của
con người. Ngày nay, mỗi lần đọc lại lịch sử, cảm thấy ngùi ngùi và thương xót
biết bao cho dân tộc ḿnh, bỗng dưng trở thành nhược tiểu, v́ cả nước mù quáng
nên bị Hồ Chí Minh, thắng một vụ lừa bịp bẩn thỉu nhất , trong ḍng sử Việt, từ
vụ cướp chính quyền tháng 8-1945, cho tời sự lănh đạo của cọng sản trong chin
năm kháng Pháp. Cũng từ đó, người Việt quốc gia coi như đứng trước ngă ba đường
sinh mệnh và dù có chọn lối nào chăng nửa, rốt cục cũng chỉ dẫn tới địa ngục mà
thôi. Năn 1951, thống chế De Lattre de Tassigny sau khi chận đứng Việt Minh tại
Vĩnh Yên, Bắc Việt, đă lên lớp người Việt lúc đó thụ động, hèn nhát, không chịu
ra chiến trường để bảo vệ quê hương ḿnh. Trong cuộc chiến Đông Dương lần 2
(1955-1975), thế giới bên ngoài, qua tuyên truyền từ báo chí của VC và truyền
thông Mỹ, Tây Phương, nên đă đánh lận cuộc xâm lăng của cọng sản quốc tế, thành
một tấn tuồng chống ngoại xâm của Hà Nội. Nữ kư giả Ư là Oriana Fallaci , trước
trận mùa hè đỏ lửa 1972, khi tới Hà Nội phỏng vấn, Vơ Nguyên Giáp, mới biết Bắc
Việt đă nướng trên 800.000 sinh mạng bộ đội tại Miền Nam, trong thời gian qua,
trước khi tiếp tục nướng trong trận hè đỏ lửa 1972 và địa ngục Xuân Lộc tháng
4-1975. Điều này cho thấy là Cọng Sản không bao giờ thiếu nhân lực, tiếp tế lẫn
t́nh báo. Ngược lại th́ mai mỉa biết bao, trong cách đối xử của người dân ta đối
với phe ḿnh, nhất là những vùng bị giặc tạm chiếm hay là xôi đậu. Nói chung ,
Chính phủ VNCH trong suốt 20 năm, cố gắng gần như tuyệt vọng, chỉ mong mang lại
cơ hội sống tự do, no ấm cho người dân, nhưng giống như ngày trước, v́ quá khao
khát độc lập, nên người dân đă khoán trắng cho họ Hồ và đảng . Lần nữa, trong
cuộc chiến, họ cũng bỏ mất cơ hội cuối cùng. Nói như vậy để mọi người thấy rơ
thân phận của người Lính Miền Nam, qua tấm ḷng hy sinh cao cả, trong gần một
phần tư thế kỷ, phải chiến đấu ở một chiến trường bất hạnh, thù nghịch, dù rằng
những người Lính ấy, đă phải đem cái mạng sống cùng với hạnh phúc của cá nhân và
gia đ́nh ḿnh, bảo vệ làng xóm, chùa nhà thờ và sinh mạng của người dân miền
Nam, trong đó có nhiều kẻ đang chực chờ giết hại Lính. Dù vậy, bao nhiêu xương
máu của QLVNCH nói chung, đă hy sinh vô cùng ư nghĩa, phần nào đă mang đến no âm
tự do cho mọi người, dù chính quyền quốc gia chưa được toàn hảo trọn vẹn như
mong muốn, trong thời gian 1955-1975. Ra đời từ năm 1950 nhưng quân đội Quốc Gia
VN, coi như chỉ được chính thức nh́n nhận bằng văn kiện hành chánh, trong ngày
Quân Lực 19-6-1965. Sự nghịch lư này, phần nào nói lên những bất hạnh chồng chất,
đă và sắp tới với một quân đội mang đầy máu lệ, ngay từ ngày thành lập. Sự lộng
hành của báo chí và truyền thông Mỹ, gần như trong suốt cuộc chiến, đă trút hết
căm hờn lên quân đội VNCH, làm tác hại ghê gớm đến tinh thần chiến đấu của người
lính, đến nỗi nhà báo Mỹ là Robert Elegant phải ngao ngán viết rằng, chiến tranh
VN trước hết đă thua trong trận giặc miệng và nước bọt tại hậu phương.
Ngày 17-4-1961, tổng thống Mỹ John F Kenedy, nghe xúi dại của CIA, dưa 1000 quân
đổ bộ lên đảo Cuba, lật đổ Trùm Fidel Castro nhưng kế hoạch Bay of Pigs hoàn
toàn thất bại, lực lượng đổ bộ bị bắt sống gần hết và Mỹ phải đem máy cầy cùng
xe ủi đất, chuộc tù binh về. Thua me gỡ bài cào, Kenedy đem con thiêu thân Nam
VN làm vật tế thần, gở thể diện. Sứ mệnh này, được giao cho Đại Tá Lansdale, mở
cuộc chiến tranh bí mật (The Secret War) tại miền bắc VN và Lào, nói nôm na là
màn đem con bỏ chợ. Tiếp tới là sự ngây thơ của Mỹ, dại dột kư thỏa ước trung
lập Lào, giúp Bắc Việt mượn đường xăm lăng miền Nam. Cuối cùng là gởi 12.000 cố
vấn sang Nam VN, sau khi bị Trùm đỏ Liên Xô là Khrushchev nhục mạ tại bàn hội
nghi thượng đỉnh. Tóm lại như Edward Weintal và CharleBarlett viết trong '
Facing the Brink ', th́ Kenedy đă nghĩ rằng đưa vài chục ngàn cố vấn vào VN, để
buộc Hà Nội từ bỏ mộng cuồng xâm nhưng đó lại là sự điên rồ, để cho giặc có cái
cớ, gây chiến tranh xâm lược VNCH mà thôi. Máu VN bắt đầu đổ từ đó, bởi sự ngông
cuồng lếu láo của tổng thống Mỹ. Với tổng thống Lyndon Johnson, th́ t́nh trạng
VN càng thê thảm hơn, v́ rơ ràng khi lên thế chức tổng thống Hoa Kỳ, thay Kenedy
bị ám sát, Johnson chỉ v́ rất sợ bị đảng Cộng Ḥa buộc tội quá nhu nhưọc khi
đương đầu với cọng sản, nên đă đưa nước Mỹ và Miền Nam VN vào một cuộc chiến
tranh kỳ lạ nhất trong lịch sử , với sách lược ' không cho thắng '. Như John
Fisher, đô đốc của Anh đă viết :' thực chất của chiến tranh là tàn bạo, đánh
giặc mà cầm chùng là ngu xuẩn, nên muốn đạt chiến thắng, phải đánh mạnh và đánh
khắp nơi '. Theo các nhà quân sử, trong chiến tranh VN, Mỹ chỉ cần phong tỏa
đường biển, oanh tạc biên giới Việt-Hoa-Lào và cho lệnh QLVNCH tấn công trả đũa
vào Bắc Việt, th́ giặc đă yên từ lâu. Nhưng Johnson th́ làm ngược lại, hạn chế
tối đa các mục tiêu trên lănh thổ Bắc Việt, với lư do sợï chọc giận Bắc Kinh.
Tại Lào, các căn cứ của Bắc Việt được coi là bất khả xâm phạm, cấm tấn công .
Đồng thời Johnson đưa đề nghị viện trợ kinh tế, dụ Việt Cộng chấm dứt xâm lăng
Miền Nam, nên đă bị giặc Cộng khinh bĩ xem thường, v́ đă biết được con bài tẩy 'kém
nhất' trong quân bài Domino, chính là siêu cường Hoa kỳ, mà khối cọng sản lúc đó
ngạo là con cọp giấy..
Với tổng thống đảng cọng ḥa Richard Nixon , ngoài bệnh chủ quan, tự tin, tự tôn
của Kennedy, Johnson c̣n là một tổng thống Mỹ liên hệ sâu đậm nhất trong chiến
tranh VN, bị kết tội là kẻ xảo quyệt, bội tín, bất nhân, nên dân chúng Mỹ ghét
nhất . Do thành tích bán đứng Nam VN cho cọng sản đệ tam quốc tế vào ngày
30-4-1975, cũng như tội đă liên kết với trùm đỏ Mao Trạch Đông năm 1972,v́ lợi
lộc của Mỹ mà phản bội thế giới tự do, nhân quyền, nên sau 25 từ chức tổng thống
, được các nhà báo Mỹ xếp hạng, chỉ đứng trên tổng thống trốn quân dịch là Bill
Clinton. Thành tích khôi hài nhất của cặp Nixon-Kissinger là chủ thuyết '
Nixon', hay 'VN hóa chiến tranh', thực chất là cuộc chạy làng, bỏ bạn, vô liêm
sỉ của một siêu cường số 1 lúc đó và ngay cả bây giờ. Nói rơ hơn, Nixon chỉ v́
quyền lợi cá nhân, nên tuyên bố ' đơn phương' rút quân , trong lúc đang hợp đồng
chiến đấu với nhiều quốc gia khác. Đây là một sự lố bịch và c̣n tàn nhẫn đối với
sự sống chết của VNCH. Trước tin này, Hà Nội chỉ cần ngồi chờ để thừa cơ đánh
lén. Riêng những màn dội bom và đánh vào mật khu Mơ Vẹt tại Kampuchia năm 1970,
Hạ Lào 719 cũng là những tṛ bịp, dùng máu xương của QLVNCH lót đường cho cặp
Nixon-Kissinger , mua thời gian cho quân Mỹ về nước sớm hơn hai năm, trước khi
Nixon tái ứng cử vào năm 1972. Trong hồi kư ' A Sldier's Report ' của tư lệnh Mỹ
tại VN, tướng Westmoreland đă vô cùng cảm phục và thương xót người lính VNCH,
tham dự trong chiến dịch Lam Sơn 719. Ông đánh giá cao QLVNCH, khi cho biết,
chính kế hoạch này là của Kissinger, định dùng 60.000 quân Mỹ nhưng rồi thấy
không chắc thắng trận, nên đă bỏ ư định và bắt ép tổng thống Nguyễn Văn Thiệu
thi hành. Theo sử liệu, trong trận này, VNCH chỉ có 17.000 quân và dù bị tổn
thất nặng, do Mỹ thất hứa không yểm trợ đủ hỏa lực pháo và không yểm, nhưng Sư
Đoàn 1 Bộ Binh cũng đă đạt được mục đích cuối cùng, là đặt chân vào cứ điểm
Tchepone như Nixon mong muốn. Tóm lại suốt cuộc chiến 1960-1975, người Mỹ lúc
nào cũng muốn QLVNCH chiến thắng cọng sản quốc tế, trong khi chính ḿnh không
làm được. Vô lư hơn là bó buộc người lính Miền Nam phải chiến đấu, trong khi
không cung cấp đầy đủ vũ khí, quân dụng, kể cả việc ngăn cấm không cho tấn công
giặc. Chưa hết, chỉ vài ngày sau khi Nixon nhậm chức tổng thống lần 2, th́ quốc
hội đảng dân chủ Hoa kỳ, đă cắt xén những hứa hẹn mà Nixon hứa với Nam VN trước
khi VN hóa. Tồi bại nhất là quốc hội của đảng dân chủ, đ̣i Nixon phải tiết lộ bí
mật quốc pḥng, để kịp báo cho Hà Nội , tấn công VNCH. Cuối cùng lư do mà Việt
Cộng phải kư với Mỹ tại Ba Lê tháng 1-1973, nói chung là không c̣n chịu nổi
những đợt oanh tạc khủng khiếp và hàng rào thủy lôi quanh hải cảng Hải Pḥng
nhưng trên hết, theo tố cáo của nhân chứng Stephen Young, v́ cặp Nixon-Kissiger
cam kết với VC, là sẽ không đ̣i quân Bắc Việt rút về lại bên kia vỹ tuyến 17 như
tinh thần hiệp định Genève 1954, nên Hà Nội mới kư THỎA HIỆP BỊP, c̣n Mỷ th́ kư
BẢN KHAI TỬ VNCH. Sau này chính Stephen Young đích thân tới hỏi Nixon, có biết
Kissinger tự ư sửa ' Bản đề nghị ngưng bắn của đại sứ Mỹ ở VN là Bunker không ',
Nixon trả lời ' KHÔNG '. Một điều bí mật khác, là Kissinger trong thời gian hành
sử chức vụ Tổng Trưởng Ngoại Giao và Cố Vấn An Ninh Quốc Gia cho TT.Mỹ, đă hoàn
toàn học theo đúng sach lược của tên điệp viên Pháp thân cộng Jean Saintery (
đại diện phe De Gaulle năm 1945 ), một kẻ đă từng hợp tác với Hồ Chi Minh, để
thực dân Pháp công khai trở lại Bắc Việt năm 1946. Chính Saintery đă chỉ dậy bài
bản , giúp Kissiger bán đứng Nam VN cho Hà Nội, gián tiếp trả thù việc chính phủ
VNCH theo Mỹ, hất chân thực dân ra khỏi đất Việt. Cũng liên quan tới Người Lính
VNCH, qua tài liệu của MACV mới phổ biến, cho biết, suốt cuộc chiến, Nam VN đă
có nhiều binh sĩ đào ngũ nhưng đó lại là một điều rất kỳ lạ, v́ Lính đào ngũ
không phải để đầu hàng Việt Cộng, mà họ muốn trở về nguyên quán đầu quân vào các
đơn vị địa phương, để chiến đấu gần gia đ́nh ḿnh. T́nh yêu quê hương của người
Việt là vậy đó, chỉ khi nào không c̣n con đường nào khác để lựa chọn, họ mới
đành gạt lệ bỏ xứ mà trong đau khổ. Cho nên đâu lạ, năm 1954, chia đôi đất nước,
không riêng ǵ 300.000 binh sĩ và gia đ́nh của Quân đội Quốc Gia, mà c̣n cả
triệu người dân b́nh thường khác, đứt ruột, ĺa nơi chôn nhao cắt rún ở miền Bắc,
để di cư vào Nam, v́ họ không muốn sống chung với cọng sản bạo tàn. C̣n Dwight
Owen cố vấn My,ơ th́ nói QLVNCH không có những thứ tối thiểu mà các quân đội
nước khác có, từ lương bổng, khẩu phần hành quân, nghĩ phép..tới t́nh thương
làng xóm. Chính những điều này làm giảm sút tinh thần và hiệu năng chiến đấu.
Nhưng tất cả cũng đều là phép lạ, khiến cho người lính Miền Nam vẫn tiếp tục
chiến đấu cho đến giờ phút cuối cùng tại Sài G̣n, trong khi Quân Đoàn 4 vẫn an
toàn và chờ Chính phủ trung ương di chuyển tới, để lại tiếp tục chiến đấu, th́
có lệnh buông súng đầu hàng giặc. Tổng thống Nixon những ngày cuối đời, trong
tác phẩm ' No more Vietnams ' nói rằng nếu tin vào báo chí Hoa kỳ, th́ VNCH
không c̣n tồn tại sau khi Mỹ rút quân hoặc khi Mỹ chưa tới giúp. Điều này cho
thấy QLVNCH rất anh dũng, kiêu hùng và qua những bản phân tích quân sự khách
quan, th́ lính miền nam giỏi gấp 10 lần bộ đội miền bắc về mọi mặt, kể cả nhân
cách và t́nh người. Phân tích gia Allan Goodman, năm 1983 trong cuộc hội thảo đề
tài rút kinh nghiệm chiến tranh VN, quy tụ 50 học giả, tại Smithsonian Hoa Kỳ,
đă ca tụng tinh thần chiến đấu anh dũng của người lính miền nam, họ đă tử trận
trên 200.000 người và hơn nửa triệu thương binh. Nhưng có lẽ mai mỉa nhất là lời
của Lewis Walt, tướng Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ đă viết :
' Không phải ngồi biểu t́nh, ăn chơi,trốn lính đi tu hay làm báo, viết văn, lấy
Mỹ tại Sài G̣n-Huế, mà có một con số chết và bị thương như vậy'.
2-SƯ
ĐOÀN 18BB VÀ CÁC ĐƠN VỊ TĂNG VIỆN, TỬ CHIẾN VỚI CỌNG SẢN QUỐC TẾ TẠI XUÂN LỘC
THÁNG 4-1975 :
Sau ngày Sài G̣n thất thủ, ngày 2-5-1975 Peter Kahn chủ bút Wall Street Journal,
giải báo chí Pulitzer, đă viết bài truy điệu Nam VN đăng trên báo này ' Quả thật
sau cùng, quân lực VNCH đă ră ngũ v́ tuân theo lệnh của tổng tư lệnh quân đội
lúc đó, là tổng thống hai ngày Dương Văn Minh. Nhưng đó không phải là một quân
lực hèn nhát hoặc vô dụng, v́ có một vài phần tử quan quyền đào ngũ chạy theo Mỹ.
Sự thật , quân đội VNCH rất vững mạnh và chiến đấu dũng cảm khắp các mặt trận,
đăc biệt là từ mùa hè đỏ lửa 1972 tại Quảng Trị, Kon Tum, B́nh Định và An Lộc.
Đó là một quân đội xứng đáng được biết ơn, ca tụng v́ đă giữï được từng mảnh đất
quê hương, trước cuộc xâm lăng của cọng sản quốc tế, trong nhiều năm qua. Và
cuối cùng vào những tuần lễ chót của tháng tư, khi người Mỹ đă chấp nhận đầu
hàng giặc, th́ người Lính VNCH vẫn tiếp tục chiến đấu khắp nơi, và mặt trận XUÂN
LỘC đă trở thành mồ chôn tập thể của những kẻ xâm lăng, bạo tàn. Nhờ vậy, một số
người , VN lẫn My,ơ mới có cơ hội trốn chạy ra ngoại quốc, thoát được cảnh tù
đầy địa ngục, chốn nhân gian cùng khốn tận tuyệt của cơi đời, khi rợ Hồ từ miền
Bắc vào Nam làm chủ. Một số it này, hiện nay, dù đă cuối đời nhưng vẫn không giữ
nổi khi phách và danh phận của đấng trượng phu, tướng lănh, trí thức , khi đă
quay lưng phản bội dân tộc, bôi mặt hợp tác với giặc, đề dầy xéo thêm nỗi đau
tận tuyệt của đồng bào ḿnh trong suốt 30 năm quốc hận, đối lấy chút hư danh cặn
thừa trong vũng bùn ô uế xă nghĩa. Đây là những h́nh nộm nói tiếng người, hằng
ngày được VC bêu xấu trên báo chí, để miệng đời bôi bác rủa trù, chẳng những
riêng chúng, mà lây xấu tới con cái ḍng họ.
Tháng tư ở Long Khánh, trời thường đổ những cơn mưa rào như trút nước, nhiều lúc
lính đang hành quân trong rừng, có cảm tưởng như ḿnh đang lênh đênh bơi trong
biển khổ của cuộc đời.
Và tháng tư năm 1975, trời h́nh như biết trước cơn băo táp của miền Nam, nên đổ
mưa rất sớm. Trong mưa có gió, nên khiến cho cả thị xă Xuân Lộc, đỏ ối một màu
v́ xác hoa phượng vĩ ven đường, bị gió mưa dồn dập.
'..đêm
nay Xuân Lộc, vầng trăng khuyết
như một vành tang trắng đất trời
chân theo quân rút, hồn ta ở
nghe nước La Ngà cuồn cuộn trôi
..em ơi tiếng tắc kè thê thiết
gọi giữa đêm dài quá lẽ loi
chân bước, nửa hồn chinh chiến dục
nửa hồn Xuân Lộc, gọi quay lui..'
( thơ của Nguyễn Phúc Sông Hương).
Xuân Lộc là chiếc nôi đầu đời, mà người lính Tiểu Đoàn 1, Trung Đoàn 43 Biệt Lập,
của Đại uư Ngô Văn Diệp, từ miền xa cao nguyên Di Linh, tới hành quân và tru
đóng vào giữa tháng 4-1964, coi như là đơn vị tiền phương thành lập Sư Đoàn 10
bô binh vào ngày 16-5-1965, gồm ba Trung Đoàn biệt lập, kỳ cựu của quân lực VNCH
là Trung Đoàn 43, 48 và 52. Trung Đoàn 43 bô binh thoát thai từ Trung Đoàn 404
thành lập tại Phan Thiết ngày 1-8-1954, trước khi biệt lập, trực thuộc SD5 khinh
chiến, từng tham dự các chiến dịch Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Huệ..tại Nam Phần vào
năm 1955. Trung Đoàn 48 bộ binh thoát thai từ Trung Đoàn 203 bộ binh, gồm các
tiểu đoàn 47, 702 và 52. Sau đó cải thành Trung đoàn 48 bộ binh, thuộc Sư Đoàn
16 khinh chiến, gồm các Trung Đoàn 46, 47 và 48. Năm 1958 qua đợt cải tổ, SD16
khinh chiến bị băi bỏ, các Trung Đoàn 46,47 và 48 trở thành biệt lập. Sau này,
Trung Đoàn 47 bô binh cùng với Trung Đoàn 43 qua nhiều lần hoán đổi đơn vị, để
trực thuộc SD23 bộ binh, cuối cùng Trung Đoàn 46 thuộc SD25BB, Trung Đoàn 47
thuộc SD22 BB và Trung Đoàn 48 thuộc SD 18BB. Riêng Trung Đoàn 52 được thành lập
ngày 1-12-1954 tại Đệ 1 Quân Khu, gồm các Tiểu Đoàn 54 BVN, 704 và 713. Về Trung
Đoàn này, ngày 14-2-1968, tướng Wheeler, chủ tịch Liên quân Mỹ,khi trả lời với
báo chí,trong cuộc điều trần trước Hạ Viện Mỹ, là sáng nay tướng Westmoreland có
báo, là đă tới thăm Trung Đoàn 52 biệt lập, đóng ở phía nam Đà Nẳng, để chúc
mừng và tưởng thưởng cho Họ v́ đă chận đứng được Sư Đoàn 2 Bắc Việt , trong mưu
toan chiếm Đà Nẳng, vào Tết Mậu Thân. Hai tiểu đoàn nổi tiếng nhất của SD18/BB
là TD2/43 của Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế và TD1/52 của Đại Uư Nguyễn Văn Út, nhiều
lần được vinh danh trước quân đội, v́ thiện chiến và là đơn vị bắn cháy nhiều xe
tăng của Bắc Việt tại trận địa. Năm 1974, hai chiếc T54 và PT76 của Bắc Việt, bị
hai đơn vị trên bắn cháy, được kéo về làm kiểng trước sân Dinh Độc Lập, sau khi
mất nước, mới bị VC phi tang. Sư Đoàn 10 BB sau đổi thành SD18BB vào ngày
1-1-1967 qua đề nghị của Tư lệnh lúc đó là Chuẩn tướng Đổ Kế Giai. SĐ mang phù
hiệu Nỏ Thần, đang lướt trên hai nền màu xanh da trời đậm và lợt, tượng trung
cho bước chân của lính trong cơi mông mênh cùng tận, mà Nguyễn Cộng Trứ khi đề
cập tới chí nam nhi, đă viết : ' tang bồng hồ thỉ nam nhi trái, làm cho bách thế
lưu phương, trước là sĩ sau là khanh tướng '. Từ năm 1965-1969 qua các tư lệnh
như Đại Tá Nguyễn Văn Mạnh (16/5/1965-10-8-1965), Chuẩn Tướng Lữ Lan
(10/8/1965-15/9/1966), Đại Tá Đổ Kế Giai (15/9/66-20/8/69), trong giai đoạn này,
Sư Đoàn 18BB bao vùng Khu 31 Chiến Thuật, gồm các tỉnh B́nh Tuy, Long Khánh,
Biên Ḥa, Phước Tuy và Đặc Khu Vũng Tàu, thuộc Vùng III Chiến Thuật. Từ ngày
20-8-1969 tới 4-4-1972,tư lệnh là Thiếu tướng Lâm Quang Thơ, v́ bị Quân Đoàn
III, chia chặt thành từng mănh, tăng phái khắp nơi, dưới quyền của các SD5 và 25
BB, nên binh sĩ có mặc cảm là đơn vị trừng giới, khiến cho SD18BB, bị xếp hạng
chót trong bảng xép hạng đơn vị thuộc QLVNCH..
Cá sống nhờ nước, lính chiến đấu giỏi khi gặp được cấp chỉ huy tài ba, can
trường, thương lính và trên hết phải biết lội với lính trước súng đạn.. Ngày xưa,
qua huyền thoại, điển tích và sách vở, ta biết giai nhân cùng danh sĩ, như có
duyên nợ với nhau từ tiền kiếp. Dương Chí Hoán đời Đường, nổi danh nhờ một ca kỹ
hát bài Lương Châu Từ của ḿnh. Tô Đông Pha làm giúp một bài phú cho ca nhi
Triệu Vân, mà lấy được một người vợ tài hoa ư hợp nhưng cảm động hơn hết, có lẽ
là Giang Châu Tư Mă-Bạch Cư Dị (772-846), trong một đêm mưa rơi tầm tả, tiễn bạn
trên Bến Tầm Dương, t́nh cờ gặp lại người ca kỹ năm nào nổi danh tài sắc chốn
Trường An, qua một bản đàn tuyệt diệu, Danh Sĩ đă cảm hứng viết Trường Ca ' Tỳ
Bà Hành' cổ kim bất hủ. Trong đời binh nghiệp cũng vậy,suốt cuộc chiến VN, những
nguời lính nhảy dù, biệt kích, thủy quân lúc chiến, biệt động quân..được đồng
bào miền nam thân thương quen gọi là các thiên thần, bởi v́ hầu hết các đơn vị
trên đă có nhiều cấp chỉ huy tài ba can trường. Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Đại Tá Ngô
Tấn Nghĩa..luôn ḥa ḿnh với thuộc cấp của ḿnh tại các tiền đồn hẻo lánh,bên
những đơn vị nghĩa quân, cảnh sát dă chiến,xây dựng nông thôn và địa phương quân
tại chiến trường.Nhờ vậy hai tỉnh Chương Thiện-B́nh Thuận, bị cọng sản quậy phá
nhiều nhất, lại là hai địa phương an ninh hạnh phúc cho tới 30-4-1975. Tổng
thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu (1967-1975) dù bị lịch sử phán xét thế nào cũng kệ
nhưng rơ ràng nhất, ông là một cấp lănh đạo can đảm, biết chia xẻ gian lao, máu
lệ với người chiến sĩ đang lăn xả trong bom đạn sa trường nguy hiểm nhất, ngay
lúc trận tuyến chưa im tiếng súng, tại Quảng Trị, KonTum, An Lộc, B́nh
Định..Tương tự, những người lính Nỏ Thần Miền Đất Đỏ, đă tao phùng-kỳ ngộ với
một cấp chỉ huy năng động, thích hợp với những lính biệt lập 43,48 và 52 đă từng
bị đầy ải khắp mọi miền đất nước, đâu có khác ǵ các Đơn Vị Biệt Động Quân Biên
Pḥng, Biệt Lập, không biết ai là Cấp Ch́ Huy tối cao của ḿnh. Đây cũng là một
trong những yếu tố then chốt, đă vực dậy một Đại Đơn Vị sắp quỵ v́ quá nản phiền.
Nhờ đó mà SD18BB từ đội đít, lần lần dọc ngang và cuối cùng, đứng ưỡn ngực với
các Đơn Vị khác của Quân Lực trong bảng xếp hạng cuối đời.
Ngày 4-4-1972, Đại Tá Lê Minh Đảo làm Tư Lệnh SD18BB, thế Thiếu Tướng Lâm Quang
Thơ. Gọi là Sư Đoàn Trưởng cho oai, chứ lúc đó quân số c̣n lại của SD18BB vỏn
vẹn chỉ có DD18 Trinh Sát, DD48 Trinh Sát và 1 Tiểu Đoàn của Trung Đoàn 48BB.
Tất cả lính của Sư Đoàn từ Thiết Đoàn 5 kỵ binh, Trung Đoàn 43, 48, 52 đều bị
Quân Đoàn III xử dụng, tận góc biển chân mây, khiến cho Tư Lệnh SD18BB lúc đó,
thật ra c̣n thua Tiểu Đoàn Trưởng, v́ trong tay không c̣n một đơn vị nào thuộc
về ḿnh., để chỉ huy xử dụng. Khởi sự từ con số không, Tướng Đảo, một sĩ quan
thường bị cười nhạo là hành chánh v́ quẩn quanh chỉ làm quận trưởng, tỉnh trưởng.
Nhưng đó là một nhận xét có ác ư ganh tỵ, v́ qua kinh nghiệm lịch sử cận đại VN,
không thiếu ǵ những vị tá, tướng..một đời lăn xả ngoài trận mạc, vẫn không được
đời xưng tụng là tài giỏi. Để chứng minh người thật việc thật, tri hành phải hợp
nhất, qua việc hành sử lúc ban đầu, với số đơn vị ít ỏi trong tay, đă biết khôn
khéo, cũng như bỏ cái quan niệm ' lính chính quy-lính bảo an', trong việc phối
hợp hành quân cùng các Đơn Vị Địa Phương Quân, Nghĩa Quân và B́nh Định Xây Dựng
Nông Thôn, kể cả Cảnh Sát Dă Chiến (Lúc đó toàn là chủ lực quân biệt phái hay
thuyên chuyển về gần nhà).. tại các Tiểu Khu Long Khánh, Phước Tuy, nên chỉ một
thời gian ngắn đă b́nh định xong vùng này. Rồi th́ lần lượt Quân Đoàn III, trả
lại các Trung Đoàn cơ hữu của SD18BB cho tướng Đảo. Lúc đó,Trung Đoàn 52BB, đang
hành quân tại B́nh Long, Trung Đoàn 48BB trách nhiệm giữ nhà, nên chỉ c̣n Trung
Đoàn 43 của Trung Tá Lê Xuân Hiếu, cùng tư lệnh là Đại Tá Đảo, xông pha hầu hết
các miền đất dử của VC lúc bấy giờ , dẹp tan chiến khu Chà Rầy, Trung Lập, Củ
Chi để giải vây cho quận Trảng Bàng. Tiếp đến, Trung Đoàn 43 và Tướng Đảo lại
vào Bến Súc, Dầu Tiếng, giải vây Đồn Điền Michelin, giữ được con đường huyết
mạch từ B́nh Dương-Bến Cát, mà trong trận Mùa hè đỏ lửa 72, quân tiếp viện của
ta sử dụng để vào An Lộc. Tới cuối tháng 6-1972, SD5BB của Tướng Lê Văn Hưng,
tuy vẫn giữ vững An Lộc nhưng đă bị tổn thất nặng nề, nên được điều động ra khỏi
trận địa. Các đơn vị tăng phái của Vùng 4 CT như SD21BB, Trung Đoàn
15/SĐ9BB..cũng được trả về bản địa. Do trên, Quân Đoàn III, sau khi hoàn lại đủ
quân số cho Tướng Đảo, đă điều động toàn bộ SD18BB vào An Lộc, phối hợp với Liên
Đoàn 5 Biệt Động Quân của Trung Tá Ngô Minh Hồng, chiếm lại toàn vẹn lănh thổ
B́nh Long. Tháng 12-1972, sắp đến ngày kư Hiệp Định Paris, nên VC lại ồ ạt dành
dân chiếm đất, v́ vậy QDIII giao B́nh Long-An Lộc cho Biệt Động Quân và sử dụng
SD18BB như một đơn vị Tổng Trừ Bị của Quân Đoàn. Thời Trung Tướng Phạm Quốc
Thuần thay Tướng Nguyễn Văn Minh làm Tư Lệnh QDIII, ngày 7-11-1973 đă cho tái
lập lại Lực Lượng 3 Xung Kích, trước sau vẫn do Chuẩn Tướng Kỵ Binh Trần Quang
Khôi, là một trong những tướng lănh tài ba, anh hùng của QLVNCH chỉ huy. Đại đơn
vị này có bảng cấp số tương đương với một sư đoàn bộ binh nhưng về hỏa lực có
phần hùng mạnh hơn v́ được phối hợp tác chiến giữa bộ, thiết giáp và pháo binh.,
gồm 3 Chiến Đoàn Thiết Giáp 315,318 và 322. Các Chiến Đoàn đều tổ chức giống
nhau, gồm 1 Tiểu Đoàn BDQ, 2 Chi Đoàn Thiết Vận Xa 113, 1 Chi Đoàn Chiến Xa M48,
1 pháo đội cơ động 105 ly gắn trên xe M548 và 1 Trung Đội Công Binh. Đây là đơn
vị trừ bị thứ 2 của QDIII, sau ngày kư hiệp định Ba Lê năm 1973. Từ đó chiến
cuộc càng ngày càng tàn khốc, Bắc Việt ngoài số bộ đội có sẵn được Mỹ cho ở lại,
c̣n có nhiều sư đoàn khác cũng ào ạt vào Nam, v́ đường ṃn Hồ Chí Minh coi như
đă bị bỏ ngơ, tấn công khắp mọi nơi nhưng dữ nhất vẫn là những địa danh sát nách
Sài G̣n như Định Quán, Củ Chi, Tam Giác Sắt, Phước Tuy..hầu hết những vùng trên
đều thuộc trách nhiệm của SD18BB. Tóm lại, từ năm 1972 tới đầu năm 1975, SD18BB
dưới quyền của Tướng Lê Minh Đảo, gần như xông pha trăm trận, nên đă hy sinh rất
nhiều quân nhân các cấp. Nhờ vậy mà người lính Nỏ Thần đă trưởng thành trong
khói lửa, quân kỳ của Sư Đoàn được gắn nhiều anh dũng bội tinh, mang giây biểu
dương màu quân công bội tinh, nhờ niềm hănh diện đó, dân và lính miền đất đỏ, đă
đánh một trận cuối cùng với giặc tại Xuân Lộc, vừa rửa hận cho Dân-Nước, vừa lưu
danh ngàn đời trong Việt Sử, chống ngoại xâm do Bắc Việt mang từ Nga-Tàu về.
Tháng 4-1974, Thượng Viện Hoa Kỳ cắt giảm viện trợ cho Nam VN. Tại chiến trường,
Bắc Việt xé bỏ hiệp ước vừa kư tại Ba Lê năm 1973, tấn chiếm Thường Đức và Trại
Tống Lê Chân. Ngày 9-8-1974, Nixon từ chức tổng thống v́ vụ Watergate mang theo
hẹn hứa giúp VNCH xuống mồ, v́ Ford lên thay không bao giờ đếm xỉa tới., hoặc có
muốn giúp miền Nam, th́ nói cũng chẳng ai nghe, v́ ông không phải là vị tổng
thống do dân bầu lên theo luật định. Trước t́nh h́nh hỗn độn chính trị tại
Mỹ,Bắc Việt tấn công và chiếm tỉnh Phước Long nhưng Hoa Kỳ vẫn im lặng, c̣n Ford
theo B.Paulmer trong ' The 25 th year war ' năm 1984, đă tuyên bố là Hoa Kỳ dứt
khoát không can thiệp vào chiến tranh VN. Thế là Hà Nội hồ hởi xâm lăng Miền
Nam. Ngày 10-3-1975 đánh thành phố Ban Mê Thuột. Ngày 14-3-1975 rút bỏ cao
nguyên bằng Liên tỉnh lộ 7, Pleiku-Phú Bổn-Phú Yên. Ngày 20-3-1975 bỏ Huế, Quảng
Trị. Nói chung hai cuộc lui quân, làm hàng trăm ngàn đồng bào vô tội, gia đ́nh
binh sĩ , chết và bi thương thảm thiết v́ hỏa lực của cọng sản, bắn nhắm vào
những người dân lánh nạn, trong đó phần lớn là người già, đàn bà, trẻ thơ vô tội.
Tổng thống Thiệu, Thủ Tướng Khiêm, Đại Tướng Cao Văn Viên..chỉ một phút quyết
định ngắn ngủi tại Cam Ranh đă làm mất 2/3 lănh thổ, hủy diệt một nửa lực lượng
quân lực tinh nhuệ của VNCH, trong đó có các Đại đơn vị ưu tú như SD Dù, Thủy
Quân Lục Chiến, SD1,23 BB và các Liên Đoàn BDQ..Như vậy sau ngày 2-4-1975, Quân
Đoàn 1 mất hẳn, QD2 chỉ c̣n Ninh Thuận-B́nh Thuận, nên sáp nhập vào Quân Đoàn
III. Phan Rang-Phan Thiết và Xuân Lộc, trở thành vùng hỏa tuyến, v́ là cửa ngỏ (
quốc lộ 1 - 20), để Bắc Việt vào Sài G̣n. Để tấn công Long Khánh -Xuân Lộc, cọng
sản quốc tế Bắc Việt, tung vào chiến trường Quân Đoàn 4, gồm 3 Sư Đoàn 6, 7 và
341 và Sư Đoàn 7 Việt Cộng, do tướng Bắc Việt là Hoàng Cầm và Hoàng Thế Thiệp
chỉ huy. Về VNCH, ngoài SD 18 BB với các Trung Đoàn 43 của Đại Tá Lê Xuân Hiếu,
Trung Đoàn 48 của Trung Tá Trần Minh Công, Trung Đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng,
Thiết Đoàn 5 của Trung Tá Nguyễn văn Nô, Tiểu Khu Long Khánh của Đại Tá Phạm văn
Phúc và các Đơn vị tăng phái như Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù của Đại Ta Nguyễn văn Đỉnh,
đặc biệt là Tiểu Đoàn 82 BDQ, thuộc LD24BDQ , của Thiếu Tá Vương Mộng Long, từ
Quảng Đức, Lâm Đồng di tản về Xuân Lộc..cùng với các SD 3,4 và 5 Không Quân, kể
luôn các đơn vị Truyền Tin, Công Binh., đả đánh với quân xâm lăng cọng sản quốc
tế, một trận để đời , như các trận Chí Lăng, Bạch Đằng, Chương Dương, Xuân Kỹ
Dậu, Rạch Gầm Xoài Mút, mà tổ tiên ta đă lưu lại ngh́n đời muôn kiếp cho con
cháu sau này, trong ḍng sử Việt.. Ngày nay đọc những trang sử trong cũng như
ngoài nước, từ người thương cho đến kẻ thù Việt Cộng, kể cả bọn ăn cơm quốc gia
thờ Hồ tặc, tất cả đều hớn hở hoặc cúi mặt, kính chào và ngưỡng mộ, cuộc chiến
đấu thần thánh của người lính VNCH, trong lúc đất nước đă tận tuyệt, gần hết cấp
lănh đạo tối cao cơng vợ con và vàng bạc chạy theo Mỹ để cầu sinh, giữ chức.
Giữa giờ thứ 25, trong lúc bên ngoài th́ Đồng Minh phản bội, bên trong đầy rẩy
bọn trí thức, cha-sư, đầu hàng giặc Cộng, toa rập trù dập và đâm sau lưng người
lính trí mạng. Trong ' Đại thắng mùa xuân', Văn Tiến Dũng, tổng tư lệnh bộ đội
cọng sản Bắc Việt, đă thú nhận rằng ' Mặt trận Xuân Lộc vô cùng ác liệt và đẫm
máu ngay từ ngày đầu tiên. Các sư đoàn 6,7,341 của ta, dù đă tấn công nhiều lần
vào thành phố Xuân Lộc, nhưng nhiều lần đều gặp phải sức kháng cự mănh liệt của
Trung Đoàn 43 địch, nên bị tổn thất nặng nề. Các đơn vị pháo của ta, đă sử dụng
nhiều hơn cơ số đạn dược dự trù. Số lớn tăng và xe bọc thép bị bắn cháy..' , c̣n
D.Todd người kư giả Pháp thân cộng, trong tác phẩm ' Cruel April, the fall of
Sai Gon ', đă viết ' tinh thần binh sĩ tại Xuân Lộc rất cao, hệ thống truyền tin
rất tốt, các đơn vị Dù và BDQ đă đến, đường Sài G̣n được thông. Các Sĩ quan
QLVNCH đang gọi pháo binh và không yểm rất chính xác và nhanh chóng. T́nh trạng
chiến đấu của họ, gần giống như lúc c̣n quân đội Mỹ yểm trợ..' Như vậy qua hai
lời phê phán trên, ta biết mặt trận Xuân Lộc vô cùng ác liệt và tinh thần chiến
đấu của người lính VNCH dũng mănh phi thường. Được như vậy, trước hết theo lời
của tướng Lê Minh Đảo, tư lệnh Sư Đoàn 18 BB cũng là Tư lệnh Mặt Trận Long Khánh
-Xuân Lộc từ ngày 8-4-1975 tới ngày 20-4-1975, đó là tinh thần của người lính
quyết tâm chiến đấu tới cùng, v́ từ trên xuống dưới không một ai đào ngũ hay bỏ
theo giặc. Thứ hai do ta chủ động trận địa và sau rốt là tinh thần binh sĩ ổn
định, khi thấy gia đ́nh ḿnh đă được di tản về hậu phương an toàn tại Biên Ḥa.
* CHIẾN TRƯỜNG XUÂN LỘC *
Chiến trường Xuân Lộc gồm 3 mặt trận chính : Mặt trận Ngă ba Túc Trưng,, thành
phố Xuân Lộc và Khu vực Núi Chứa Chan-Gia Ray. Do nắm được t́nh h́nh chính sự,
biết chắc khi Phan Thiết-Lâm Đồng thất thủ, Bắc Việt sẽ xuyên qua QL1 và 20 để
về tấn chiếm Sài G̣n. Do trên Xuân Lộc sẽ là chiến địa đẫm máu. Biết như vậy,
cho nên tướng Đảo sớm chuẩn bị trận địa để chờ. Trườc hết, khuyến khích dân
chúng có phương tiện, nên về lánh nạn binh lửa ở Biên Hoà hay Sài G̣n. Đồng thời
cho di chuyển trại gia binh, bệnh viện, thương bệnh binh cùng các pḥng sở
chuyên môn về hậu cứ tại Long B́nh, làm một đầu cầu tiếp vận từ Trung ương tới
Chiến trường. Tại Long Khánh, tướng Đảo cho sửa sang tất cả các pḥng tuyến
trong cũng như ngoài thị xă, đào giao thông hào khắp nơi, để chuẩn bị chiến đấu
lâu dài. Chiếm lại tất cả các vị trí cao quanh Xuân Lộc, để quan sát địch từ mọi
hướng. Đem tất cả pháo dấu trong các vị trí đào sẵn, một số câu lên núi Thị và
giao cho TD2/43 cuả Thiếu Tá Nguyễn Hửu Chế bảo vệ, chỉ để lại 2 khẩu cho Tiểu
Khu Long Khánh và 2 khẩu khác cho Chiến Đoàn 43 của Đại Tá Lê Xuân Hiếu, trong
thị xă Xuân Lộc sử dụng mà thôi. Lại đặt ba bộ chỉ huy Sư Đoàn, một tại Xuân Lộc,
một tại Tân Phong và một trên núi Thị có TD2/43 bảo vệ. Tất cả các Bộ Tư Lệnh
Hành Quân, đều giống nhau, được thiết kế đầy đủ máy móc truyền tin kể cả đài
siêu tầng số. Trong số này, BTL/HQ trên núi Thị giao cho Thiếu Tá Nguyễn Hữu Chế,
TDT/TD2/43 trách nhiêm, như một đài liên lạc giữa Tướng Đảo và Quân Đoàn cũng
như các cấp tại Trung Ương, nhờ máy móc siêu tần đặt trên núi cao nên rất mạnh.
Ngoài ra, nhờ có ba BTL/HQ nên tướng Đảo để di chuyển liên tục, tránh phao địch.
Về Truyền Tin của Ta cũng rất tài giỏi, nhờ thế nên đă bắt và giải mă được tần
số của giặc, gần như biết trước lệnh tấn công của các đơn vị Bắc Việt, nên đă
tránh được rất nhiều tổn thất. Riêng bộ tham mưu của SD18BB lúc đó gồm có :
Tướng Lê Minh Đảo là tư lệnh SD, Đại Tá Lê Xuân Mai tư lệnh phó, Đại Tá Huỳnh
Thao Lược - tham mưu trường SD, Đại Tá Hứa Yến Lến - tham mưu phó hành quân tiếp
vận và Đại Tá Dương Phun Sang - chánh thanh tra SD.. Theo tất cả các cấp chỉ huy
thuộc SD18BB c̣n sống , hiện đang ở Mỹ, hầu hết ai cũng xác nhận một sự thật rất
quan trọng, đó là khi quân Bắc Việt bắt đầu tấn công vào Xuân Lộc, th́ Tướng Lê
Minh Đảo đang có mặt tại Bộ Tư Lệnh Tiền Phương của SD18BB tại căn cứ Long B́nh
và chỉ một vài giờ sau đă bay vào biển máu bom đạn và xác người tại trận địa
Xuân Lộc. Trong lúc đó, đại úy Nguyễn Khiêm, trưởng ban ba của TrD43/18 v́ công
vụ cũng có mặt tại Long B́nh và chính Tướng Đảo đă ra lệnh cho phi công chiếc
C&C của TL, chở ông ta vào BTL/HQ tại Tân Phong. Bốn ngày đầu chưa có Lữ Đoàn 1
Dù tăng viện nhưng Chiến Đoàn 43 và các Tiểu Đoàn Địa Phương Quân thiện chiến
của TK Long Khánh, cùng TD82 BDQ vẫn giữ được Xuân Lộc. Từ ngày 12/4/75 , Lữ
Đoàn 1 Nhảy Dù của Đại Tá Đỉnh tăng viện, đảm trách mặt trận Gia Ray-Chứa Chan,
nên tướng Đảo đả dùng Trung Đoàn 48 và Thiết Đoàn 5 kỵ binh, làm lực lượng tiếp
ứng khắp nơi. Cũng theo tướng Đảo , trong trận Long Khánh, chỉ có cứ điểm Ngă Ba
Túc Trưng, do Chiến Đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng trấn giữ, là khó khăn và ác
hiểm nhất nhưng quân ta dù lực lượng ít ỏi so với quân biển người của Bắc Việt,
vẩn anh dũng chống cự. Oanh liệt nhất là trận Đồi Móng Ngựa, chỉ có hai đại đội
của TD3/52 do Thiếu Tá Phan Tấn Mỹ, tức nhà văn nổi tiếng Ư Yên làm Tiểu Đoàn
Trưởng, đă giữ vững vị trí từ ngày 10-4 tới 15-4-75, qua nhiều đợt tấn công biển
người, cấp Trung Đoàn của SD6 Bắc Việt. Trận tử chiến trên Đồi Móng Ngựa cũng
như hai trái bom con heo tại Dầu Giây -Túc Trưng, đều là những huyền thoại đẹp
nhất trên những trang cận sử vừa nở hoa vừa loang đỏ máu, mà sau này mỗi khi đọc
tới, chắc ai cũng không thể ngăn nổi giọt nước mắt muộn màng, để khóc tủi cho
những người lính trận năm nào, đă v́ ai mà xả thân không tiếc hận. Đánh măi
không lấy được Xuân Lộc, Văn Tiến Dũng điều động Trần văn Trà thay Hoàng Cầm
nhưng chiến trường vẫn không thay đổi. Do trên Trà một mặt để SD7 VC ở lại cầm
chân SD18 BB và Dù tại Xuân Lộc, mặt khác tấn công biển người vào các vị trí của
Chiến Đoàn 52, mở một đường máu từ Túc Trưng xuyên qua Biên Ḥa, đối mặt với các
Đơn Vị pḥng thủ của Lực Lượng 3 Xung Kích, của tướng Trần Quang Khôi. Riêng
Chiến Đoàn 52 của Đại Tá Dũng, tuy bị tổn thất gần 1/2 quân số, nhưng cuối cùng
vẩn mở được đường máu Từ ngảø ba Túc Trưng về Biên Ḥa.
* HAI TRÁI BOM DAISY CUTTER VÀ CUỘC LUI QUÂN CỦA
SD18 *
Trong ' Đứa con cầu tự ', ông Nguyễn Cao Kỳ nguyên Thiếu tướng QLVNCH, cựu tư
lệnh Không quân, cựu chủ tịch ủy ban hành pháp trung ương, cựu phó tổng thống
VNCH từ 1967-1971, có viết rằng chính ông ta là nhân vật đă ra lệnh sử dụng bom
con heo tại mặt trận Xuân Lộc. Ai cũng biết từ sau năm 1972, ông Kỳ đă là một
tướng lănh bị phế thải, ngồi chơi xơi nước , trong tay ' không quân, không đơn
vị ' . Cũng từ đó cho tới ngày 29-4-1975 bay trốn ra biển để tới Mỹ hưởng vinh
hoa phú quư, tướng Kỳ ngoài việc trồng khoai ḿ tại đồn điền riêng ở Khánh
Dương-Khánh Ḥa, th́ gần hết thời gian quư báu c̣n lại của một tướng lănh, chỉ
lăn vùi trong rượu chè, mạt chược, đá gà …. Như vậy, sức nào để ra lệnh cho KQ
đánh bom , một sự kiện quan trọng bậc nhất của an ninh quốc pḥng quốc gia VNCH,
lúc đó chỉ có chính Tổng Thống, Thủ Tướng và Tổng Tham Mưu Trưởng QLVNCH mới có
thẩm quyền quyết định. Bom Daisy Cutter , c̣n được gọi là bom con heo hay tiểu
nguyên tử, có chiều dài và chièu cao gần tương đương với ḷng chiếc vận tải cơ
C130, trọng lượng là 7 tấn, gồm vỏ bọc và khối thuốc nổ 15.000 cân Anh TNT. Bom
dùng mở băi đáp cho cấp sư đoàn hay lộ quân trong bất cứ địa thế nào. Với con
người, bom có tầm sát hại trong ṿng bán kính 5 dặm Anh, hút hết dưỡng khí, làm
cho người bị chết ngạt. Những ngày cuối cùng của tháng 4-1975, Mỹ có để lại cho
VNCH chừng 10 trái nhưng không có ng̣i nổ. Trong trận Xuân Lộc, truyền tin của
Bắc Việt gần như bị ta giải mă hết, nên nhờ đó mà Bộ tư lệnh của SD18BB đều biết
trước. Nhờ vậy đă kịp thời xin không quân hay pháo binh, bắn hay giội bom vào
các vị trí của địch hay xe tăng một cách vô cùng chính xác. Ngày 15-4-75, khi
tướng Đảo nhận tin vị trí của Chiến đoàn 52 của Đại Tá Ngô Kỳ Dũng, từ Ngă ba
Túc Trưng xuống tới Dầu Giây, bị hai sư đoàn Bắc Việt 6 và 341 tràn ngập, nên đă
xin tướng Nguyễn văn Toàn, tư lệnh QD3, tŕnh Bộ TTM, sử dụng bom con heo, để
ngăn chận và giải cứu Chiến đoàn 52. Do trên , trong ngày 15-4-1975, Bộ TTM đă
dùng vận tải cơ C130A thả 2 trái bom khổng lồ này, xuống vị trí của Bắc Việt, từ
Túc Trưng về tới Dầu Giây, khiến cả một quân đoàn Bắc Việt, gồm người, tăng,
pháo như rối loạn trong ba ngày liền v́ có quá nhiều thương vong. V́ Hà Nội la
làng, Mỹ vi phạm hiệp định ngưng bắn, dùng bom nguyên tử và trở lại VN, nên Hoa
Kỳ đă chở số bom con heo c̣n lại về Mỹ.
Ngày 16-4-1975, pḥng tuyến tại Phan Rang vỡ, các tướng lănh Nguyễn Vĩnh Nghi,
Pham Ngọc Sang, Đại Tá Nguyễn Thu Lương và hầu hết các sĩ quan cao cấp trong Bộ
tư lệnh tiền phương của QD3, v́ đi bộ với lính (dù có máy bay), và Đại Tá Lương,
lúc đó đả cùng với các tiểu đoàn Dù về tới Cà Ná, nhưng ông cũng đă trở lại t́m
hai tướng Nghi-Sang, nên đă bị giặc Cộng bắt giữa chốn ba quân. May mắn nhất vẫn
là tướng Trần văn Nhựt ,Tư lệnh SD2 BB đang tham chiến tại mặt trận, nhờ lanh lẹ,
nên leo L19, chạy kịp xuống tàu hải quân, đậu trong vịnh Ninh Chữ, sau đo cũng
là một trong nhiều tướng lănh tới Mỹ sớm. Đêm 19-4-1975, B́nh Thuận-Phan Thiết
mất và B́nh Tuy ngày 20-4-1975. Như vậy các tuyến pḥng thủ trên QL1 và 20, dẫn
về Long Khánh gần như khai thông. Tướng Nguyễn Văn Toàn v́ không muốn Xuân Lộc,
lúc đó lại trở thành một Điện Biên Phủ hay Khe Sanh, giữa trùng vây của hơn mấy
vạn quân Bắc Việt như trước. Hơn nửa, khi Trần Văn Trà thế Hoàng Cầm, đă dùng
SD7 Bắc Việt cầm chân quân ta, c̣n Lộ quân 4 th́ t́m đường khác tại Ngă ba Túc
Trưng về Biên Hoà. Ở đó, chỉ có Lực lượng 3 Xung Kích của tướng Khôi, cùng Trung
Đoàn 8 /SD5BB tăng phái, nên không đủ quân chống giữa. Do trên tướng Toàn đă xin
Bộ Tổng Tham Mưu, chấp thuận bỏ Xuân Lộc, rút toàn bộ lực lượng đang chiến đấu
tại đây gồm SD18BB, TK Long Khánh, Lữ Đoàn Dù, BDQ về Phước Tuy, giữ Biên
Ḥa-Sài G̣n, và đă được chấp thuận, dù lúc đó, quân ta c̣n đầy đủ đạn pháo và
tinh thần chiến đấu. Tại Gia Ray-Chứa Chan, Lữ Đoàn Dù-BDQ-Thiết Đoàn 5 và Trung
Đoàn 48/18 đang gom SD7 Bắc Việt vào rọ, để tiêu diệt. Theo tướng Đảo, th́ vào
lúc 9 giờ sáng ngày 20-4-1975, tướng Toàn thân hành bay trực thăng vào
BTL.SD18BB tại chiến trường Xuân Lộc, ban lệnh RÚT QUÂN, BỎ LONG KHÁNH của Bộ
Tổng Tham Mưu QLVNCH, tới Tướng Đảo và CUỘC RÚT QUÂN hoàn toàn bằng đường bộ,
không có ai được máy bay tới chở về. Quan trọng hơn hết, tất cả đều đi, không có
600 quân nào của Trung Đoàn 43, do Đại Tá Lê Xuân Hiếu t́nh nguyện ở lại bán
mạng, như một vài người đả vin vào tài liệu Mỹ, viết sử. Cảm động vô cùng, là
khi Lữ Đoàn 1 Dù của Đại Tá Đỉnh rút quân, đồng bào công giáo ở các xă Bảo Định,
Bảo Toàn, Bảo Ḥa..đă đồng loạt rút theo, làm cho cánh quân này v́ phải bảo vệ
đồng nào tị nạn, nên bị thiệt hại nhiều nhất.
Ngay khi nhận được lệnh, trong ngày 20-4-1975, tướng Đảo ra lệnh cho Lữ Đoàn 1
Dù, tấn công tới tấp SD7 VC để nghi binh. Trên núi Thị, rút hết pháo, chỉ để lại
2 khẩu cho Tiểu Đoàn 2/43 bắn cầm chừng, làm giặc không biết đâu mà ṃ. Cuộc lui
quân, bắt đầu, lúc 8 giờ đêm 20-4-1975, bằng Liên Tỉnh lộ 2, Tân Phong-Long
Giao-Bà Rịa. Đây cũng là một quyết định táo bạo, đồng thời cũng làmột yếu tố bất
ngờ mà Bắc Việt không bao giờ đoán nổi. V́ Liên tỉnh lộ 2 dài khỏng 40 km, từ
khi quân Đồng Minh rút, đường đă bị bỏ hoang và trở thành căn cứ địa cuả các lực
lượng Du kích tỉnh cũng như Trung Đoàn 33 chính quy Bắc Việt. Theo kế hoạch lui
quân, Trung Đoàn 48 của Trung Tá Trần Minh Công mở đường. Cánh 2 là đoàn cơ giới,
pháo, chiến xa Thiết đoàn 5 của Trung Tá Nô. Đặc biệt tướng Đảo, đă mang trả lại
cho QD3 hai khẩu đại pháo 175 ly cho mượn, có tầm bắn xa trên 30 km, đặt trên xe
xích . Tất cả lực lượng này do Đại Tá Hứa Yến Lến, tham mưu phó hành quân SD
18BB chỉ huy. Đơn vị kế tiếp là DPQ và NQ Long Khánh của Đại Tá BDQ. Phạm văn
Phúc, Tỉnh trưởng Long Khánh. Cánh quân này, trong lúc rút bị đụng nặng, làm
Trung Tá Tiểu Khu Phó tử thương. C̣n Đại Tá Phúc bị bắt và giải ngay ra Bắc,
chịu nhiều năm tù khôc hận như các cấp Sĩ quan/QLVNCH sau ngày 30-4-1975. Tướng
Đảo đi bộ với cánh quân Trung Đoàn 43 của Đại Tá Lê Xuân Hiếu, hiện ở Oregon. Và
cuối cùng là Lữ Đoàn 1 Dù đoạn hậu. Theo kế hoạch lui quân, Tiểu đoàn 2/43 của
Thiếu tá Chế từ Núi Thị xuống sẽ đi trước Lữ Đoàn Dù, nhưng v́ trục trặc chiến
thuật, nên cuối cùng lại trở thành đơn vị cuối khi rời Long Khánh. Tóm lại cuộc
lui quân coi như thành công, nhờ có tổ chức, kế hoạch và trên hết, chính tướng
Đảo cũng như tất cả các đơn vị trưởng từ Tỉnh Trưởng Phạm văn Phúc, Đại tá Đỉnh,
Lữ Đoàn trưởng Dù..đều đi bộ và tác chiến như lính. Thử hỏi sao không đạt được
chiến thắng ?.