NGŨ HỔ TƯỚNG TUẪN TIẾT
Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng
Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV-Quân
Khu 4

Di ảnh cố
Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng
Tiểu Sử
Xuất
thân Khóa 5 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức, Tướng Lê Văn Hưng là một sĩ quan rất can
trường. Hầu hết các cấp bậc từ Đại Úy trở lên của ông đều là thăng cấp đặc cách
ngoài mặt trận.
Ông phục vụ tại Sư Đoàn 21 Bộ Binh giữ chức vụ từ đại đội trưởng, tiểu đoàn
trưởng đến trung đoàn trưởng. Khi c̣n là Trung Tá Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn
31, đă hai lần bay trực thăng chỉ huy bị rớt nhưng không hề hấn ǵ rồi được
thăng cấp Đại Tá đặc cách ngoài mặt trận. Thời gian sau, được bổ nhiệm giữ chức
Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Phong Dinh (Cần Thơ).
Ông được bổ nhiệm vào chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh vào năm 1971 và thăng
cấp Chuẩn Tướng đặc cách ngoài mặt trận. Ông cũng là vị anh hùng tử thủ An Lộc
từ tháng 1 đến tháng 8 năm 1972. Khi An Lộc được giải tỏa, ông được bổ nhiệm vào
chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh là Sư Đoàn ruột của ông v́ ông đă lập nhiều
chiến công từ khi c̣n là sĩ quan cấp úy tại đây.
Tháng 7 năm 1974, ông được bổ nhiệm chức Tư Lệnh Phó Quân Đoàn IV-Quân Khu 4 cho
đến khi ông tự sát vào tối 30 tháng 4 năm 1975.
Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng là một sĩ quan đức độ, thâm trầm và thanh liêm. Trong
suốt cuộc đời binh nghiệp của ông, ông đă tạo được nhiều thành tích cho quân đội
và đất nước.
An Lộc Anh Hùng
Tác giả:
Vanuxem, cựu Trung Tướng Quân Lực Pháp
Phỏng dịch: Dương Hiếu Nghĩa, cựu Đại Tá QLVNCH
An
Lộc là một quận lỵ nhỏ của một tỉnh miền Đông Nam Việt. Quân Bắc Việt đă vây hăm
quận lỵ nầy, nă vào đó đủ mọi loại trọng pháo, hỏa tiễn, và tấn công vào đó
nhiều lần. Sư Đoàn 21 Bộ Binh từ Vùng 4 Chiến Thuật (đồng bằng sông Cửu Long) lẽ
ra được đưa ra Huế cho Tướng Ngô Quang Trưởng, được hấp tấp thả xuống một vùng
nằm giữa An Lộc và Sài G̣n với nhiệm vụ sơ khởi là chận địch lúc bấy giờ đang tự
do tiến bọc ṿng quanh An Lộc, bao vây cô lập thị xă nầy cốt không cho trong
ngoài liên lạc được với nhau.
Người ta ngăn chận được phần nào ư định của địch nhưng không giải tỏa được An
Lộc, và phải thú thật đây không phải là một chuyện dễ làm. Tuy nhiên, An Lộc vẫn
đứng vững. Để so sánh và cũng để thực sự thấy được giá trị của QLVNCH, chúng ta
phải nói rơ là Thị Xă An Lộc giống như Điện Biên Phủ, nằm dài trên hai bên sườn
đồi của một ḷng chảo mà vành đai của ḷng chảo nầy địch đă làm chủ. An Lộc
không có nhiều binh sĩ như Điện Biên Phủ nhưng có hai chục ngàn dân, chẳng những
không giúp ích được ǵ mà trái lại c̣n là một gánh nặng cho quân trú pḥng nữa.
Quân số Bắc Việt bao vây An Lộc nhiều hơn quân số đă bao vây Điện Biên Phủ trước
kia; họ cũng tiến hành cuộc tấn công bằng cách đào chiến hào đi lần vào trung
tâm thị trấn, giống như ở Điện Biên Phủ vậy, tiến đến đâu lấp hầm đến đó. Lực
lượng pháo binh Bắc Việt nhiều hơn lúc ở Điện Biên Phủ, nhưng họ ít pháo vào
trung tâm thị xă mà chỉ dùng súng cối 130 ly và hỏa tiễn, nên phố xá nhà cửa
trong thị xă gần như bị các loại nầy phá nát hết.
Quân trú pḥng không có thiết giáp, nhưng Bắc Việt lại dùng loại chiến xa T54
của Nga Sô mà Pḥng Nh́ VNCH cũng như Hoa Kỳ không rơ bằng cách nào họ mang loại
chiến xa nặng nầy đến tận cửa An Lộc được. Nhưng điều bất ngờ là các chiến xa
Nga Sô nầy lại được hỏa tiễn TOW của Hoa Kỳ niềm nở đón tiếp, và có một số lớn
T54 bị bắn cháy hay bị bỏ lại rải rác trong thị xă như là chiến lợi phẩm đặc
biệt của đội quân trú pḥng. Số tử thương tại An Lộc nhiều hơn ở Điện Biên Phủ.
Quân Bắc Việt c̣n tiếp tục bao vây An Lộc, nhưng t́nh h́nh có vẻ sáng sủa hơn,
khi Tổng Thống Thiệu quyết định dùng trực thăng đáp xuống ngay An Lộc. Cùng đi
với ông c̣n có Tướng Viên, Tổng Tham Mưu Trưởng, Tướng Minh, Tư Lệnh Quân Đoàn
III - Quân Khu 3, và một số sĩ quan khác, trong số nầy có một tướng lănh người
Pháp muốn hưởng một chút thú vị kiêu hănh là được tham dự vào một trận phục thù
cho Điện Biên Phủ. Ông được tặng một lá quốc kỳ VNCH của quân trú pḥng “An Lộc
Anh Hùng” trong chuyến đáp xuống An Lộc nầy, gọi là để kỷ niệm trận “B́nh Long
Anh Dũng” và sau nầy trước khi qua đời tại Pháp năm 1982, ông đă trao lá quốc kỳ
nầy lại cho Trung Tướng Trần Văn Trung, Chủ Tịch Hội Cựu Chiến Sĩ VNCH tại Pháp.
Hai chiếc trực thăng đáp xuống và lên ngay thật nhanh sau khi các vị tướng lănh
vừa nhảy xuống xong th́ các loạt đạn pháo Bắc Việt cũng vừa tới. Người ta đi
thăm Bộ Chỉ Huy Hành Quân, phát sao, gắn “lon,” “mề đay,” tuyên dương công trạng,
khen thưởng các cấp v.v... sau đó đi thăm và ủy lạo các đơn vị. Binh sĩ nhảy lên
khỏi chiến hào để hoan hô ầm ĩ. Vị Tổng Tư Lệnh của họ thăm và an ủi các thương
bệnh binh, đến tận các xác chiến xa Nga T54 để sờ các pháo tháp hay xem cái vỏ
thép của loại chiến xa nầy, người ta cũng đi viếng các nghĩa trang “bất đắc dĩ”
nằm trên các vỉa hè đường phố, và trước một nấm mồ, Tướng Thiệu qú xuống cầu
nguyện...

Cuộc viếng thăm chiến trường An Lộc
Từ trái sang phải: Đại Tướng Cao Văn
Viên, Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, Đại Tá Trần Văn Nhựt
(Tỉnh Trưởng B́nh Long) và Trung Tướng hồi hưu Vanuxem
Người
ta cũng có cầu nguyện như vậy giữa sân của một nhà thờ đă bị đổ nát, chỉ c̣n trơ
lại có một pho tượng lớn của Chúa đang giang hai tay nhân ái ra coi như để chúc
lành cho phái đoàn. Tổng Thống Thiệu thản nhiên như không có ǵ xảy ra, quỳ một
gối xuống ngay trên vũng bùn, làm dấu thánh giá, và cầu nguyện... trong khi tất
cả đều đứng ngay ngắn, nghiêm trang... Đâu đây bên b́a rừng gần đó có một vài
tiếng nổ của đạn rốc kết...
Chuyến về của phái đoàn cũng như chuyến đáp xuống. Tất cả quan khách đều đứng
dưới các hố cá nhân, chờ. Khi các trực thăng đáp xuống, tất cả đều nhảy lên thật
nhanh để trực thăng vọt đi ngay, v́ trước đó ai cũng được báo cho biết là nếu
không lên kịp th́ sẽ bị ở lại An Lộc.
Tất cả đều về đến Bộ Chỉ Huy Tiền Phương của Quân Đoàn III ở Lai Khê, và đến lúc
đó người ta mới thấy là đă bỏ quên lại một người: đó là Trung Tướng Mỹ, cố vấn
QĐ III. Ông ta không trách cứ ǵ cả, nhưng ngày hôm sau ông ta đă trở thành “Anh
Hùng An Lộc,” một loạt pháo đă gây tử thương cho ông khi trực thăng của ông vừa
đáp xuống.
An Lộc đă trở thành một biểu tượng, đó là một khi quân đội và dân chúng đă cương
quyết một ḷng th́ khẳng định là chận đứng được quân thù. Đó là tinh thần của
trận chiến Verdun của VNCH, một chiến trận mà VNCH đă làm lễ kỷ niệm thật long
trọng để xác nhận ư chí quyết chiến quyết thắng của quân dân Miền Nam Việt Nam.
Tiếc rằng ngày Lễ Quốc Khánh của VNCH đă trót được chọn là ngày 1-11 rồi, nếu
không th́ người ta nghĩ, có lẽ nên chọn ngày mà An Lộc hoàn toàn được giải tỏa
để nói lên biểu tượng Tự Do của quốc gia nầy...
Nụ Hôn Vĩnh Biệt
Phạm Trung Nghĩa
Ông nguyên là Trung Úy, Sĩ Quan Tùy Viên của cố Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng
Lúc đó khoảng 8 giờ 30 tối ngày
30-4-1975. Bộ quân phục nghiêm chỉnh vẫn c̣n trên người Chuẩn Tướng. Bên trong
pḥng ngủ của Chuẩn Tướng, ngay sát đầu cầu thang trên lầu, sau nụ hôn vĩnh biệt
của phu nhân vừa kịp đặt lên má chồng, ông Tướng đă vội vă đẩy bà ra phía ngoài
và đóng nhanh cánh cửa. Lúc quay người lại, thấy tôi c̣n đứng lại trong pḥng,
giọng ông thảng thốt:
- Nghĩa! Mày đi ra.
Vừa nói, ông vừa nắm tay tôi lôi về phía cửa. Tôi bệu bạo:
- Tôi ở lại cùng Thiếu Tướng.
Sự dứt khoát của nghiêm lệnh hàng ngày trong giây phút xúc động mănh liệt làm
giọng Chuẩn Tướng lạc đi. Cái níu đẩy tôi ra ngoài, sự cọ xát ngắn ngủi đầy bi
thương ấy khiến tôi cảm giác ḿnh như là thỏi sắt bị hút ra khỏi cục nam châm.
Ôi! Cái chết hoàn toàn được sắp đặt trước, lần đầu tiên trong đời tôi mới chứng
kiến. Tôi chợt ̣a khóc! Đứng bên ngoài, tôi và phu nhân nghe tiếng rít gài then
khô khốc từ bên trong. Bất giác, tôi và bà Tướng mọp người xuống nền gạch, cố
đưa mắt nh́n vào khe hở dưới cửa. Mọi sự diễn ra không đầy một phút sau đó. Một
tiếng nổ chát chúa vang lên bên trong cánh cửa. Tôi hoảng hốt ngưng khóc, đứng
bật dậy. Với tiếng nổ đó, tôi đau đớn nhận rơ chắc chắn chuyện ǵ đă xảy ra rồi.
Trong pḥng không c̣n tiếng động nào. Tôi đưa tay thử lay động cánh cửa. Vô hiệu!
Tôi lùi lại nh́n xuống phía chân cầu thang kêu lớn khi thấy có 3-4 cái đầu đang
nhớn nhác nh́n lên:
- Kiếm một con dao... Cạy cửa mau!
Người tài xế tên Giêng cầm con dao to, nhọn, chạy nhanh lên và đích thân nạy
cánh cửa bật ra. Mọi người cùng ùa vào pḥng. Tôi bàng hoàng khóc ngất. Tất cả
cùng khóc và chạy đến chỗ giường ngủ của Chuẩn Tướng. Ông đang ngửa người, nửa
thân trên nằm trên tấm nệm trải drap trắng, hai cánh tay buông ngang, khuy cổ và
ngực áo bung ra, màu máu tươi nhuộm thắm phần ngực trái chiếc áo thun trắng bên
trong. Cả phần chân Chuẩn Tướng buông thơng bên ngoài, 2 gót giày chấm đất. Có
lẽ Chuẩn Tướng đă ngồi cạnh thành giường, một tay cởi hai khuy áo trên, tay kia
đưa ṇng Colt 45 ấn vào chỗ trái tim. Chúng tôi đặt Chuẩn Tướng ngay ngắn lại
trên giường, gương mặt ông xanh tái, lấm tấm mồ hôi, miệng há, đôi mắt chưa khép,
biểu lộ sự đau đớn cực độ. Vừa đặt đầu ông lên gối, bà Tướng vuốt mắt cho chồng.
Chuẩn Tướng đă yên nghỉ! Viên đạn oan nghiệt đă xuyên thật chính xác qua quả tim
người anh hùng.
Thật sự tôi chỉ biết rơ quăng đời của Chuẩn Tướng, vào thời điểm Cần Thơ, thủ
phủ miền Tây, thật sự đă vô chủ. Cần Thơ gần như chỉ bước vào cuộc trong đêm
29-4. Mười giờ đêm, lúc tôi đang mơ màng, điện thoại từ TOC Quân Đoàn gọi sang
tŕnh Chuẩn Tướng diễn tiến t́nh h́nh: Các trực thăng từ Quân Đoàn III, từ Sài
G̣n bay lẻ loi về miền Tây đáp bất kỳ nơi nào đáp được. Tôi thức luôn tới sáng
v́ điện thoại đến liên tục.
Khoảng 12 giờ khuya, nghe có tiếng xôn xao ồn ào ngoài cổng dinh, tôi bước ra và
nh́n thấy hàng gịng người cuồn cuộn tuôn trên đại lộ phía bên kia công viên.
Cuộc diễn hành náo loạn như đang giữa ban ngày. Tôi kinh ngạc hỏi người lính gác
cổng mới biết đó là đoàn người kéo nhau ra bến Ninh Kiều để lên tàu Hải Quân ra
đi... Tôi ngỡ ngàng: “Như vậy là Phó Đề Đốc TL/HQ/V4SN tự động dẫn đoàn tàu của
ông di tản ư?” (Các lực lượng Không Quân, Hải Quân, Lực Lượng Đặc Nhiệm ở miền
Tây đều nằm trong hệ thống điều động của BTL/QĐ IV).
Trong làn sóng người lục tục kéo đi bất chợt tôi nh́n thấy xe của Chuẩn Tướng
TMT/QĐIV. Tôi quay vào, gọi ngay cho Thiếu Tá trưởng toán trực TOC hỏi ông có
biết vụ này không, rồi vội vă lên lầu tŕnh Chuẩn Tướng. Chính ông cũng đang
thức như tôi, và bảo tôi gọi Đại Tá Trang, Tư Lệnh Lực Lượng Thủy Bộ để ông nói
chuyện. Lúc đó đă 3 giờ sáng ngày 30 tháng 4, tôi đă thấm mệt nhưng vẫn cố
nhướng mắt chịu đựng. Giờ này giá có Phúc th́ hết chê. Phúc khỏe mạnh,tháo vát,
giỏi giắn nhưng anh đang kẹt lại Sài G̣n sau một chuyến “quá giang” trực thăng
về Sài G̣n, ngày trở lại đơn vị bằng đường bộ, quốc lộ Sài G̣n - Long An bị Cộng
Quân cắt đứt với trận chiến dằng dai nhiều ngày, chưa khai thông được.
Vào 7 giờ 30 sáng ngày 30-4, tại pḥng họp Bộ Tư Lệnh như thường lệ, Pḥng 3
thuyết tŕnh t́nh h́nh trong đêm vừa qua trước 2 vị tướng Tư Lệnh và các quan
chức. Lần này có vẻ nghiêm trọng về việc lực lượng Hải Quân Vùng 4 Sông Ng̣i bỏ
đi.
Lúc 9 giờ 30, hai vị Tướng Lănh gặp nhau trong pḥng làm việc của Tư Lệnh Phó.
Chuẩn Tướng bảo tôi gọi Chuẩn Tướng Lạc, Tư Lệnh Sư Đoàn 9 Bộ Binh đang chỉ huy
cuộc giải tỏa Quốc Lộ 4 tại Long An, nói ông khẩn dùng trực thăng bay về bộ Tổng
Tham Mưu để biết rơ t́nh h́nh thực tại. Trên đường bay, Tướng Lạc không bắt liên
lạc được với không phận Sài G̣n nên đành phải quay về. Chuẩn Tướng lại lệnh cho
tôi gọi về Bộ TTM để ông gặp tướng Trưởng Pḥng 3. Tôi lạnh người khi nghe tiếng
người tùy phái cho biết:
- TTM hiện không c̣n ai. Các Tướng Tá Sĩ Quan cao cấp đang ở tại cơ quan MACV
của Hoa Kỳ.
Tôi hiểu liền các vị có mặt tại đó để làm ǵ. Bộ TTM cũng đă lặng lẽ đóng cửa!
Và như vậy, có nghĩa là riêng QĐ IV phải tự lo liệu lấy. Buông ống điện thoại
xuống, tôi đứng ỳ tại chỗ, một cảm giác tê buốt chạy dọc thân thể: “Đất nước
thật sự đă mất rồi!” Tôi bước vào pḥng tŕnh tự sự lên hai vị Tướng. Tôi thấy
mặt Chuẩn Tướng hơi chùng xuống rồi gật đầu tỏ ư không cần thêm ǵ nữa. Tôi bước
ra ngoài, một nhân viên văn pḥng trao chiếc radio và cho biết đài phát thanh
Sài G̣n thông báo dân chúng đón nghe thông điệp khẩn của Tổng Thống Dương Văn
Minh. Tôi quay trở vào pḥng tŕnh Chuẩn Tướng. Lúc này Thiếu Tướng Nam đă trở
về pḥng ông. Chuẩn Tướng vội vă rời pḥng bước xuống bậc thềm hướng về ṭa nhà
Tư Lệnh. Tôi ghi vội nội dung lời phát biểu cuối cùng của Tổng Thống Minh, định
sang tŕnh 2 vị Tướng. Gặp Chuẩn Tướng đang bước xuống bậc tam cấp, tôi vừa trao
tờ giấy vừa nói vắn tắt:
- Tổng Thống Minh đă đầu hàng!
Chuẩn Tướng quày quả đẩy cửa vào pḥng Tư Lệnh. Khoảng 15 phút sau, Chuẩn Tướng
trở lại văn pḥng ḿnh và bảo tôi gọi để ông nói chuyện cùng 16 Tiểu Khu Trưởng.
Đó là khẩu lệnh ban hành thiết quân luật trên toàn thể Vùng IV kể từ giờ phút
này. Các đơn vị dừng quân và bố trí tại chỗ chờ lệnh Quân Đoàn.
Thiếu Tướng Tư Lệnh cũng gọi cho Tư Lệnh 3 Sư Đoàn 7, 9 và 21. Mặc dù nhận rơ
thông điệp của Tổng Thống Minh, nhưng hai vị Tướng trách nhiệm sinh tử Vùng 4
lúc này muốn ngăn trở những hỗn loạn có thể xảy ra trong cảnh tối tăm. Ban hành
thiết quân luật, Vùng IV đang có vẻ chuẩn bị đối phó với t́nh t́nh hơn là treo
cờ hàng. Ngay sau khi hay tin Sài G̣n thất thủ, chợ búa, hàng quán được dân
chúng Cần Thơ mua vội bán vội, cố thu xếp nhanh chóng trở về nhà, vẻ mặt ai nấy
đều lo âu. Xe lướt nhanh hơn, người đi bộ gần như chạy, đường phố như chuẩn bị
đón cơn mưa lớn.
Sau bức thông điệp đầu hàng của Tổng Thống Minh, mọi liên lạc viễn thông với Sài
G̣n đều bị cắt đứt. Chúng tôi không biết ǵ về t́nh h́nh Thủ Đô. Tuy nhiên cho
đến trưa, t́nh h́nh Cần Thơ và 16 tỉnh lỵ vẫn yên tĩnh, chưa có bóng dáng một
nhóm Cộng Quân nào vào các Thị Xă. Các tiểu khu vẫn c̣n liên lạc tốt với Bộ Tư
Lệnh Quân Đoàn.
Buổi cơm trưa thật lạnh lẽo, tôi nuốt vội qua loa, rồi để nguyên binh phục kể cả
giày, ngả lưng trên giường. Tôi biết, kể từ giờ phút này, biến cố sẽ có thể xảy
ra bất cứ lúc nào. Buổi sáng, tôi đă tự ư gọi đại đội trưởng Tổng Hành Dinh yêu
cầu cho đổ đầy xăng chiếc Jeep Tư Lệnh Phó, xe tôi, xe Ford Custom mang số ẩn tế
dùng cho gia đ́nh Chuẩn Tướng.
13 giờ, chúng tôi trở vào Bộ Tư Lệnh, cách tư dinh Tư Lệnh Phó độ 300 mét. Tôi
thấy xe Falcon đen cũng đưa bà Tướng và hai con rời cổng dinh. Tôi hơi ngạc
nhiên và lo lắng. Có tiếng ồn ào phía Pḥng 2 Quân Đoàn: Một núi giấy tờ đang
được đốt cháy. Có lẽ các hồ sơ quan trọng được thiêu hủy? Tôi không rơ Đại Tá
Trưởng Pḥng c̣n đó không, và việc thiêu hủy giấy tờ do lệnh của ai? Tôi cũng
không rơ giờ phút này c̣n có đủ các Trưởng Pḥng không? Chuẩn Tướng cũng không
gọi đến vị Trưởng Pḥng nào, ngay cả Trung Tá Ṭng, Trưởng Pḥng 3! Khuôn viên
Bộ Tư Lệnh vắng ngắt, nghẹt thở.
14 giờ 30, Chuẩn Tướng trở về tư dinh. Ông bước lên bực thềm, nhưng không bước
vào trong như mọi khi, mà đứng tại hiên tiền đ́nh, nh́n mông lung ra khoảnh sân
phía trước. Bất chợt, ông quay lại hỏi tôi:
- Cô đi đâu?
- Thưa, cô đến nhà thờ xin lễ.
Vừa lúc đó, cổng dinh mở toang, chiếc Falcon trườn vào. Tôi thở nhẹ nhơm. Gương
mặt ông thoáng rạng rỡ khi thấy vợ con về đến dinh an toàn. Ông bước đến bên xe
đón bà, trao đổi vài lời rồi lên xe trở lại Bộ Tư Lệnh.
16 giờ, Chuẩn Tướng rời Bộ Tư Lệnh và đây là lần hiện diện cuối cùng của ông tại
bản doanh này. Xe chúng tôi vừa ra khỏi cổng chánh, ông ra hiệu dừng lại và bước
xuống xe xem coi chuyện ǵ xảy ra phía trước. Bên kia đường, đối diện với ṿng
đai và cổng chánh Bộ Tư Lệnh có rất nhiều thanh niên, kẻ quần tây, người quần
đùi ở trần đang nối đuôi thành hàng dài phóng chân rảo nhanh. Đây là những thanh
niên vừa thoát từ Trại Tuyển Mộ Nhập Ngũ. Đến ngă tư nơi tiếp giao giữa Bộ Tư
Lệnh với dinh Tư Lệnh Phó và dinh Tiểu Khu Trưởng Phong Dinh, ông ra hiệu dừng
xe, bước xuống, đứng ngó bao quát. Lác đác vài xe gắn máy, xe thồ, xe đạp đang
hối hả g̣ lưng. Cả một góc phố như thoi thóp, im lỉm.
Bỗng từ phía chân cầu Nhị Kiều xuất hiện một xe Jeep đang theo Đại Lộ Ḥa B́nh
lao nhanh về phía chúng tôi. Chiếc Jeep dừng lại cạnh xe Chuẩn Tướng, người ngồi
trên xe là Chuẩn Tướng Mạch Văn Trường, Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Tướng Trường
xuống xe tŕnh Tư Lệnh Phó Quân Đoàn điều ǵ tôi không nghe được, nhưng với vẻ
hấp tấp và gương mặt đầy lo âu, cộng với t́nh h́nh trước mặt, tôi đoán chắc Bộ
Tư Lệnh của ông hiện đang tan ră. Chuẩn Tướng bảo Tướng Trường theo ông về dinh.
Tại pḥng khách, hai vị ngồi yên trên ghế bành, ông bảo Tướng Trường cùng Trung
Tá Thành, Thiết Đoàn Trưởng Thiết Đoàn 9 Kỵ Binh đến đóng bản doanh tại dinh
Tiểu Khu Trưởng. Chuẩn Tướng bảo Trung Tá Thành ra lệnh cho 2 Chi Đoàn Thiết Vận
Xa M-113 đang ở vùng Quận Lỵ B́nh Minh lập tức quay về Cần Thơ và cho người đến
tận bến phà chuyển lệnh cho toán chuyển vận phải túc trực ưu tiên chở đoàn thiết
vận xa vượt sông. Ra lệnh xong, ông đứng lên, vào pḥng rửa mặt trong lúc Tướng
Trường vội vă ra xe đến dinh Tiểu Khu Trưởng.
Tôi đứng cạnh bàn viết đặt sát cửa sổ pḥng khách, trên bàn có hai máy điện
thoại: một tự động và một qua tổng đài viên. Tối nay tôi tăng cường thêm một máy
PRC 25 mở tần số của BTL/SĐ21 và Thiết Đoàn 9 để liên lạc, theo dơi. H́nh như hệ
thống truyền tin của Bộ Tư Lệnh đă ngưng hoạt động từ 17 giờ, v́ tôi gọi không
nghe có tiếng tổng đài viên trả lời. C̣n máy tự động dường như bị cắt. Lúc này
Thiếu Tá Trịnh Đức Phương, nguyên Chánh Văn Pḥng, cũng từ dưới pḥng anh bước
lên đứng phía trái Chuẩn Tướng. Cả ba chúng tôi im lặng, hồi hộp nh́n vào phía
màn h́nh TV vẫn sáng trong, im ỉm.
Phái đoàn hai bên rời BTL/QĐ đă gần hai tiếng đồng hồ và chính lúc này là giờ
qui định phát thanh. Có tiếng nói vọng ra từ TV, tự xưng là phát ngôn viên của
BTL/QĐ và đọc văn bản thông cáo “BTL đă đầu hàng. Các đơn vị phải buông trao vũ
khí...” Bản văn vắn tắt nhưng thật rơ ràng, đầy đủ. Nghe đọc bản văn như vậy,
tất cả chúng tôi đều chết điếng. Đây không phải là bản văn được hai bên thỏa
thuận kư kết. Lập tức Chuẩn Tướng bảo tôi chuyền máy PRC 25 đến chỗ ông ngồi,
đích thân ông cầm ống liên hợp gọi “Hổ Cáp” (danh hiệu Trung Tá Thành trong đặc
lệnh truyền tin) bảo ông Thành dùng M113 lái đến dinh để đi cùng ông đến đài
phát thanh. Nghe đến đó, tôi lùi một bước về phía cửa, ra hiệu cho Trung Sĩ Sao
(cận vệ) chuẩn bị sẵn sàng để di chuyển. Tôi trở lại chỗ cũ vừa kịp nghe lời đáp
của Trung Tá Thành vang lên trong loa khuếch đại. Lời lẽ vẫn lễ độ, nhưng rơ
ràng đó là lời từ chối thi hành lệnh. Thật khó đoan chắc có lực lượng đáng kể
nào của Cộng Quân đă có mặt ở thị xă hay Bộ Tư Lệnh chưa, nhưng với văn bản vừa
phát ra, chắc chắn sẽ hung hiểm vô cùng nếu tự nhiên xuất hiện một chiến xa rầm
rộ di chuyển trong đường phố lúc này. Tôi tin rằng Chuẩn Tướng hiểu rơ điều đó.
Trong cảnh biến động này, tuy ḷng có lo âu, sợ hăi, nhưng nh́n thấy đức tính
gan dạ của ông, tôi khâm phục ông xiết bao! Sau bản thông điệp của Tổng Thống
Minh, có ai biết được chắc chắn về số phận của những đơn vị trước đó đang trực
tiếp giao tranh ác liệt với các đơn vị cộng quân rồi bỗng dưng họ phải buông
súng trong cơn hận thù c̣n sôi sục của đối phương?
Đang miên man suy nghĩ, tôi giật ḿnh khi điện thoại reo vang. Nhấc ống nghe lên,
tôi vội chuyển liền cho Chuẩn Tướng khi nhận ra giọng của Thiếu Tướng Tư Lệnh.
Ông tŕnh bày là mọi việc đă giao cho Đại Tá Sáu, TMP/CTCT/QĐ đại diện cùng đi
với phe Cộng Quân. V́ sao bản văn chung bị tráo và t́nh trạng Đại Tá Sáu ra sao
chỉ duy nhất Đại Tá Sáu biết mà thôi. Tôi không nghe Chuẩn Tướng báo với Thiếu
Tướng chuyện ông tính đến đài phát thanh mà không thành. Cuộc điện đàm giữa hai
vị Tướng kết thúc. Lần đầu tiên tôi nhận ra vẻ tuyệt vọng trên khuôn mặt ông.
Chỗ dựa cuối cùng đối với đơn vị và những đàn em thân tín mà ông từng chỉ huy
giờ đă bật gốc. Ông đứng lên bảo tôi tập hợp toán lính gác để ông nói chuyện.
Thượng Sĩ Trưởng Toán tiểu đội bảo vệ dinh Tư Lệnh Phó tập hợp quân thành hai
hàng bên hông dinh. Ông cám ơn họ đă ở bên ông đến giờ phút cuối cùng và bảo anh
em bây giờ ai muốn rời dinh cứ tùy ư... Bỗng có tiếng người lính gác trên cao
báo động có xe Cộng Quân đến. Lập tức ông chạy vào trong nhà. Tôi hô toán cận vệ
vào vị trí rồi xách máy PRC 25 theo ông lên lầu. Ông vào pḥng ngủ rồi trở ra
với khẩu XM 18 trên tay, chạy ra bao lơn, nằm xuống nh́n ra phía đường. Lúc này
tôi mới nhận ra đường phố đang tối thui. Trong bóng đêm, hai vệt sáng rực phát
ra từ hai đèn pha chiếc xe Jeep vừa rời cổng dinh Tiểu Khu, quét thẳng về phía
chúng tôi. Nhưng khi ra đến ngă tư, ánh đèn lại rẽ trái theo Đại Lộ Ḥa B́nh
hướng về BTL/QĐ. Họ không đến chỗ chúng tôi. Ông đứng lên, trở về pḥng. Tôi
dùng máy, thử gọi danh hiệu của Tướng Trường và Trung Tá Thành. Gọi ba, bốn lần
vẫn không có tiếng đáp lại. Có vẻ như hệ thống máy đầu bên kia đă ngưng. Chắc
chắn phải có biến cố bên dinh Tiểu Khu Trưởng, chỗ Tướng Trường và Trung Tá
Thành đến đóng bản doanh hồi chiều. Dinh TKT và dinh TLP chỉ cách nhau 300 mét
thôi, nếu có tiếng súng nổ, chúng tôi phải nghe được, nhưng sự kiện máy không
c̣n mở túc trực chứng tỏ t́nh trạng Tướng Trường rất bi quan. Có thể ông và
Trung Tá Thành đă bị bắt. Có lẽ Chuẩn Tướng thấy rằng th́ giờ rất cấp bách, nên
ông bước đến đẩy cửa vào pḥng bà. Hai cháu bé đang đùa giỡn trên tấm nệm cao su
đặt dưới nền gạch. Tôi trở xuống nhà dặn ḍ toán gác. Thật ra, tôi t́m họ cũng
là để tự trấn an ḿnh.
Mười phút sau ông gọi tôi lên lầu gặp ông. Tại đây tôi thấy ngoài Thiếu Tá
Phương c̣n có đông đủ những binh sĩ đă từng phục dịch Chuẩn Tướng cùng gia đ́nh
rất lâu năm. Ông đứng, hai cánh tay gh́ chặt đứa con gái 3 tuổi để cho đầu cháu
tựa vào má ông. Bà Tướng đứng bên cạnh. Hai bàn tay măng non của cháu bé lùa vào
mái tóc cha. Bằng giọng nói tha thiết, ông gởi bà cùng hai con lại cho chúng tôi.
Ông quả quyết từ giờ cho tới sáng sẽ không có chuyện ǵ xẩy ra, bảo chúng tôi cố
gắng hộ tống bà cùng gia đ́nh về Sài G̣n rạng sáng ngày mai, 1 tháng 5. Sau đó,
ông lấy lại trầm tĩnh, quát bảo tất cả trở xuống dưới nhà, chỉ c̣n ḿnh tôi và
bà Tướng ở lại. Giây phút vĩnh quyết đă đến...
Lúc đó đă 9 giờ đêm 30 tháng 4. Chúng tôi xúm quanh giường ngủ giúp bà Tướng lau
rửa thân thể, thay y phục cho ông.
Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn
Chuông điện thoại reo. Tôi giật ḿnh khi nhận ra tiếng nói của Đại Tá Hồ Ngọc
Cẩn, Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện. Ông cần nói chuyện với Tư Lệnh Phó. Tôi quyết
định nhanh trong trí: “Không cho Đại Tá biết Chuẩn Tướng đă tuẫn tiết!” Tôi nghĩ,
hệ thống điện thoại đă bị ngắt hoặc do đơn vị này đă bỏ nhiệm sở từ chiều, không
lư ǵ bây giờ lại tái lập? Chắc Cộng Quân đă chiếm đóng và đang kiểm soát cuộc
điện đàm. Sau này khi hồi tưởng lại, tôi mới thấy ḿnh thật khờ: Chỉ v́ muốn bảo
toàn thi hài Chuẩn Tướng mà hậu quả là Đại Tá Cẩn vẫn tiếp tục cho Tiểu Khu ḿnh
tử thủ, để rồi bị bắt, sau đó đưa về Cần Thơ và bị Cộng Quân xử bắn. Đại Tá Cẩn
vốn là Trung Đoàn Trưởng của Sư Đoàn 9 tăng viện cho chiến trường An Lộc mùa Hè
72, được vinh thăng Đại Tá và trở thành Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện sau đó.
Trở lại pḥng Chuẩn Tướng, tôi thấy bà đang xếp gấp tư lá cờ vàng ba sọc đỏ và
lần tay mở nút áo đặt lá cờ ngay ngắn chỗ phần ngực ông. Bà mong muốn lễ tang
Chuẩn Tướng được tổ chức đúng lễ nghi quân cách.
Thiếu Tá Thuyên
Tôi trở lên lầu, gặp Thiếu Tá Thuyên, đang đứng cạnh giường Chuẩn Tướng thút
thít khóc. Anh vừa mới đến. Như vậy, tin về Chuẩn Tướng trong đêm đă lan truyền
ra ngoài. Anh rời dinh liền sau đó, lúc trời vẫn c̣n mờ tối. Đó là vị sĩ quan
duy nhất của BTL/QĐ đă đến nghiêng chào trước thi hài Chuẩn Tướng. Tôi bàn định
cùng bà Tướng thu xếp những ǵ cần thiết mang đi, đề pḥng trước, nếu bị buộc
phải rời dinh. Thâm tâm tôi nghĩ đến người bạn chí thân hồi cùng ở Bộ Chỉ Huy
Trung Đoàn 31, Trung Úy Nguyễn Vĩnh Thành. Mấy năm nay, Thành đă thuyên chuyển
về sở Hành Chánh & Tài Chánh số 5 và cùng gia đ́nh đang ở Cần Thơ, nhờ vậy chúng
tôi vẫn thường xuyên gặp nhau.
Trong lúc chờ sáng, tôi bàn với Thiếu Tá Phương là anh đảm trách phần việc tại
dinh, c̣n tôi ra ngoài t́m Thành và mua quan tài. Lúc tôi đến cổng chuẩn bị ra
ngoài, tôi sững sờ khi thấy thái độ của mọi người. Trong ánh mắt của họ, tôi đọc
được nỗi hoang mang nghi ngại: họ đánh giá một khi tôi ra khỏi đây, có lẽ không
bao giờ trở lại chăng!
Tôi mở hé cổng để vừa đủ đi qua, nh́n thấy Đại Tá C, một trong những phụ tá Tư
Lệnh Phó đang đứng nơi công viên Ḥa B́nh nh́n về phía cổng ra vào. Khi thấy tôi
đă nhận ra ông, Đại Tá C lật đật rảo bước, may mà tôi chưa kịp gọi ông! Tôi ṿng
bên trái dinh, theo đường tắt rảo bộ đến nhà Thành. Tôi mừng rỡ khi thấy Đại Tá
Vinh đang hàn huyên cùng với ba, bốn người trước cổng BTL/Đặc Nhiệm của ông. Tôi
cho ông biết Chuẩn Tướng đă chết và bà Tướng muốn chôn chồng theo đúng lễ nghi
quân cách, xin Đại Tá, với tư cách một sĩ quan cao cấp, đến gặp họ (Cộng Sản) để
nói giúp. Đại Tá Vinh đoan quyết đó là trách nhiệm của ông trong lúc này.
Thiếu Tướng Nam Tự Sát
Đến nhà cha mẹ vợ Trung Úy Thành, tôi thật sự cảm động khi thấy mọi người trong
gia đ́nh đều ùa ra đón tôi. Tất cả đă biết tin Chuẩn Tướng đă tuẫn tiết nên rất
lo cho số phận của tôi. Tôi kể sơ cho mọi người biết Chuẩn Tướng chết như thế
nào, trước đó ông dặn ḍ điều ǵ và tôi đang cần được sự giúp đỡ để thực hiện
lời ủy thác của người chết.
Tôi cùng Thành lên chiếc vespa của anh đi đặt mua quan tài rồi trở lại sở của
anh. Do ư của Thành, tôi t́m gặp Trung Tá Bia, phụ tá Chánh Sở Hành Chánh & Tài
Chánh số 5 để nhờ ông chỉ dẫn và giúp lo việc tẩm liệm. Ông đang thay Đại Tá
Chánh Sở hiện vắng mặt, chờ đợi người của Cộng Sản đến để bàn giao. Trung Tá Bia
hứa là ông sẽ đến liền sau khi xong việc ở đây và căn dặn tôi chuẩn bị những thứ
ǵ cho việc tẩm liệm. Tôi cùng Thành hướng xe về phía chợ. Khác với ngày 30
tháng Tư, buổi sáng hôm nay, 1 tháng 5, Thị Xă Cần Thơ thật ồn ào, rộn rịp. Gần
như mọi nhà đều có người đổ xô ra đường, có nhiều con lộ bị nghẹt cứng. Dân
chúng đi bộ tràn ra cả ḷng đường, chúng tôi phải xuống xe dẫn bộ, len lỏi t́m
lối vượt qua. Tôi chợt nh́n thấy Trung Úy Việt, Tùy Viên Tư Lệnh, đang đứng
trong sân nhà của Trung Úy Minh, sĩ quan Quân Sử BTL, tôi lật đật kéo Thành tấp
vào. Gặp Việt, tôi hỏi ngay t́nh trạng của Thiếu Tướng Tư Lệnh.
Buổi sáng, trước khi rời dinh, một hạ sĩ quan văn pḥng đă đến trao cho tôi tờ
giấy ghi tên họ của tôi đă “đăng kư tŕnh diện” và cho tôi biết tin Thiếu Tướng
Nam cũng đă tự sát. Tôi hỏi lại và được Trung Úy Việt xác nhận điều đó. Anh c̣n
cho biết thêm, xe cứu cấp của Quân Y Viện Phan Thanh Giản do anh và Trung Úy
Danh gọi đă đến và mang Tư Lệnh về QYV. Việt kể, lúc đó khoảng 7 giờ sáng, Thiếu
Tướng đang ở trong pḥng, ông bảo hai tùy viên về nhà, rồi dùng Colt tự sát khi
ông c̣n lại một ḿnh. Tôi không tiện hỏi han thêm v́ c̣n quá nhiều việc để làm.
Ra đến khu chợ, tôi cùng Thành t́m chỗ ăn sáng. Sau đó, tôi để Thành ngồi lại
một ḿnh, đi sâu vào chợ, mua các thứ trà, nhang, đèn cầy, vải liệm rồi trở ra
cùng Thành phóng nhanh về dinh. Quan tài đă được đem đến và được đặt trên hai
giá gỗ chính giữa nhà. Tôi hơi phập phồng khi thấy có hai cán binh Cộng Sản miền
Nam đang trên vọng gác. Họ không đả động ǵ tới bên trong dinh. H́nh như họ được
lệnh chỉ ở đó mà thôi. Có lẽ thấy yên tâm phần nào, bà Tướng nói với tôi và
Thiếu Tá Phương, ư bà dự định quàng lại 3 ngày. Tôi thấy cổ áo quan cũng “khiêm
tốn” nên bàn với Thành đến Quân Y Viện Phan Thanh Giản t́m xin bộ ny lông. Tôi
muốn nhân dịp này để biết đích xác t́nh trạng của Thiếu Tướng Tư Lệnh.
Viếng Thăm Thi Hài Thiếu Tướng Nam
Xe chúng tôi vừa tới cổng Quân Y Viện, lác đác c̣n vài thương binh đang khập
khễnh cùng thân nhân hối hả ra cổng. Khi vào sâu bên trong, tôi nhận ra nơi đây
im ĺm, trống vắng, y sĩ, nhân viên lẫn thương bệnh binh đều đă rời viện tự bao
giờ rồi. Một ít thương binh tôi c̣n gặp có lẽ v́ thân nhân ở xa mới vừa đến để
đón họ. Duy nhất chỉ một người đàn ông trạc tuổi tôi c̣n đứng trong sân cạnh
chiếc xe gắn máy của anh. Tôi thầm mong gặp được nhân vật có vai tṛ đúng như
Trung Tá Bia. Tôi liền đến gần và đánh bạo bộc bạch cùng anh việc tôi đến đây.
Rất may, tôi gặp đúng người. Anh trao cho tôi bộ áo quan ny lông giấu nơi yên xe.
Tôi hỏi Thiếu Tướng Nam nằm ở đâu? Anh chỉ Pḥng Lựa Thương cách đó chỉ 30 thước
và dặn ḍ tôi coi chừng, đă có chúng nó. Khi thấy chỉ có ba chúng tôi, tôi cảm
ơn anh rồi bảo Thành chạy xe đến đậu sát bậc thềm căn pḥng, rồi ngồi trên xe
chờ tôi. Tôi vừa bước vào cửa pḥng là thấy ngay một thi thể được phủ kín bằng
tấm drap trắng, chỉ ló ra ngoài hai chân vẫn c̣n mang đôi giày da quân đội. Thi
hài nằm trên chiếc băng ca đặt trên giá sắt cao gần 1 thước. Một chiếc bàn nhỏ
đặt trước đầu băng ca, trên có một lon nhôm đựng cát dùng thay bát hương, một
hộp quẹt diêm và một thẻ nhang nhỏ đă bốc ra. Trong Pḥng Lựa Thương vắng ngắt.
Tôi đoán chắc đây là thi thể của Thiếu Tướng Tư Lệnh. Tôi bước tới đưa tay kéo
nhẹ tấm phủ trên đầu để được nh́n thấy gương mặt Thiếu Tướng như người đang ngủ.
Một vết đạn khoét từ thái dương phải trổ một đường kính cỡ trái chanh nơi thái
dương trái, vệt máu đă thẫm đen chạy dài từ đó xuống g̣ má, đến cổ và động lại
trên bâu áo phải làm lem lấm hai ngôi sao thêu màu đen. Bộ quân phục chiến đấu
vẫn trên người Thiếu Tướng đến giây phút cuối cùng. Tôi đốt một nén hương cặm
vào cái lon đă có ba chân nhang của ai đó đến đây trước tôi. Tôi kéo tấm vải phủ
lại như cũ rồi lặng lẽ rời Quân Y Viện.
Lể Tẩm Liệm Đơn Sơ
Tôi trở về dinh để chờ đón Trung Tá Bia. Hai mươi phút sau Trung Tá Bia đến đưa
thi hài xuống nhà dưới. Trung Tá Bia bảo tôi nâng phần đầu. Lễ tẩm liệm đơn sơ,
nhanh chóng do Trung Tá Bia chỉ dẫn thực hiện. Tôi đứng ở đầu quan tài lặng nh́n
ông điều khiển mấy người lính trong dinh làm động tác cuối, từ từ đậy nắp áo
quan. Bỗng có tiếng la uất nghẹn:
- Trời ơi! Ông “thầy” ơi!
Rồi bóng một người lao đến bên quan tài, anh xúc động gần như quỵ xuống. Tôi
nhận ra đó là Thiếu Tá Lành, Tiểu Đoàn Trưởng 3/33. Tiểu đoàn của anh sáng nay
cũng đă tuân lệnh giải giáp, giao vũ khí, cởi bỏ quân phục tại chỗ, rồi từ trong
vùng hành quân lội bộ ra lộ, mạnh ai tự t́m phương tiện về nhà. Thiếu Tá Lành
được tin cái chết của Tướng Hưng nên t́m đến tư dinh. Anh xuất thân từ trường
Thiếu Sinh Quân, sau khi rời quân trường, về Tiểu Đoàn 2/31 cuối năm 68. Do đă
từng phục vụ dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Lê Văn Hưng, thuở đó là Trung Đoàn
Trưởng 31, nên anh vẫn nhớ và kính trọng vị “thầy” của ḿnh.
Đúng lúc đó, Trung Úy Phúc xuất hiện. Anh cùng vợ con đáp xe đ̣ từ Sài G̣n xuống
tới. Mọi việc xong xuôi, Trung Tá Bia từ giă chúng tôi để về nhà gặp gia đ́nh.
Từ hôm qua, 30 tháng 4, tên ông vẫn c̣n nằm trong sổ cấm quân ban hành từ hơn
một tuần nay của BTL/QĐ. Một người lính vào nói nhỏ cho tôi biết một nguồn tin
rất bất lợi cho chúng tôi. Do vậy, tôi, Phúc và Thiếu Tá Phương thuyết phục bà
Tướng nên an táng ngay cho ông và rời dinh càng sớm càng tốt. Chúng tôi phân
chia công việc cho nhau: Phúc cùng vài nhân viên đến khu đất nhà ở Cái Răng lo
đào huyệt. Phần tôi lo xe tang. Thành đưa tôi đến Hội Mai Táng Từ Thiện của Hiệp
Hội Xe Đ̣ Cần Thơ. Rất may cho chúng tôi là người đại diện cho Hiệp Hội chấp
thuận, dù biết đó là đám tang của một vị Tướng. Ông cho biết là phải lo cho một
đám tang khác lúc 15 giờ. Vậy chúng tôi phải chuẩn bị sẵn sàng, lúc xe tang đến
là phải di chuyển liền.
Từ lúc đó cho đến khi xe tang xuất hiện, chúng tôi thu xếp mọi thứ đem theo để
khi rời dinh sẽ không trở lại nữa. Đúng lúc tôi đang bối rối với chút mong manh
hy vọng, bỗng có tiếng ồn ào, rồi cánh cửa cổng mở toang. Chiếc xe tang đen ng̣m
đưa phần đuôi trườn vào sân. Các nhân viên trên xe nhanh nhẩu nhảy xuống chạy
vào nhà, năm phút sau tất cả chúng tôi bắt đầu rời dinh. Anh Phương, Phúc, tôi
cùng gia đ́nh bà Tướng ngồi trên xe tang. Thành và những nhân viên khác dùng
phương tiện riêng chạy theo sau xe tang. Lúc xe rời cổng lớn một đoạn, tôi nh́n
lại thấy có nhiều người chạy ùa vào dinh. Vĩnh biệt tất cả, vĩnh biệt cả con chó
berger chúng tôi đau ḷng phải bỏ nó lại! Xe quẹo qua Đại Lộ Ḥa B́nh hướng về
Cái Răng.
Tại huyệt mộ, một cậu bé trạc độ 14 tuổi, nhưng đôi tay thật thông thạo, nhịp
nhàng với miệng hô khẩu lệnh điều khiển lên xuống đ̣n tay, rút dây khéo léo, đưa
êm thấm quan tài xuống đáy huyệt. Họ nhanh chóng phụ giúp chúng tôi lấp đất và
đắp vung lên thành h́nh ngôi mộ. Chúng tôi ngậm ngùi chào từ biệt Chuẩn Tướng,
để lại ḿnh ông đơn độc như cố Thiếu Tướng Nam mà tôi đă gặp vào buổi sáng.
Chúng tôi về đến Cần Thơ th́ trời đă tối. Bà Tướng và gia đ́nh cùng Thiếu Tá
Phương, Trung Úy Phúc đến nương náu tại một ngôi chùa. Rốt cuộc chúng tôi cũng
về được Sài G̣n đông đủ. Khi bà Tướng cùng gia đ́nh tạm có chỗ ở là đúng lúc tôi
phải vào trại cải tạo.
![]()
Chuẩn Tướng Trần Văn
Hai
Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh

Di ảnh cố Chuẩn Tướng Trần Văn Hai
Tiểu Sử
Viết Về Tướng Trần
Văn Hai
Người
Lính Già
Có lẽ
ít ai để ư và biết tới tân Thiếu Úy Trần Văn Hai tốt nghiệp khóa 7 trường Vơ Bị
Đà Lạt t́nh nguyện ra chiến đấu tại chiến trường Bắc Việt năm 1952 được bổ nhiệm
về phục vụ Tiểu Đoàn 4 Việt Nam (Thiếu Tá Đặng Văn Sơn, Tiểu Đoàn Trưởng, sau
này là Đại Tá Tư Lệnh Sư Đoàn 2 rồi Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện BĐQ Dục
Mỹ). Sau khi đất nước bị chia đôi và người Pháp lần lượt trao trả quyền quản trị,
điều khiển các quân khu lại cho Quân Đội Quốc Gia Việt Nam ( đặc biệt là Quân
Khu 4 trên cao nguyên từ trước vẫn hoàn toàn do các sĩ quan Pháp nắm giữ) và do
một cơ duyên nào đó ông Hai gặp Đại Úy Đặng Hữu Hồng. Đại Úy Hồng là một chuyên
viên t́nh báo mới bổ nhiệm lên cao nguyên làm Trưởng Pḥng 2 Quân Khu 4 đă nhận
thấy ông Hai rất có thiện chí với nhiều khả năng về t́nh báo nên đă đề nghị rút
về phụ trách ban binh địa của pḥng 2 Quân Khu. Sau đó Trung Úy Hai được vinh
thăng Đại Úy đi làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 81 Địa Phương đồn trú tại Phan
Thiết rồi về làm Đại Đội Trưởng chỉ huy công vụ Trung Đoàn 44 thuộc Sư Đoàn 23
Bộ Binh.
Năm 1961, sau khi tốt nghiệp khóa bộ binh cao cấp tại Hoa Kỳ th́ Đại Úy Trần Văn
Hai đă trở nên quen thuộc và được nhiều người biết đến trong t́nh thân thương
cũng có mà thù ghét cũng không phải là ít. Khi Trung Tâm Huấn Luyện Biệt Động
Quân Dục Mỹ được thành lập để huấn luyện các đơn vị Biệt Động Quân về rừng núi
śnh lầy, mưu sinh thoát hiểm cho sĩ quan của các đơn vị và sinh viên sĩ quan
của Vơ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Đại Úy Hai là một trong số huấn luyện viên tận tụy
làm việc hết ḿnh theo đúng quan niệm: “Thao trường đổ mồ hôi, chiến trường bớt
đổ máu,” và mồ hôi của ông luôn luôn ướt sũng bộ đồ tác chiến như mọi người đă
nh́n thấy.
Năm 1964, Đại Úy Trần Văn Hai được vinh thăng Thiếu Tá sau khi mang lon Đại Úy
liên tiếp 9 năm và được bổ làm Tỉnh Trưởng khiêm Tiểu Khu Trưởng Phú Yên và cũng
chính từ ở chức vụ nầy ông đă có dịp bộc lộ các cá tính và con người thực. Dưới
đây là phần trích dẫn của Lôi Tam viết lại cuộc đối thoại của nhóm quân nhân và
công chức trẻ mà chính anh là một:
- Tụi bây bỏ hết công việc ra đây mai mốt anh Mũ Nâu lại gọi vào chửi cho cả đám.
Anh Mũ Nâu là biệt danh chúng tôi dùng để gọi Trung Tá Hai, Tỉnh Trưởng kiêm
Tiểu Khu Trưởng vốn xuất thân là Biệt Động Quân.
- Ối ăn nhằm ǵ, chửi bới là nghề của anh ấy, không có chuyện cho anh ấy chửi
anh ấy bệnh ngay. Dưới mắt anh ấy chỉ có ḿnh anh ấy là khá, kỳ dư c̣n lại là lũ
ăn hại, đái rát.
- Tụi bây chửi anh ấy cũng tội nghiệp, phải công nhận là anh ấy có thiện chí.
Nếu nước ḿnh mà có vài mươi mạng như anh ấy th́ cũng đỡ khổ.
- Đỡ quá chứ cũng đỡ ǵ... chỉ riêng cái việc anh ấy không ăn bẩn là tao sợ anh
ấy rồi...
Chúng tôi kính phục Trung Tá Hai v́ sự trong sạch, thái độ ngay thẳng và ḷng
yêu mến dân chúng thật t́nh của ông. Trong thời gian phục vụ dưới quyền của ông,
chúng tôi phải làm việc hai ba lần mệt hơn khi làm việc với các ông Tỉnh Trưởng
khác nhưng cũng là thời gian chúng tôi thích thú nhất...
Ông không bao giờ cười, họa hoằn lắm mới có một cái nhếch mép nhưng lại có máu
khôi hài lạnh. Tôi nhớ sau cuộc hành quân tại Vũng Rô, một phái đoàn tướng tá
Việt-Mỹ đến Phú Yên tham dự cuộc thuyết tŕnh về thành quả. Trong khi ông Hai
đang thuyết tŕnh th́ một ông Đại Tá Mỹ đứng dậy đặt câu hỏi là trong số thương
vong của địch có bao nhiêu phần trăm do hỏa lực bộ binh?
Trung Tá Hai không trả lời ngay, ông có vẻ suy nghĩ, một lát sau ông nói:
- Tôi rất tiếc không trả lời câu hỏi của Đại Tá lúc này được.
Mọi người có vẽ ngạc nhiên, viên Đại Tá Mỹ cau mày hỏi:
- Tại sao vậy Trung Tá?
Ông Hai hơi nhếch mép, tôi biết ông đang cố gắng nén cái cười ngạo mạn:
- Tại v́ tôi chưa kịp viết thư cho viên tướng Cộng Sản ở vùng nầy. Lẽ ra tôi
phải viết thư trước và yêu cầu hắn chỉ thị cho binh sĩ của hắn khi bị sát hại
bằng hỏa lực phi pháo th́ phải nằm riêng ra một chỗ và khi bị bộ binh bắn th́
phải nằm riêng ra một chỗ để chúng ta dễ đếm và thống kê, lần nầy th́ chịu, theo
nhận định của Bộ Chỉ Huy hỗn hợp th́ đây là một cuộc hành quân phối hợp hoàn hảo
của Hải, Lục, Không Quân, thương vong của địch rải rác lẫn lộn, t́nh thế cũng
không cho phép binh sĩ của ta ở lại lâu tại vị trí giao tranh để làm thống kê tỉ
mỉ, v́ vậy tôi không thể trả lời được câu hỏi của Đại Tá.
Trung Tá Hai có thể nén cười được nhưng chúng tôi th́ không...
Trung Tá Hai rời chức vụ Tỉnh Trưởng v́ một chuyện rất nhỏ... Ông tướng Tư Lệnh
vùng đang say mê một cô ca sĩ; biết rơ như thế nên một số các ông Tỉnh Trưởng
trong vùng thi nhau làm vui ḷng ông Tướng mỗi khi cô ca sĩ này đến tŕnh diễn
tại địa phương.
Ông Hai không cần biết điều này và ông cũng không cần biết làm ǵ v́ bản chất
của ông: thanh liêm, chánh trực. Sau một lần không làm vừa ḷng tướng Tư Lệnh về
những chuyện công vụ, một tháng sau ông Hai bị thay thế, chúng tôi tiễn ông ra
máy bay trực thăng... và hành trang của ông là một túi vải nhỏ, loại mà các phi
công sử dụng mỗi khi đi bay...
- Tôi cám ơn các anh chị đă tận t́nh làm việc với tôi trong những tháng vừa qua;
có thể người ta cho rằng ḿnh là những đứa dại, chỉ biết làm việc mà không biết
đục khoét. Nhưng tôi tin rằng ḿnh đă làm đúng...
Thảo luận với ông về những khó khăn trở ngại ông thường nói:
- Tôi biết, tôi biết, tôi đă đi qua chiếc cầu đó rồi, đừng nản, sớm muộn ǵ đất
nước ḿnh cũng có ngày sáng sủa...
Ông về làm Chỉ Huy Trưởng BĐQ và được vinh thăng Đại Tá... Sau Tết Mậu Thân, ông
được bổ nhiệm vào chức vụ Tổng Giám Đốc Cảnh Sát Quốc Gia, vinh thăng Chuẩn
Tướng, Tư Lệnh Biệt Khu 44, Tư Lệnh Phó Quân Đoàn II, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm
Huấn Luyện Lam Sơn kiêm Huấn Khu Dục Mỹ và cuối cùng là Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ
Binh.
Khi ông vừa rời Phú Yên về tŕnh diện Bộ Quốc Pḥng th́ cũng đúng lúc chức Chỉ
Huy Trưởng Biệt Động Quân đang trống và ông Hai được bổ nhiệm điền khuyết trở
lại nơi ông đă xuất thân với những t́nh cảm thân thương. Vừa nhận chức với buổi
họp tham mưu đầu tiên tại Bộ Chỉ Huy, ông đă dành tối đa thời giờ để lên lớp
đúng theo danh từ mà Lôi Tam dùng để diễn tả các chỉ thị Tham Mưu chính yếu nhằm
quét dọn rác rưới trong việc điều hành, thuyên chuyển nhân viên, sử dụng quỹ xă
hội cách rất đúng đắn và những ngày sau đó đi thăm các đơn vị, đặc biệt là các
đơn vị trú đóng tại những căn cứ hẻo lánh, các trại gia binh và các thương bệnh
binh đang nằm điều trị tại các quân y viện. Quyết định đầu tiên của ông là xuất
quỹ xă hội trao tặng cho mỗi đơn vị 5,000 đồng để tổ chức Cây Mùa Xuân, ông quan
niệm đây là tiền của anh em đóng góp vào th́ họ phải được hưởng, và hơn nữa ông
là một người trong sạch nên ông coi giá trị đồng tiền khá cao, tại mỗi đơn vị
ông giơ cao bao thơ đựng tiền lập đi lập lại nhiều lần khiến mọi người phải cười
thầm.
Đặc điểm của ông là luôn luôn lắng nghe những khó khăn của các đơn vị trưởng và
dù với cấp bậc khiêm nhường ông không ngần ngại đến gơ cửa chính các vị Tư Lệnh
Vùng để trực tiếp can thiệp giải quyết vấn đề chứ không qua các vị Tham Mưu
Trưởng. Ở đâu có đụng chạm, có khó khăn là có sự hiện diện của ông và đặc biệt
là nhiều khi mùi khét của thuốc súng giao tranh chưa tan ông cũng không ngần
ngại đáp trực thăng xuống để cùng chia sẻ ngay tại chỗ với đơn vị và đặc biệt
với các cấp chỉ huy về những nỗi khó khăn gặp phải mặc dù đó không phải là nhiệm
vụ chính yếu được ấn định cho chức vụ Chỉ Huy Trưởng binh chủng của ông là quản
trị.
Trong cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân, chính ông đă trực tiếp điều khiển các
Liên Đoàn BĐQ hành quân giải tỏa vùng ven đô gây tổn thất nặng nề cho địch quân
cũng như giảm thiểu thiệt hại cho dân chúng.
Khi được bổ nhiệm làm Tổng Giám Đốc CSQG, ông có đem theo một số sĩ quan và hạ
sĩ quan để cùng tiếp tay với ông điều hành công vụ và ông cũng tỏ ra rất cứng
rắn đối với những người này. Trường hợp Đại Úy H. cùng quê và được ông coi như
một người em đỡ đầu được bổ nhiệm làm Trưởng Ty Cảnh Sát Quận 10 nhưng có những
hành động lợi dụng chức vụ, tức khắc bị ông áp dụng biện pháp trừng phạt và trả
về quân đội, trong đó có luôn cả chánh văn pḥng của ông. Khi một đại diện của
Giám Sát Viện phàn nàn với ông về những bê bối trong ngành cảnh sát, ông trầm
ngâm trả lời:
- Tôi biết, nhưng vấn đề không thể giải quyết một sớm một chiều mà phải kiên
nhẫn t́m ra những đầu mối, những tương quan thế lực chằng chịt th́ mới ngăn chận
được. Từ ngày về đây tôi đă gặp nhiều khó khăn, ḿnh như người vác chiếc thang
dài đi trong căn nhà hẹp, bốn bề đều đụng chạm. Không ai muốn ḿnh làm những
điều ḿnh cần thấy làm.
Tướng Hai là một quân nhân thuần túy, không biết hay nói đúng hơn là không bao
giờ chịu luồn cúi. Khi mới nhận chức CHT/BĐQ và lúc đó uy quyền của Tân Sơn Nhất
hay nói đúng hơn là Tướng Kỳ đang ở thế thượng phong nên có người đặt vấn đề là
nếu ông muốn tiến thân vững th́ cần phải t́m cách móc nối để lọt vào ṿng ảnh
hưởng, nhưng ông làm ngơ. Với ông, bè phái là một từ ngữ xa lạ.
Theo tiết lộ của cụ Trần Văn Hương khi cụ được chỉ định làm Thủ Tướng thay thế
Luật Sư Lộc, cụ đề nghị với Tổng Thống bổ nhiệm một tướng lănh có khả năng chỉ
huy chiến trường là Trung Tướng Đỗ Cao Trí làm Tư Lệnh Quân Đoàn III và Đại Tá
Trần Văn Hai, một sĩ quan trong sạch làm Tổng Giám Đốc Cảnh Sát. Nhưng có lẽ đó
cũng là một sự trùng hợp ngẫu nhiên nằm trong kế hoạch loại bỏ ảnh hưởng của
Tướng Kỳ.
Khi vừa nhận chức được ít lâu th́ ông Bộ Trưởng Nội Vụ muốn đưa đàn em về coi
Cảnh Sát Tư Pháp thay Luật Sư Đinh Thành Châu, nhưng ông Hai thẳng thắn trả lời:
- Nếu ông Bộ Trưởng muốn thay xin cứ ban hành nghị định, tôi sẽ thi hành nhưng
tôi không thấy Luật Sư Châu có lỗi lầm ǵ hết.
Để dằn mặt và trả đũa sự cứng đầu của ông, phụ phí của cảnh sát bị cắt giảm quá
một nửa, ông biết như vậy sẽ gặp nhiều trở ngại cho sự thi hành nhiệm vụ nhưng
vẫn làm những ǵ mà lương tâm ông nghĩ và coi đó là lẽ phải. Với thời gian hơn
một năm làm TGĐ, ông Hai chỉ đến gặp Tổng Thống, Phó Tổng Thống và Thủ Tướng khi
có lệnh hoặc v́ công vụ phải đích thân tŕnh bày, ngoài ra không bao giờ mon men
cầu cạnh và chưa bao giờ người ta thấy ông mặc thường phục đi xe hơi mang số ẩn
tế hoặc công xa lộng lẫy với xe hộ tống vơ trang cùng ḿnh chạy trước, chạy sau
dẹp đường mà chỉ xử dụng chiếc xe Jeep cũ của BĐQ mang theo với vài người cận vệ
ngồi phía sau. Người ta cũng không mấy ngạc nhiên khi thấy ông bị thay thế trở
về Quân Đội v́ cụ Hương đă rời phủ Thủ Tướng và hơn thế nữa, các thế lực sẽ
không thể chi phối các hoạt động của Cảnh Sát nếu c̣n để ông tiếp tục nắm quyền
điều khiển cơ quan này.
Mùa Hè Đỏ Lửa 72, Cộng Quân đẩy mạnh các nỗ lực tấn công có tính cách trận địa
chiến cắt đứt các trục giao thông chiến lược, đặc biệt là đoạn Quốc Lộ 14 nối
liền hai thị xă Komtum, Pleiku và Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn II-Quân Khu 2 cũng vừa
mới nhận chức muốn chứng tỏ khả năng chỉ huy của ông cũng như tạo một tiếng vang
nên ra lệnh cho lực lượng BĐQ phải hành quân giải tỏa đoạn Quốc Lộ nêu trên với
sự tăng cường của một Chi Đoàn Thiết Kỵ giao tiếp với một thành phần của Sư Đoàn
23 nhưng liên tiếp bị chận đánh không tiến lên được như ư muốn của ông nên trong
một buổi họp tham mưu, tướng Tư Lệnh đă trút giận dữ cho là BĐQ không chịu đánh,
ra lệnh thay thế các cấp chỉ huy liên hệ bằng những sĩ quan khác đồng thời c̣n
hướng về Tướng Hai lúc này đă được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Phó Quân Đoàn và nói:
- Biệt Động Quân của anh đó.
Bị miệt thị và nhất là tự ái binh chủng của ông nên ông đă thẳng thắn đáp lễ là
ông sẽ đứng ra trực tiếp điều khiển cuộc hành quân và ngay sau chấm dứt ông sẽ
rời khỏi Quân Đoàn II v́ ông không thể cộng tác với một ông Tư Lệnh làm việc tùy
hứng. Hai ngày sau đó lực lượng Biệt Động Quân giao tiếp được thành phần tiếp
đón từ Kontum tiến ra, tướng Tư Lệnh đă bay tới nơi với phái đoàn báo chí để
ngợi khen cái bắt tay có tính cách quyết định này. Tuy nhiên, để giữ lời hứa,
Tướng Hai yêu cầu được rời Quân Đoàn II, sau đó về làm Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm
Huấn Luyện Lam Sơn kiêm Huấn Khu Dục Mỹ, nơi mà trước đây ông đă phục vụ với
tính cách một huấn luyện viên nhỏ bé; nhưng ông chưa ngồi ở chức vụ này được bao
lâu th́ Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam được bổ nhiệm làm Tư Lệnh Quân Đoàn IV nên
ông Hai được bổ nhiệm thay thế Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam trong chức vụ Tư Lệnh
Sư Đoàn 7, một đại đơn vị nổi danh với những vị Tư Lệnh tiền nhiệm yêu nước,
trong sạch gồm cố Trung Tướng Nguyễn Viết Thanh và Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam.
Một đơn vị đă hoạt động một cách hữu hiệu trong nhiệm vụ chận đứng sự xâm nhập
của các đơn vị Cộng Quân trong mưu toan cắt đứt đường liên lạc tiếp tế từ miền
Tây về thủ đô và đó cũng là đơn vị đă chứng kiến hành động phi thường nhất của
ông với niềm tin sắt đá: “sớm muộn ǵ đất nước ḿnh rồi sẽ có ngày sáng sủa.”
Cùng các tướng Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Lê Nguyên Vỹ, Phạm Văn Phú, Tướng
Hai đă ghi đậm một nét son cho trang cuối của quân sử Việt Nam Cộng Ḥa. Nhân
ngày Quân Lực, xin đốt nén nhang cho những trang trung liệt, những người đời đời
là nỗi tiếc thương và niềm hănh diện cho Quân Dân Miền Nam, cho mọi thế hệ, cho
mọi thời đại của gịng sử đấu tranh Việt.
Trích trong “Nguyệt San Đoàn Kết”
Những Giờ Phút
Cuối Cùng Của Tướng Trần Văn Hai
Trịnh
Văn Ngạn và Huỳnh Văn Hoa
Trung Úy Huỳnh Văn Hoa,
nguyên Tùy Viên của Tướng Trần Văn Hai trong thời điểm 1975.
Căn
cứ Đồng Tâm, một căn cứ quân sự quan trọng nằm ngay yết hầu trên cửa ngơ từ miền
Tây về Sài G̣n. Mọi ngày nhộn nhịp xe cộ, kẻ ra người vào, hôm nay vắng lạnh như
tờ. Lúc bấy giờ là 14 giờ 30 ngày 30-4-1975.
Sau khi theo vị Tư Lệnh họp mặt với các sĩ quan thuộc quyền ông lần cuối tại Câu
Lạc Bộ Sĩ Quan Sư Đoàn, tôi trở về pḥng riêng trong dăy cư xá sĩ quan độc thân
để thu xếp đồ đạc cá nhân và chờ lịnh. Mới đây cách mấy tiếng đồng hồ, sau khi
nhận được lệnh đầu hàng của Tổng Thống Dương Văn Minh và chờ “phía bên kia” đến
bàn giao, Chuẩn Tướng Tư Lệnh đă triệu tập tất cả sĩ quan và ông đă ngỏ lời cám
ơn cùng chào từ giă các sĩ quan thuộc cấp của ḿnh, đồng thời ông ra lịnh cho
tất cả mọi người trở về gia đ́nh thu xếp cho vợ con, tránh đụng độ với quân địch,
đổ máu vô ích.
Đúng 15 giờ, điện thoại Tư Lệnh gọi tôi lên pḥng của ông. Sau nghi thức chào
kính như thường lệ, tôi đứng nghiêm chờ lệnh. Khác với mọi ngày, Chuẩn Tướng Tư
Lệnh không ngước nh́n tôi, ông ngồi im như pho tượng gỗ, dường như ông đang suy
tư một điều ǵ. Một lúc sau ông ra dấu cho tôi ngồi xuống chiếc ghế tiếp khách,
trước bàn làm việc của ông. Khi tôi đă ngồi xuống, ông mới bắt đầu lên tiếng một
cách từ tốn:
- Cám ơn em đă ở bên cạnh tôi trong giờ phút cuối cùng này. Vận nước đă đến hồi
như vậy, không thể làm ǵ hơn được. Là quân nhân, chúng ta phải tuyệt đối chấp
hành lệnh thượng cấp.
Sau đó ông hỏi thăm gia cảnh tôi. Cuối cùng, ông mở ngăn kéo làm việc, lôi ra
một món đồ gói bằng giấy báo, ông đưa cho tôi và nói rằng:
- Sáng sớm ngày mai, em có thể trở về với gia đ́nh. Tôi nhờ em đưa gói đồ này
cho mẹ tôi và nói với bà rằng đây là quà tôi gởi cho bà và bảo bà đừng lo lắng
ǵ cho tôi cả. Bây giờ em có thể trở về doanh trại thu xếp đồ đạc giờ đến tối
lúc nào cần tôi sẽ gọi.
(Sau này, tôi được biết trong gói quà ấy có 70,000 đồng cũng như có một số vật
dụng cá nhân hàng ngày của Chuẩn Tướng Tư Lệnh).
Đứng dậy chào vị Tư Lệnh xong tôi trở về doanh trại, ḷng thật bất ổn. Tôi linh
cảm như sắp có điều ǵ ghê gớm xảy ra cho ông. Chờ măi đến hơn 6 giờ chiều,
không thấy điện thoại Tư Lệnh gọi, ḷng tôi hết sức bồn chồn, đứng ngồi không
yên. Cuối cùng, tôi quyết định chạy bộ lên văn pḥng Tư Lệnh.
Căn cứ Đồng Tâm ch́m trong hoang vắng. Càng đến gần văn pḥng Tư Lệnh tôi càng
hồi hộp. Và rồi tôi cũng đến nơi. Đèn đuốc trong văn pḥng vẫn sáng như mọi ngày,
nhưng một bầu không khí lạnh lẽo bao trùm. Tôi rón rén bước lại cửa văn pḥng,
nghe ngóng động t́nh. Vẫn hoàn toàn yên lặng! Sau cùng, tôi liều đẩy mạnh cánh
cửa pḥng làm việc của Tư Lệnh bước vào, một khung cảnh hiện ra trước mắt làm
tôi hết sức ngỡ ngàng.
Chuẩn Tướng Tư Lệnh ngồi gục đầu mê man trên bàn làm việc. Một ly rượu lớn đă
cạn c̣n ở trên bàn. Tôi biết điều ǵ đă xảy ra. Tôi cấp tốc liên lạc với Tiểu
Đoàn Quân Y và Bệnh Xá Sư Đoàn. Lúc đó c̣n một vị thiếu tá bác sĩ ở bệnh xá. Tôi
liền tŕnh bày nhanh qua điện thoại t́nh trạng của Chuẩn Tướng Tư Lệnh. Chờ một
lúc sau, ông thiếu tá bác sĩ lái chiếc xe Jeep cứu thương đến văn pḥng Tư Lệnh.
Chúng tôi đặt Chuẩn Tướng Tư Lệnh nằm trên băng ca và chở xuống Bệnh Xá Sư Đoàn
ngay. Lúc này ông đă mê man bất tỉnh. Tại bệnh xá, sau một hồi tận lực cấp cứu,
vị thiếu tá bác sĩ buồn rầu báo cho tôi biết, v́ thuốc độc đă ngấm vào máu khá
lâu, Chuẩn Tướng Tư Lệnh không qua được cơn nguy kịch.
Chúng tôi lặng lẽ lau mặt cho ông, đặt ông nằm ngay ngắn trên băng ca và đứng
nghiêm chào vị Tư Lệnh đáng kính lần cuối. Sau khi lấy chăn đắp thi hài ông lại,
tôi trở về doanh trại thu xếp đồ đạc và quyết định khuya nay sẽ về Sài G̣n báo
tin cho gia đ́nh Chuẩn Tướng biết. Khi về tới Sài G̣n, tôi được biết gia đ́nh
ông gồm vợ, con và mẹ đă chạy vào lánh nạn ở Nhà Thương Grall. Sau khi gặp được
gia đ́nh ông, gia đ́nh ông quyết định bằng mọi cách phải mang xác ông về Sài G̣n.
Sáng 1-5-1975, mẹ ông và tôi, một già một trẻ, bao luôn chiếc xe lambretta loại
ba bánh, xuống căn cứ Đồng Tâm. Chúng tôi đến nơi vào khoảng 10 giờ sáng. Khác
với hôm qua, hôm nay căn cứ tràn ngập người ra vào. Kẻ đi t́m con, người t́m
chồng, kẻ đi hôi của v.v... Xe Honda chạy loạn xạ trong căn cứ. Khi xe lam chúng
tôi chạy đến cổng th́ gặp một bộ đội Cộng Sản địa phương chặn lại. Như đă sắp
đặt trước, mẹ của Tư Lệnh xuống xe mếu máo:
- Con ơi, má có thằng con bị bắt đi quân dịch,nghe nói đâu nó chết hôm qua, cho
má vào nhận xác nó đi con! Tội nghiệp má quá, ḥa b́nh rồi con ai cũng về nhà,
riêng con má không về nữa.
Nói xong, không đợi cho tên bộ đội trả lời, bà giục tôi lên xe và hối tài xế xe
lam chạy lẹ vào căn cứ. Tên bộ đội trẻ cứ đứng há hốc miệng ra nh́n, chẳng hiểu
ra sao cả. Tôi hướng dẫn tài xế xuống Bệnh Xá Sư Đoàn. Sau đó cùng khiêng thi
hài Chuẩn Tướng Tư Lệnh lên xe và đưa về Sài G̣n. Về đến Nhà Thương Grall th́
trời đă tối hẳn. Người ta sầm x́ báo cho nhau biết chiều nay, ở đây, vừa cử hành
đám tang Tướng Phạm Văn Phú. Phần tôi lúc này quá mệt mỏi, đầu óc vô cùng căng
thẳng, không biết vợ con hiện giờ ở đâu.
Sau khi tẩm liệm xác Tư Lệnh xong, tôi đứng yên lặng nh́n ông lần cuối, không
dám chào theo nghi thức quân đội v́ sợ bị lộ tung tích, gia đ́nh ông sẽ gặp
nhiều phiền toái. Cuối cùng, tôi cũng phải từ giă vị Tư Lệnh đáng kính với hai
hàng nước mắt đầm đ́a để về t́m vợ con.
Trịnh Văn Ngạn, viết theo lời kể của Trung Úy Huỳnh Văn Hoa
![]()
Đại Tá Hồ Ngọc
Cẩn
Tiểu
Khu Trưởng Tiểu Khu Chương Thiện

Di ảnh cố Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn
Tiểu Sử
Đại
Tá Hồ Ngọc Cẩn sinh ngày 24 tháng 3 năm 1938 tại Cần Thơ. Thân phụ là một hạ sĩ
quan trong quân đội Quốc Gia Việt Nam. Khi ông bắt đầu đi học (1945) th́ chiến
tranh Pháp-Việt bùng nổ nên sự học bị gián đoạn. Măi đến năm 1947 ông mới được
đi học lại. Năm 1951, ông được nhập học trường Thiếu Sinh Quân đệ nhất quân khu
tại Gia Định. Cuối năm 1952, trường này di chuyển về Mỹ Tho. Cuối niên học
1954-1955, ông học xong đệ Ngũ th́ đă đúng 17 tuổi. Theo quy luật của trường
Thiếu Sinh Quân, nếu đến 17 tuổi mà không phải là học sinh xuất sắc th́ sẽ gởi
đi học chuyên môn.
Niên khóa 1955-1956, Hồ Ngọc Cẩn được gởi lên học tại Liên Trường Vơ Khoa Thủ
Đức về vũ khí. Sau sáu tháng, ông đậu chứng chỉ chuyên môn về vũ khí và bắt đầu
đăng vào quân đội với cấp bậc binh nh́. Với quy chế đặc biệt dành cho Thiếu Sinh
Quân, chín tháng sau, ông trở thành trung sĩ huấn luyện viên về vũ khí. Chiến
tranh tại miền Nam Việt Nam lan rộng kể từ 1962.
Để giải quyết nhu cầu thiếu sĩ quan, Bộ Quốc Pḥng cho mở các khóa sĩ quan đặc
biệt. Được sự nâng đỡ của Bộ Tổng Tham Mưu, các hạ sĩ quan xuất thân từ trường
Thiếu Sinh Quân đều được nhập học. Hồ Ngọc Cẩn tốt nghiệp khóa 2 sĩ quan đặc
biệt với cấp bậc Chuẩn Úy. Theo truyền thống của Quân Đội Quốc Gia Việt Nam lúc
đó, các tân chuẩn úy xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân đều được đưa về phục vụ
tại các binh chủng ưu tú như: Nhảy Dù, Thủy Quân Lục Chiến, Biệt Động Quân, Quân
Báo, An Ninh Quân Đội và Lực Lượng Đặc Biệt.
Sau khi ra trường, Hồ Ngọc Cẩn theo một khóa huấn luyện Biệt Động Quân rồi
thuyên chuyển về phục vụ tại Khu 42 Chiến Thuật với chức vụ là trung đội trưởng
của một đại đội BĐQ. Lănh thổ khu này gồm các tỉnh Phong Dinh (Cần Thơ), Chương
Thiện, Ba Xuyên (Sóc Trăng), An Xuyên (Cà Mâu). Về sau v́ t́nh h́nh chiến tranh
thay đổi, quân Cộng Sản từ du kích chiến, chuyển sang đánh cấp tiểu đoàn và
trung đoàn, các đại đội BĐQ cũng phải kết hợp lại thành tiểu đoàn. Các đại đội
BĐQ của Khu 42 Chiến Thuật kết thành 2 tiểu đoàn. Tiểu đoàn mang số 42, đơn vị
mà Cẩn phục vụ, được tặng mỹ danh là “Cọp Ba Đầu Rằn.” Tiểu đoàn mang số 44 được
tặng mỹ danh là “Cọp Xám U Minh Hạ.”
Năm 1966, Cẩn là trung úy tiểu đoàn phó Tiểu Đoàn 42 BĐQ. Sau trận ác chiến tại
Vĩnh Châu, tiêu diệt toàn bộ Tiểu Đoàn Cơ Động Sóc Trăng của địch, ông được
thăng cấp Đại Úy. Cuối năm 1966, Cẩn từ biệt Tiểu Đoàn 42 BĐQ, đi làm tiểu đoàn
trưởng Tiểu Đoàn 1 Trung Đoàn 33 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Sau trận công kích
Tết Mậu Thân 1968, ông được thăng Thiếu Tá và là một trong những sĩ quan được
nhiều huy chương nhất quân đội.
Năm 1970, ông được thăng Trung Tá, rời tiểu đoàn 1/33 đi làm Trung Đoàn Trưởng
Trung Đoàn 15 thuộc Sư Đoàn 9 Bộ Binh. Vào mùa Hè đỏ lửa 1972, ông được lệnh
mang Trung Đoàn 15 từ miền Tây lên giải vây An Lộc. Sau khi An Lộc được giải tỏa,
ông được thăng cấp Đại Tá tại mặt trận. Cuối năm 1973, ông trở về với chiến
trường śnh lầy với chức vụ Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện.
Ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi Tướng Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng th́ Đại Tá
Hồ Ngọc Cẩn vẫn tiếp tục chiến đấu. Các đơn vị Cộng Sản tiến vào tiếp thu Tiểu
Khu Chương Thiện, th́ gặp sức kháng cự, chết rất nhiều. Ông bị bắt, đưa về Cần
Thơ rồi bị đem ra xử tử.
Vài Nét Về Một Anh Hùng
Trần Đại Sỹ
Năm 1966, khi đọc trong Đại Nam Chính
Biên Liệt Truyện, Đại Nam Nhất Thống Chí viết về “Ngụy Tây Sơn,” có nhiều nghi
vấn trong những trận đánh giữa Vua Quang Trung và Vua Gia Long tại rừng U Minh,
tôi nảy ra ư xuống vùng tận cùng của đất nước này t́m hiểu thêm. Bấy giờ đang
xảy ra vụ biến động tại miền Trung “các thầy mang bàn thờ xuống đường,” chiến
cuộc tại miền Tây cực kỳ sôi động, mẹ tôi, bà má má (vú nuôi) cực lực phản đối
v́ đi như vậy dễ tiêu dao miền Cực Lạc lắm. Nhưng bố tôi, sau khi tính số tử vi
của tôi, cụ lại khuyên tôi nên đi. Cụ nói:
- Con đi lần này sẽ có thêm nhiều bạn tốt, hơn nữa có dịp biết về vùng đồng lầy
Cà Mâu.
Tôi nhất quyết đi, bà má má khóc khốn khổ, nhưng cũng không cản được cái tính
phiêu lưu và mê sưu tầm của tôi. Nhưng làm thế nào để có thể vào được tất cả
những làng, những xă, mà không gặp trở ngại? Làm sao có phương tiện di chuyển?
Chỉ một cú điện thoại, ông bố tôi đă kiếm cho tôi cái giấy giới thiệu của tuần
báo trung lập lớn nhất ở Paris. Bà má má kiếm cho tôi giấy giới thiệu của tờ
nhật báo Hoa Văn tại Hương Cảng. Thế là tôi bỗng trở thành kư giả bất đắc dĩ.
Tôi đến Bộ Tư Lệnh MACV xin giúp phương tiện làm phóng sự chiến trường ở Vùng 4
Chiến Thuật. Tôi chỉ mong t́m hiểu lịch sử, chứ nào có chủ tâm làm kư giả!
Nhưng sau chuyến đi ấy, quá xúc động về cuộc chiến tranh thê thảm, tôi đă viết
rất nhiều bài kư sự chiến trường, đăng trên một số báo ngoại quốc. Khởi đầu, uất
hận trước cái chết của một cô bạn gái tên Đặng Thị Tuyết, mới hai mươi tuổi, làm
nữ cán bộ Xây Dựng Nông Thôn tại Kinh Tắc Vân, Cà Mâu, tôi viết bài “Giang Biên
Hoa Lạc” gây xúc động mạnh cho độc giả Hương Cảng và giới Hoa kiều tại Việt Nam.
Sau tôi có dịch bài này sang tiếng Việt với tên là “Hoa rơi trên bờ sông Tắc Vân.”
Tôi gởi bài này dự thi giải kư sự chiến trường của cục Tâm Lư Chiến năm 1967.
Bài của tôi được giải nh́. Giải nhất về Trang Châu cũng là một bài kư sự của y
sĩ tiền tuyến. Một trong các giám khảo nói với tôi: “Về nội dung, bài của cháu
với Trang Châu cùng nói lên niềm mơ ước của tuổi trẻ quên ḿnh cho quê hương.
Nhưng bài của Trang Châu trung thực, c̣n bài của cháu th́ ướt át quá, thê thảm
quá, dù rằng đó là sự thật.”
Sau đây, tôi xin trích nguyên văn một đoạn tôi viết về Hồ Ngọc Cẩn trong bài
“Ngũ Hổ U Minh Thượng” kể chuyện năm tiểu đoàn trưởng nổi danh can đảm, có máu
văn nghệ, nhất là phong lưu tiêu sái, tại chiến trường cực Nam năm 1966. Ngũ hổ
là:
- Đại Úy Hồ Ngọc Cẩn Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1/33
- Thiếu Tá Nguyễn Văn Huy Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 44 Biệt Động Quân. - Thiếu
Tá Lê Văn Hưng
Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 2/31 - Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt
Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 42 Biệt Động Quân. - Đại Úy Vương Văn Trổ Tiểu Đoàn
Trưởng Tiểu Đoàn 3/33
Ngày 29 tháng 4 năm 1966, tôi tới Phi Trường Vĩnh Lợi bằng phi cơ Caribu của
quân đội Hoa Kỳ. Người đón tôi là Thiếu Tá Raider của Cố Vấn Đoàn 42. Tại bản
doanh của Cố Vấn Đoàn 42, Đại Tá Cố Vấn Trưởng Hataway không biết ǵ về chủ đích
chuyến đi của tôi. Ông chỉ căn cứ vào giấy giới thiệu do hai chủ báo cấp, mà
đoán rằng tôi là tên thầy thuốc trẻ, thích phiêu lưu, nên đi làm kư giả. Ông cho
tôi biết t́nh h́nh địch rất chi tiết. Về t́nh h́nh của quân đội Việt Nam tại năm
tỉnh tận cùng của đất nước, ông nói:
“Khu 41 Chiến Thuật, do Sư Đoàn 21 của Quân Đoàn IV trấn nhậm, Sư Đoàn có ba
trung đoàn mang số 31, 32, 33. Trung Đoàn 31 đóng tại Chương Thiện. Trung Đoàn
32 đóng tại Cà Mâu. Trung Đoàn 33 đóng tại Ba Xuyên. Ngoài ra c̣n có hai tiểu
đoàn Biệt Động Quân mang số 42 và 44. Tiểu Đoàn 42 đóng tại Bạc Liêu. Tiểu Đoàn
44 đóng tại Ba Xuyên.” Ông ca tụng quân đội Việt Nam như sau: “Lương bổng cho
người lính Việt Nam, chỉ gọi là tạm đủ ăn. Doanh trại không có, trang bị thiếu
thốn. Nhưng họ chiến đấu như đoàn sư tử. Tuy vậy vẫn có những điều đáng phàn nàn.
Ông là thầy thuốc cầm bút, xin ông lướt qua những cái đó.”
Bốn hôm sau, có cuộc hành quân cấp sư đoàn. Tôi được gởi theo Tiểu Đoàn 42 BĐQ.
Tiểu đoàn trưởng là Thiếu Tá Lưu Trọng Kiệt. Tiểu đoàn phó là Trung Úy Hồ Ngọc
Cẩn. Cái tréo cẳng ngỗng là đối với cố vấn Mỹ th́ tôi là kư giả. C̣n Kiệt với
Cẩn lại tưởng tôi là bác sĩ t́nh nguyện ra mặt trận. Tiểu Đoàn được đặt làm trừ
bị tại Phi Trường Vĩnh Lợi từ bảy giờ sáng, chuẩn bị nhảy trực thăng vận. Nếu
khi nhẩy, th́ Tiểu Đoàn sẽ nhẩy làm hai cánh: Cánh thứ nhất gồm có hai đại đội
1, 2 do Hồ Ngọc Cẩn chỉ huy. Cánh thứ hai gồm có hai đại đội 3 và 4 do Thiếu Tá
Lưu Trọng Kiệt chỉ huy. Tôi và Kiệt, Cẩn ngang ngang tuổi nhau. Tôi có máu giang
hồ của người tập vơ, coi trời bằng vung, lại cũng có học qua quân sự, nên chúng
tôi thân cận nhau dễ dàng. Đại Úy cố vấn tiểu đoàn muốn tôi nhảy theo bộ chỉ huy.
Anh hỏi tôi:
- Lần đầu tiên ra trận, ông có sợ không?
Tôi trả lời như những nhân vật trong lịch sử Việt Nam:
- Tráng sĩ khi ra trận, không chết th́ cũng bị thương. Nếu sợ chết th́ đừng ra
trận.
Cẩn hỏi tôi đă học quân sự chưa? Tôi đáp:
- Kiến thức về quân sự của tôi chỉ bằng phó binh nh́ thôi. Nhưng cũng biết ḅ,
biết núp, biết nhảy, biết bắn. Đánh nhau bằng súng th́ tôi dở ẹt, nhưng đánh cận
chiến th́ tôi có hạng, v́ tôi là ông thầy dạy vơ.
Thông dịch viên dịch lại cho binh sĩ nghe. Họ khen tôi:
- Ông bác sĩ này ngon thật!
Tôi hỏi Kiệt:
- Trong hai cánh th́ cánh nào có hy vọng được đánh nhau nhiều hơn?
Kiệt chỉ Cẩn:
- Anh cứ nhảy theo thằng này th́ sẽ toại nguyện. Tha hồ mà hành nghề.
Tiểu đoàn cũng có sĩ quan trợ y. Anh biệt phái cho tôi một y tá cấp trung sĩ,
với đầy đủ thuốc cấp cứu. Trên lưng tôi chỉ có bộ đồ giải phẫu dă chiến. Khoảng
10 giờ th́ có lệnh: Một đơn vị địa phương quân chạm địch tại Vĩnh Châu. Địch là
Tiểu Đoàn Cơ Động Sóc Trăng. Tiểu đoàn phải nhảy trực thăng vận đánh vào hông
địch. Địa điểm nhảy là một khu đồng lầy.
Sau khi Kiệt họp các sĩ quan tóm lược vắn tắt nhiệm vụ, t́nh h́nh trong mười
phút, Cẩn dẫn tôi ra phi đạo. Hai đại đội đă lên trực thăng từ bao giờ. Chúng
tôi cùng leo lên một trực thăng. Hai mươi lăm chiếc trực thăng cùng cất cánh.
Trực thăng bay khoảng mươi phút, th́ Cẩn chỉ vào một khu làng mạc trước mặt:
- Ḱa, chỗ chúng ḿnh đáp ḱa.
Trực thăng hạ cánh. Thoáng một cái, hơn hai trăm người từ trực thăng lao ra. Một
cảnh tượng mà tôi không bao giờ quên: Những người lính dàn thành một hàng ngang.
Họ núp vào những bờ ruộng, mô đất, tay thủ súng, mắt đăm đăm nh́n về trước. Đó
là một làng, lưa thưa mấy chục ngôi nhà, cây dừa xanh tươi. Mặc dù súng trong
làng bắn ra, nhưng những người lính ấy vẫn chưa bắn trả. Tôi đưa mắt nh́n một
lượt, các sĩ quan, người th́ nằm, người th́ quỳ, cũng có người đứng. Từ lúc nhẩy
xuống, Cẩn không hề nằm quỳ, mà đứng quan sát trận ḿnh, quan sát trận địch. Một
là điếc không sợ sấm, hai là tự tin vào số tử vi của ḿnh thọ, tôi cũng đứng.
Hơn mười phút sau, cánh quân thứ nh́ đă nhảy xuống trận địa. Trận vừa dàn xong,
th́ sĩ quan đề lô xin pháo binh nă vào những chỗ có ổ moọc chê, đại liên, trung
liên trong làng. Một lệnh ban ra, hơn bốn trăm con cọp dàn hàng ngang, vừa bắn
vừa xung phong vào trong làng. Trong khi súng trong làng bắn ra, đạn cầy các ụ
đất, trúng vào ruộng nước, bụi, nước bắn tung. Hàng quân tới bờ ruộng cuối cùng,
cách b́a làng không đầy năm mươi thước th́ súng nhỏ từ trong mới nổ. Cả hàng
quân đều nằm dài sau các bờ ruộng. Giữa lúc đó, sĩ quan đề lô trúng đạn lật
ngược. Tôi chạy lại cấp cứu th́ không kịp, viên đạn xuyên qua sọ anh. Thế là
pháo binh vô hiệu.
Trực thăng vơ trang được gọi đến. Cố vấn Mỹ báo về Trung Tâm Hành Quân. Cố vấn
tại Trung Tâm Hành Quân ra lệnh cho phi công trực thăng nă xuống địa điểm có
địch quân. Tôi đứng cạnh Cẩn tại một mô đất. Cẩn không trực tiếp cầm máy chỉ huy,
mà ra lệnh cho các đại đội, trung đội qua hiệu thính viên. Sau khi trực thăng vơ
trang nă ba loạt rocket, đại liên th́ lệnh xung phong truyền ra. Cả tiểu đoàn
reo lên như sóng biển, rồi người người rời chỗ nằm lao vào làng. Không đầy mười
phút sau, tiếng súng im hẳn.
Bây giờ là lúc tôi hành nghề. Những binh sĩ, tù binh bị thương nặng được băng bó,
cầm máu, rồi trực thăng tải về quân y viện. Tôi ngạc nhiên vô cùng khi thấy
những binh sĩ bị thương khá nặng, khi nghe tôi nói rằng nếu họ muốn, tôi có thể
gắp đạn, may các vết thương đó cho họ mà không phải về quân y viện. Họ từ chối
đi quân y viện, xin ở lại để tôi giúp họ. Tôi cùng sĩ quan trợ y, bốn y tá làm
việc hơn một giờ đồng hồ mới xong. Tôi hỏi Cẩn:
- Tôi tưởng, thương binh được về quân y viện chữa trị là điều họ mong muốn mới
phải. Tại sao họ muốn ở lại? - Bọn cọp nhà này vẫn vậy. Chúng tôi sống với nhau,
kề cận cái chết với nhau, th́ xa nhau là điều buồn khổ vô cùng. Đấy chúng nó bị
thương như vậy đấy, lát nữa anh thấy chúng chống gậy đi chơi nhông nhông ngoài
phố, coi như bị kiến cắn.
Tôi đi một ṿng thăm trận địa. Hơn hai trăm xác chết, mặc áo ba ba đen, quần đùi.
Những xác chết đó, gương mặt c̣n non choẹt, đa số tuổi khoảng 15 đến 20, xác th́
nằm vắt vẻo trên bờ kinh, xác th́ bị cháy đen, xác th́ mất đầu, cũng có xác nằm
chết trong hầm. Không biết trong khi họ phơi xác ở đây, th́ cha mẹ, anh em, vợ
con họ có biết không?
Sau trận đó th́ Cẩn được thăng cấp Đại Úy. Cuối năm 1966, Cẩn từ biệt Tiểu Đoàn
42 BĐQ đi làm Tiểu Đoàn Trưởng Tiểu Đoàn 1 Trung Đoàn 33 thuộc Sư Đoàn 21 Bộ
Binh. Việc đầu tiên của Cẩn khi làm tiểu đoàn trưởng là xin sư đoàn cho tất cả
sĩ quan, hạ sĩ quan xuất thân trường Thiếu Sinh Quân về chiến đấu cùng với ḿnh.
Cẩn đă được thỏa măn một phần yêu cầu. Tôi hỏi Cẩn:
- Anh đem các cựu TSQ về với mục đích ǵ?
- Một là để dễ sai. Tất cả bọn TSQ này đều ra trường sau tôi. Chúng là đàn em,
dù tôi không phải là cấp trên của chúng nó, mà chúng nó lộn xộn, tôi vẫn hèo vào
đít chúng nó được. Nay tôi muốn chúng nó về với tôi, để tôi có thể dạy dỗ chúng
nó những ǵ mà quân trường không dạy. Hai là, truyền thống của tôi khi ra trận
là chết th́ chết chứ không lùi, v́ vậy cần phải có một số người giống ḿnh, th́
đánh nhau mới đă. Bọn cựu TSQ đều như tôi cả.
Suốt năm 1967, Cẩn với Tiểu Đoàn 1/33 tung hoành trên khắp lănh thổ năm tỉnh Hậu
Giang, khi Đại Ngăi, khi Tắc Vân, khi Kiên Hưng, khi Thác Lác, khi Cờ Đỏ. Thời
gian này, tôi bắt đầu viết lịch sử tiểu thuyết, nên tôi đọc rất kỹ Lục Thao, Tam
Lược, Tôn Ngô binh pháp cùng binh pháp của các danh tướng Đức, nhất là của các
tướng Hồng Quân. Tôi dùng kiến thức quân sự trong sách vở để đánh giá những trận
đánh của Cẩn từ 1966. Tôi bật ngửa ra rằng, Cẩn không hề đọc, cũng không hề được
học tại trường sĩ quan những binh pháp đó. Mà sao từ cung cách chỉ huy, cung
cách hành xử với cấp dưới, cấp trên, nhất là những trận đánh của Cẩn bàng bạc
xuất hiện như những lư thuyết trong thư tịch cổ?
Lần cuối cùng tôi gặp Cẩn vào mùa Hè năm 1974 tại Chương Thiện. Tôi hỏi Cẩn:
- Anh từng là trung đoàn trưởng, hiện làm tỉnh trưởng. Anh có nghĩ rằng sau này
sẽ làm sư đoàn trưởng không?
- Tôi lặn lội suốt 14 năm qua, gối chưa mỏi nhưng kiến thức có hạn. Được chỉ huy
trung đoàn là cao rồi. Ḿnh phải biết liêm sỉ chứ. Coi sư đoàn sao được?
- Thế anh nghĩ sau này anh sẽ làm ǵ?
- Làm tỉnh trưởng bất quá một hai năm rồi tôi phải ra đi, cho đàn em họ có chỗ
tiến thân. Bấy giờ tôi xin về coi trường Thiếu Sinh Quân hoặc coi các lớp huấn
luyện đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng, đem những kinh nghiệm thu nhặt được
trong mười mấy năm qua dạy đàn em. Tôi sẽ thuật trước sau hơn ba trăm trận đánh
mà tôi trải qua, nhờ anh viết lại. Bộ sách đó, anh nghĩ nên đặt tên là ǵ?
- Cẩm nang của các đại đội trưởng, tiểu đoàn trưởng trong chiến tranh chống du
kích tại vùng đồng lầy.
- Nhưng liệu Bộ Quốc Pḥng có cho phép in hay không?
- Không cho in th́ ḿnh cũng cứ thuật, rồi đem giảng dạy, ai cấm được?
Đây là cuộc gặp gỡ cuối cùng giữa tôi và Cẩn. Sau khi miền Nam mất, tôi không
được tin tức của Cẩn. Măi năm 1976, tôi được tin: Ngày 30 tháng 4 năm 1975, khi
Tướng Dương Văn Minh ra lệnh đầu hàng th́ Hồ Ngọc Cẩn vẫn tiếp tục chiến đấu.
Các đơn vị Cộng Sản tiến vào tiếp thu Tiểu Khu Chương Thiện, th́ gặp sức kháng
cự, chết rất nhiều. Ông bị bắt, đưa về Cần Thơ rồi bị đem ra xử tử.
Khi tôi gặp Cẩn th́ tôi chưa khởi công viết lịch sử tiểu thuyết. Thành ra cuộc
đời Cẩn, cuộc đời các thiếu sinh quân quanh Cẩn, in vào tâm năo tôi rất sâu, rất
đẹp. V́ vậy sang năm 1968, khi bắt đầu viết, th́ bao giờ tôi cũng khởi đầu bằng
thời thơ ấu của những nhân vật chính. Trong bộ nào, cũng có những thiếu niên,
khi ra trận th́ tiến lên hoặc chết, chứ không lùi.
Có rất nhiều người đặt câu hỏi: Giữa tôi và Cẩn như hai thái cực. Cẩn chỉ học
đến đệ ngũ, tôi được học ở nhà, ở trường đến tŕnh độ cao nhất. Cẩn là người
Nam, tôi là người Bắc. Cẩn theo đạo Chúa, tôi là cư sĩ Phật Giáo. Tôi th́ sống
trong sách vở, hay đi trên mây, Cẩn th́ lăn lộn với thực tế. Tôi không biết uống
rượu, Cẩn th́ nổi danh tửu lượng tại Sư Đoàn 21 Bộ Binh. Tôi thấy người đẹp là
chân tay run lẩy bẩy, Cẩn th́ dửng dưng. Thế mà khi gặp nhau, chúng tôi thân với
nhau ngay. Thân đến độ giăi bày cho nhau tất cả những tâm sự thầm kín nhất,
không một người thứ nh́ biết được. Tại sao? Cho đến nay, tôi mới trả lời được
rằng: Cẩn cũng như những người quanh Cẩn, là những h́nh bóng thật, rất quen
thuộc mà trước kia tôi chỉ thấy trong lịch sử, nay được gặp trong thực tế.
Hai mươi mốt năm qua, đúng mười hai giờ trưa, ngày 30 tháng 4, dù ở bất cứ nơi
nào, tôi cũng mua bó hoa, đèn cầy, vào nhà thờ đốt nến, đặt hoa dưới tượng Đức
Mẹ, và cầu xin cho linh hồn Cẩn được an lành trong ṿng tay Người.
Trích trong bài: “Vài nét về một anh hùng: Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn”
của Yên Tử Cư Sĩ Trần Đại Sỹ viết tại Paris ngày 30/4/1996.
![]()
THIẾU TƯỚNG PHẠM
VĂN PHÚ
Tư Lệnh Quân
Đoàn II -Vùng 2 Chiến Thuật

Di ảnh cố Thiếu Tướng Phạm Văn Phú
Tiểu Sử
Thiếu
Tướng Phạm Văn Phú sinh năm 1929 tại Hà Đông, Bắc Việt. Sau khi tốt nghiệp khóa
8 trường Vơ Bị Liên Quân Đà Lạt vào giữa năm 1953, ông đă t́nh nguyện phục vụ
trong binh chủng Nhảy Dù.
Tháng 3-1954, t́nh h́nh chiến trường Điện Biên Phủ vô cùng sôi động, ở cấp bậc
Trung Úy, ông đă chỉ huy một đại đội của Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù, nhảy xuống
Natasha, một vị trí sát phi đạo chính. Sau hơn một tháng liên tục giao tranh với
Việt Minh, Trung Úy Phạm Văn Phú đă chỉ huy một thành phần của Tiểu Đoàn 5 Nhảy
Dù cùng với các đơn vị của quân đội Pháp phản công tái chiếm một cứ điểm trọng
yếu. Sau trận phản công này, ông được thăng cấp Đại Úy tại mặt trận khi vừa đúng
25 tuổi và được cử giữ chức Tiểu Đoàn Phó Tiểu Đoàn 5 Nhảy Dù. Tháng 5-1954,
Điện Biên Phủ thất thủ, ông bị địch quân bắt giam. Sau Hiệp Định Genève
20-7-1954, ông được trao trả và tiếp tục phục vụ trong quân đội VNCH.
Năm 1960, Đại Úy Phú được tuyển chọn để phục vụ trong binh chủng Lực Lượng Đặc
Biệt. Cuối năm 1962, được thăng cấp Thiếu Tá và giữ chức vụ Liên Đoàn Trưởng
Liên Đoàn Quan Sát 77 thuộc Lực Lượng Đặc Biệt. Giữa tháng 5-1964, ông đă chỉ
huy liên đoàn này đánh tan Trung Đoàn 765 CSBV tại Suối Đá, Tây Ninh. Gần cuối
năm 1964, ông được thăng Trung Tá và giữ chức tham mưu trưởng Lực Lượng Đặc Biệt.
Đầu năm 1966, ông thuyên chuyển ra miền Trung, giữ chức phụ tá Tư Lệnh Sư Đoàn 2
Bộ Binh. Giữa năm, ông là Đại Tá Tư Lệnh Phó, xử lư thường vụ Tư Lệnh Sư Đoàn
này (Tư Lệnh Sư Đoàn 2 Bộ Binh là Thiếu Tướng Hoàng Xuân Lăm, được cử giữ chức
vụ Tư Lệnh Quân Đoàn I-Vùng 1 Chiến Thuật). Cuối năm 1966, ông được điều động ra
Sư Đoàn 1 Bộ Binh làm Tư Lệnh Phó Sư Đoàn. Giữa năm 1968, ông giữ chức vụ Tư
Lệnh Biệt Khu 44 (bao gồm các tỉnh biên giới ở miền Tây Nam Phần) đến năm 1969,
được thăng cấp Chuẩn Tướng tại mặt trận. Đầu năm 1970, Chuẩn Tướng Phú được cử
thay thế Thiếu Tướng Đoàn Văn Quảng trong chức vụ Tư Lệnh Lực Lượng Đặc Biệt.
Tháng 8-1970, Tướng Phú được Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm giữ chức vụ Tư
Lệnh Sư Đoàn 1 Bộ Binh thay thế Thiếu Tướng Ngô Quang Trưởng, được cử làm Tư
Lệnh Quân Đoàn IV-Vùng 4 Chiến Thuật. Tháng 3-1971, ông được thăng Thiếu Tướng
tại mặt trận sau cuộc hành quân Lam Sơn 719 tại Hạ Lào. Trong cuộc chiến mùa Hè
1972, ông đă điều động, phối trí các trung đoàn giữ vững pḥng tuyến Tây Nam Huế.
Do điều kiện sức khỏe, đến tháng 9-1972, ông bàn giao Sư Đoàn 1 Bộ Binh cho Đại
Tá Nguyễn Văn Điềm, Tư Lệnh Phó. Từ 1973 cho đến cuối năm 1974, ông giữ chức Chỉ
Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung.
Tháng 11-1974, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu kư sắc lệnh cử ông giữ chức vụ Tư
Lệnh Quân đoàn II-Vùng 2 Chiến thuật thay thế Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn trở
lại binh chủng Thiết Giáp, giữ chức chỉ huy trưởng. Nhận chức vụ khi t́nh h́nh
cao nguyên bắt đầu sôi động, Thiếu Tướng Phú được Đại Tá Trịnh Tiếu, Trưởng
Pḥng 2 Quân Đoàn, tŕnh bày về khả năng Cộng Quân sẽ mở cao điểm tại Ban Mê
Thuột, thế nhưng không hiểu v́ sao, Tướng Phú không tin và nhận định rằng Pleiku
mới là chiến trường trọng điểm, c̣n Ban Mê Thuột là mặt trận phụ mà Cộng Quân
muốn tạo thế nghi binh. Trận chiến Ban Mê Thuột đă bùng nổ vào rạng sáng ngày
10-3-1975. Ngày hôm sau, Ban Mê Thuột thất thủ. Bốn ngày sau, vào trưa ngày
14-3-1975, trong một cuộc họp khẩn cấp tại Cam Ranh, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
ra lệnh cho Thiếu Tướng Phú triệt thoái toàn bộ Quân Đoàn 2 khỏi Cao Nguyên.
Chuẩn Tướng Phạm Duy Tất, Tư Lệnh Phó Quân Khu 2 được chỉ định điều động việc
rút quân từ Pleiku về Nha Trang. Cuộc rút quân ra khỏi vùng Tây Nguyên được mô
tả là một cuộc di tản đầy bi thương v́ thiếu kế hoạch, thiếu chuẩn bị và chỉ huy.
Ngày 28-3-1975, Quân Đoàn II lại được lệnh triệt thoái khỏi Nha Trang để lập
tuyến pḥng thủ mới tại Phan Rang. Ngày 2-4-1975, Thiếu Tướng Phú được lệnh bàn
giao phần lănh thổ cuối cùng của Quân Khu 2 sát nhập vào Quân Khu 3.
Đầu tháng 4, Tướng Phú lâm bệnh, vào điều trị tại Tổng Y Viện Cộng Ḥa. Sáng
ngày 29-4-1975, tại căn nhà riêng đường Gia Long, chờ khi vợ và các con rời nhà
đi về phía trường đua Phú Thọ t́m cách di tản, Tướng Phú đă uống một liều thuốc
cực mạnh tự tử. Người em trai của bà Phú sau khi biết tin này đă chạy báo cho cả
gia đ́nh quay về.
Theo lời kể của con trai Tướng Phú, đă vượt biên sang Mỹ, những giờ cuối của
Tướng Phú được ghi nhận như sau: Nhờ có các bác sĩ Pháp gần nhà giúp đỡ, Tướng
Phú được đưa vào bệnh viện Grall cứu cấp. Nhưng ông mê man liên miên, măi đến
trưa 30-4-1975, ông mới tỉnh được giây lát và thều thào hỏi vợ ông đang ngồi bên
cạnh:
- T́nh h́nh đến đâu rồi?
Bà Phú nói:
- Tướng Dương Văn Minh ra lệnh quân đội bỏ súng đầu hàng và Cộng Sản đă vào tới
Sài G̣n.
Nghe xong, Tướng Phú nhắm mắt và ra đi.
Phong Cách Anh
Hùng
Nguyễn Đông Thành
Dù
rằng có nhiệm vụ không thể thiếu sót là làm theo lệnh trên, Thiếu Tướng Phạm Văn
Phú, Khóa 8 Đà Lạt, Tư Lệnh Quân Đoàn II-Quân Khu 2, vẫn không chối được trách
nhiệm về việc bỏ mất miền Tây Nguyên và do thế tạo ra điều kiện thuận lợi cho
Cộng Quân tiến chiếm toàn bộ lănh thổ Việt Nam Côïng Ḥa một cách mau chóng và
dễ dàng hơn cả dự liệu lạc quan nhất của những người hoạch định chiến lược Bắc
Việt. Đó là nhận định nhất trí của người Việt Nam tị nạn Cộng Sản ở nước ngoài,
trong những năm đầu hạ bán thập niên 1970. Nhận định như thế quả là rất thuận lư
vào hồi đó, tức là trong khi người ta chỉ biết rất mù mờ về phần đóng góp của
Tướng Phú vào cuộc rút quân khỏi vùng Tây Nguyên, một cuộc hành binh đă được ghi
nhận là thiếu kế hoạch, thiếu chuẩn bị và thiếu chỉ huy.
Nhưng rồi th́ từng phần sự thật dần dần được phơi bày. Người ta chưa biết thật
đầy đủ, thật chính xác, nhưng cũng đă biết rơ được vài ba sự việc có thể chứng
minh rằng Tướng Phú trên thực tế không có trách nhiệm ǵ hết trong cuộc rút quân
khởi sự ngày 13-3-1975. Cuộc rút quân ấy do chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu
quyết định với tư cách và quyền hạn của vị Tổng Tư Lệnh QLVNCH. Tổng Thống Thiệu
đă đích thân ra Nha Trang gặp Tướng Phú, mang theo Đại Tướng Cao Văn Viên, Tổng
Tham Mưu Trưởng, để đích thân truyền đạt lệnh rút quân.
Với tư cách là tư lệnh một Quân Đoàn trong QLVNCH, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú dĩ
nhiên không được phép chống lại mệnh lệnh của vị Tổng Tư Lệnh Quân Đội. Nhưng
Tướng Phú cũng không tuân hành: hoặc là v́ chính ông từ khước; hoặc v́ Tổng
Thống Thiệu, Đại Tướng Viên ngại rằng Tướng Phú sẽ không ngoan ngoăn vâng lời.
Người đứng ra thi hành lệnh rút quân khỏi vùng Tây Nguyên là một Đại Tá mới được
thăng cấp Chuẩn Tướng, Đại Tá BĐQ Phạm Duy Tất, để lănh chức Tư Lệnh Phó Quân
Đoàn, và tướng Tư Lệnh được đặt trong t́nh trạng bất khiển dụng v́ lư do sức
khỏe từ ngày 14-3-75 đến ngày bị Trung Tướng Trần Văn Đôn, Tổng Trưởng Quốc
Pḥng mới nhậm chức, bắt giam v́ tội bỏ mất vùng Tây Nguyên.
Như vậy khi cuộc rút quân khỏi miền Tây Nguyên được thực hiện theo lệnh thượng
cấp, Tướng Phú trên thực tế chẳng c̣n là Tư Lệnh Quân Đoàn II-Quân Khu 2, nên
không có trách nhiệm về cuộc hành binh tự sát mà ông tuyệt đối không tham dự vào
bất cứ một giai đoạn nào từ quyết định, thiết kế, đến việc chuẩn bị và thực hiện.
Tuy nhiên dù không dự phần trách nhiệm trong việc bỏ mất vào tay địch một phần
lănh thổ Quốc Gia, Thiếu Tướng Phạm Văn Phú vẫn khẳng khái tự xử khi thấy rơ là
đại cuộc đă không c̣n cách nào cứu văn nữa v́ Đại Tướng Dương Văn Minh đă dùng
quyền Tổng Tư Lệnh mà bắt toàn quân phải buông súng, nộp ḿnh cho Cộng Sản.
Người anh hùng thất bại Phạm Văn Phú tự sát chẳng phải là v́ sợ Cộng Sản bắt
được và hành hạ trả thù. Nếu muốn, Tướng Phú cũng có đủ khả năng để đào thoát ra
nước ngoài một cách ung dung như một số đông các vị cựu tướng lănh khác, chứ
không đến nỗi phải chịu nhục trong Ṭa Đại Sứ Hoa Kỳ như một số người khác, hay
phải đạp lên đầu đồng bào mà tranh lấy một chỗ ngồi trên chiếc trực thăng đáp
trên một mái nhà như ông Tổng Trưởng Quốc Pḥng, kẻ mới tuần trước c̣n tống giam
ông v́ tội “không dám hy sinh chiến đấu và bỏ chạy trước quân địch!”
Việc Tướng Phú đến cơ quan DAO gặp Tướng Smith để chỉ xin độc một chỗ trong một
chuyến bay di tản cho một người con ông, tác giả cuốn sách “Decent Interval”
không khen các tướng lănh khác là thức thời và cũng không chê Tướng Phú là gàn
dở. Ông chỉ viết thêm một câu ngắn, đại ư là Tướng Phú tự sát ngay sau khi Cộng
Sản tràn vào Sài G̣n và thở hơi cuối cùng ở Bệnh Viện Grall. Nhưng một tấm h́nh
in trong tập ảnh kẹp giữa cuốn sách “Decent Interval” lại nói hộ ông Frank Snepp
những điều ông không cần viết ra mà vẫn nói lên được về tiết tháo và tinh thần
trách nhiệm của một tướng lănh đă quyết tâm tự sát để được chết với lương tâm
thanh thản chứ không đành chạy thoát thân khi đất nước lâm nguy. Đó là bức ảnh
kỷ niệm mà Tướng Smith lúc đó phụ trách về việc xếp hạng ưu tiên cho những người
được coi là có liên hệ với Hoa Kỳ cùng với việc ấn định giờ giấc của các phi vụ
di tản. Ông ta bận đến mức không có th́ giờ đi ăn, nên sự kiện Tướng Smith bỏ ra
vài chục phút để tiếp chuyện và chụp ảnh lưu niệm với Tướng Phú, chứng tỏ hai
người có sự tương kính lắm. Nếu cũng tham sống sợ chết, Tướng Phú có thể xin
người bạn thân của ḿnh dành nhiều chỗ cho gia đ́nh ông ung dung ra đi.
Nhưng người anh hùng thất bại Phạm Văn Phú c̣n đủ liêm sỉ để không đành cúi mặt
sống hèn; ông chỉ hỏi xin Tướng Smith một chỗ duy nhất cho cậu con trai của ông,
ư hẳn là để giữ cho họ Phạm c̣n có người nối dơi. Hành động tự giết ḿnh để chết
theo Quốc Gia và Quân Lực Việt Nam Côïng Ḥa bị bức tử đă được quyết định từ lúc
ông đến gặp Tướng Smith để kư thác đứa con côi, chứ không phải là một việc liều
lĩnh chỉ được nghĩ tới khi chiến xa Cộng Sản đang hùng hục tiến về phía Dinh Độc
Lập.
Trước Frank Snepp hơn 20 năm, hai tác giả người Pháp cũng có dịp tán thưởng
phong cách anh hùng của một sĩ quan nhảy dù tên Phạm Văn Phú, một nhân vật mà lẽ
ra họ không lưu ư tới, v́ đă chỉ mới được đề bạt giữ một chức vụ khiêm nhường là
Tiểu Đoàn Phó lại là sĩ quan người bản xứ của một quân đội mới thành h́nh. Một
trong hai tác giả đó là Đại Tá Pierre Langlais, một sĩ quan Pháp đă tự thú là có
thành kiến xấu với quân nhân Việt Nam.
Cho đến ngày Trung Úy Phạm Văn Phú theo đơn vị, TĐ5ND, nhảy xuống tiếp viện lực
lượng G.O.N.O. trong vùng ḷng chảo Điện Biên Phủ, Trung Tá Langlais c̣n giữ
nguyên vẹn cái thành kiến xấu xa của ông ta. Langlais lại có ấn tượng xấu đặc
biệt về TĐ5ND, đơn vị mà chính ông ta đă đề nghị trả về Lực Lượng Tổng Trừ Bị
hồi cuối năm trước. Langlais có chép lại đầu đuôi vụ ấy trong quyển “Điện Biên
Phủ” do nhà xuất bản France-Empire phát hành năm 1963. Cũng trong tập kư sự đó,
Langlais c̣n nh́n nhận rằng ông đánh giá lính Việt Nam thấp. Nhưng cũng trong
tập kư sự Điện Biên Phủ về sau, Langlais lại dành hơn 10 đoạn để nói về TĐ5ND,
đặc biệt về viên sĩ quan cấp úy tên Phạm Văn Phú, người đă chỉ huy giỏi giang và
chiến đấu dũng liệt đến mức làm cho Langlais phải từ bỏ các thành kiến sai lầm
của ḿnh về tinh thần chiến đấu của chiến sĩ Việt Nam trên trận tuyến chống
Cộng. Đại Tá Langlais viết đến người về sau trở thành vị Tư Lệnh cuối cùng của
Quân Đoàn II-Quân Khu 2 của Việt Nam Cọng Ḥa:
“Ngày 2-3-1954, khi t́nh h́nh Điện Biên Phủ đă nguy ngập tới mức René Pleven, Bộ
Trưởng Bộ Quân Lực Pháp, vừa từ Điện Biên Phủ trở về, đă phải ra trước Hội Đồng
Liên Bộ, để đề nghị một loạt biện pháp cấp cứu. Tướng Navarre ra lệnh thành lập
Liên Đoàn 5 Nhảy Dù Việt Nam, Tiểu Đoàn 2/1 Kỵ Binh Nhảy Dù, và TĐ6ND mà Thiếu
Tá Begeard, Tiểu Đoàn Trưởng, là một đơn vị trưởng nổi tiếng từ những năm kháng
chiến ở vùng Đức chiếm đóng. TĐ5ND nhảy xuống Điện Biên Phủ trước tiên, vào buổi
chiều ngày 24-3-1954. Nhảy ở độ thấp, dưới mưa đạn súng cối và đại bác 105 ly.
Địch bắn dữ dội đến mức phải thay đổi băi nhảy mấy lần.
Trung Tá Langlais là Tư Lệnh Phó Lực Lượng G.O.N.O. nhưng nắm toàn quyền trên
thực tế, v́ Đại Tá De Castries chỉ làm một việc độc nhất là kư và chuyển đi
những ǵ được Langlais đưa cho. Langlais vốn có thành kiến với các quân nhân
người Việt, nhất là với TĐ5ND nên ông đă dự tính là xé lẽ ra để bổ sung chỗ này
chỗ nọ, chứ không xử dụng nguyên cả tiểu đoàn như một lực lượng xung kích.
Ngay mấy giờ sau khi nhảy xuống, một đại đội của TĐ5ND đă bị biệt phái cho một
đơn vị Lê Dương để tiếp cứu lực lượng trấn giữ ở cứ điểm Gabrielle; cuộc hành
quân không đạt được kết quả nên Langlais càng nghi ngờ khả năng và tinh thần
chiến đấu của lực lượng vừa gởi tới tăng viện. Nhưng Langlais đă bắt đầu nh́n
TĐ5ND với con mắt khác hẳn ngay vài hôm sau. Cùng với TĐ6ND của Thiếu Tá Begeard,
TĐ5ND được giao cho trấn giữ đồi Eliane 4 ở pḥng tuyến thứ 2, nhiệm vụ vừa nặng
nề vừa nguy hiểm, là tự chôn ḿnh dưới hỏa lực địch. Cả hai tiểu đoàn đóng gần
đỉnh đồi, TĐ6ND giữ mặt Tây, TĐ5ND giữ hai mặt Đông và Nam. Bộ Chỉ Huy Tiểu Đoàn
có thể bị bắn trực xạ bất kể ngày đêm bởi các xạ thủ địch ŕnh rập thường trực ở
phía đối diện. Thiếu Tá Tiểu Đoàn Trưởng t́nh nguyện trấn giữ vị trí nguy hiểm
đó, chiến sĩ tiểu đoàn đào đắp xong công sự và địa đạo giao thông hào trong thời
gian kỷ lục; Langlais bắt đầu nghĩ khác về khả năng và tinh thần phục vụ của
những quân nhân Việt Nam, đang ép ḷng chấp nhận quyền chỉ huy của người Pháp
trong giai đoạn chuyển tiếp.
Hồi ấy, Trung Úy Phạm Văn Phú là sĩ quan người Việt Nam độc nhất nắm đại đội
trong TĐ5ND và cũng là đại đội trưởng độc nhất mang cấp bậc Trung Úy. Hai đại
đội trưởng khác là Đại Úy Armandi và Rouault. Ngày 24-3-54, TĐ5ND được tăng phái
thêm Đại Úy Alian Bizard, sĩ quan Tùy Viên của một tướng ở Sài G̣n xung phong ra
mặt trận. Do ở thâm niên cấp bậc, ông được cử làm Tiểu Đoàn Phó chịu trách nhiệm
trấn giữ hai cứ điểm H6 và H7. Đại Úy Bizard mang theo mấy trung đội lấy từ Đại
Đội 1 và 4; trong khi ấy Đại Đội 3 được biệt phái cho cứ điểm Dominique, Eliane
và Isabelle. Lính Bắc Phi ở Dominique 1 bị tràn ngập, Đại Đội 3 của TĐ5ND tăng
phái chỉ c̣n 10 người chạy về tới tiểu đoàn bộ.
T́nh h́nh hồi ấy tuyệt vọng đến mức Navarre và Cogny chỉ c̣n độc một việc là đổ
lỗi lên đầu nhau. Langlais luôn miệng réo hết Bruno (ám hiệu của Begeard) đến
Dédé (Botella) để động viên tinh thần họ giữ vững đồi Eliane 4 v́ để mất cứ điểm
ấy là đại bản doanh của De Castries cũng mất luôn. Tuy rằng phải chia xẻ với
TĐ6ND của Begeard cái nhiệm vụ tử thủ đó, TĐ5ND, đă mất đi Đại Đội 3, chỉ c̣n sử
dụng được non phân nửa quân số c̣n lại. Langlais giải nhiệm cho Bizard chức Tiểu
Đoàn Phó hư hàm để ông ta mang Đại Đội 1 đi trấn giữ cứ điểm H6, trong khi Trung
Úy Phú được tôn vinh bằng một trọng trách không tương xứng với một đại đội là
trấn giữ điểm tựa Opéra vừa thiết lập để chận địch trong khoảng giữa các cứ điểm
Hugette 1 và Épevier.
Trong thượng tuần tháng 4-1954, t́nh h́nh ngày càng tồi tệ hơn. Ngày 14-4-1954,
Langlais báo cáo là chỉ c̣n 3,000 quân khiển dụng v́ ông không thèm tính tới các
phần tử đă mất hết tinh thần chiến đấu. Ở đoạn này trong sách Điện Biên Phủ, tác
giả nhấn mạnh rằng lực lượng đóng cứ điểm Eliane 4 (TĐ6ND và TĐ5ND) vẫn giữ vững
tinh thần, và họ nhất quyết sống chết với nhiệm vụ.
Hôm sau, Đại Tá De Castries được thăng Thiếu Tướng, hai Trung Tá Langlais và
Ladande cũng được thăng một cấp, cũng như mười sĩ quan khác trong đó có Trung Úy
Phạm Văn Phú.
Ngày 19-5-1954, Đại Úy Phú được thay thế bởi Đại Úy Bizard, ông này được lệnh
rút khỏi cứ điểm H6 đêm hôm trước. Đại Đội 1 gồm 200 chỉ c̣n lại 80 người đứng
vững để tới điểm tựa Opéra thay thế Đại Đội 2, rồi Đại Úy Phú được đề bạt lên
chức Tiểu Đoàn Phó ngày 26/4.
Vào thời điểm ấy, t́nh h́nh ở Điện Biên Phủ rơ ràng là vô phương cứu chữa. Sau
gần một tháng thí quân không tính đếm, 3 trung đoàn địch đă phá hủy được toàn bộ
phi đạo; giải quyết xong 3 điểm tựa trong đó có điểm tựa Opéra mà Đại Úy Phú đă
giao lại cho Đại Úy Bizard 5 ngày trước.
TĐ5ND chỉ c̣n ngót hơn 200 chiến sĩ v́ ngoài Đại Đội 2 không toàn vẹn, Bộ Chỉ
Huy chỉ sử dụng vài chục người c̣n sót lại của 3 đại đội đă tan vỡ. Quân số đă
hao hụt quá nửa nhưng lại phụ trách nhiệm vụ nặng nề gấp bội là một ḿnh trấn
giữ tuyến đầu, án ngữ phía trước cho TĐ6ND (Tiểu Đoàn Trưởng mới là Thiếu Tá
Béchignac) giữ liên lạc với Bộ Chỉ Huy Trung Ương. Để làm cái việc không thể làm
nổi là ngăn chặn không cho địch quân đông gấp mấy chục lần vượt sông xâm nhập
vào trung tâm, ngót 200 chiến sĩ TĐ5ND chỉ được tăng cường bằng mấy chục chiến
sĩ c̣n lại của Tiểu Đoàn 2/1 Kỵ Binh Nhảy Dù do Đại Úy Guillemint chỉ huy. Nhưng
lực lượng tử thủ ấy vẫn làm tṛn được nhiệm vụ cho tới sáng sớm ngày 7-5-54. Mấy
giờ trước đó, hai đại đội lính Lê Dương gởi đến tiếp viện cho TĐ5ND, nhưng họ
phải mất 3 giờ mới đến được Bộ Chỉ Huy của Thiếu Tá Botella, và chỉ c̣n không
quá 20 chiến sĩ.
Đến hừng sáng, Đại Úy Phú mở cuộc phản kích với ngót 100 tàn quân của mấy đơn vị
hợp lại, đánh cận chiến ở thế 1 chọi 20, nhưng cũng dành lại được hơn 100 thước
địa đạo. Nhưng rồi th́ mũi xung phá ấy bị bẻ găy, nhiều chiến sĩ và 3 sĩ quan (Đại
Úy Guillemint, Đại Úy Phú, Thiếu Úy Lafanne) lần lượt bị đạn địch quật ngă.
Thiếu Úy Mackowak, sĩ quan độc nhất c̣n đứng vững cùng mấy chục chiến sĩ TĐ5ND
tiếp tục tử chiến trong khúc địa đạo dưới sườn đồi phía Đông Nam. Địch chùn bước
v́ mức thương vong quá cao; nhưng mấy chục phút sau, trận đánh dứt điểm tiếp
diễn, lần này địch quân sử dụng loại súng cối có nhiều ṇng và bắn tự động hàng
loạt đạn, loại vũ khí mới lần đầu tiên xử dụng trên chiến trường Việt Nam, và
căn cứ chỉ huy của TĐ5ND thất thủ lúc 9 giờ sáng ngày 7-5-54.”
Trên đây là tóm lược các đoạn nói về TĐ5ND và về Đại Úy Phạm Văn Phú trong cuốn
Điện Biên Phủ của Đại Tá Pierre Langlais, người thực sự chỉ huy lực lượng
G.O.N.O. ở Điện Biên Phủ trong thời gian tiểu đoàn này tham chiến tại mặt trận
đó. Đại Tá Langlais đă đích thân ra lệnh, đă chính mắt nh́n thấy, hay đă được
báo cáo tường tận tại chỗ, nên chắc chắn là biết rất đúng sự thật. Viên đại tá
Pháp đó, từng mang nặng thành kiến không tốt với các chiến hữu Việt Nam, nên
chắc chắn không cố ư nói sai để ca tụng chiến sĩ Việt Nam trong TĐ5ND Việt Nam
nói chung và viên Đại Úy anh hùng Phạm Văn Phú nói riêng. Vả chăng, tác giả tập
hồi kư Điện Biên Phủ cũng chỉ thuật lại các sự việc, như tác giả quyển Decent
Interval về sau, chứ không trực tiếp khen chê ǵ nhân vật Phạm Văn Phú.
Cũng như Đại Tá Pierre Langlais, người viết quyển “La Bataille de Dien Bien Phu”
(xuất bản ở Paris cuối năm 1963) cũng là một sĩ quan cao cấp, cũng từng tham
chiến ở mặt trận đó từ đầu đến cuối. Ông Jules, về sau được phép trở lại Bắc
Việt thu thập tài liệu để kiện toàn pho sách của ông (gọi là pho v́ dày đến 624
trang), bị nghi ngờ là có thiện cảm với phe thắng trận ở Điện Biên Phủ. Sự nghi
ngờ đó không phải là vu vơ, quả thật tác giả “La Bataille de Dien Bien Phu” đă
đưa ra khá nhiều h́nh ảnh và luận điệu có lợi cho phe địch. Tuy nhiên trong các
đoạn rải rác trên mấy chục trang nói về diễn tiến mấy trận đánh từ sau ngày các
cứ điểm Béatrice 1, 2 và 3 thất thủ (đêm 13/3/54), Jules Roy cũng ghi nhận tương
tự như Pierre Langlais (khá chi tiết hơn v́ viết dài hơn) về các chiến tích của
TĐ5ND/VN và nhất là về phong cách anh hùng của Tiểu Đoàn Phó Phạm Văn Phú. Về
trận đánh dứt điểm đêm mùng 6 rạng mùng 7/5/54 nhằm vào cứ điểm Eliane 4, Jules
Roy bổ túc thêm các chi tiết dưới đây:
“Xế chiều ngày 6, địch pháo kích kịch liệt cứ điểm Eliane 4. Áp dụng chiến thuật
tiền pháo hậu xung, đến 18 giờ 30, địch mới tấn kích, lực lượng Cộng Quân là
Trung Đoàn 98. Bộ Chỉ Huy TĐ5ND chỉ c̣n xử dụng được không đầy 200 chiến sĩ đă
mệt nhừ sau một tuần lễ chiến đấu, đạn dược đă gần cạn mà xin tiếp tế không được.
Thiếu Tá Botella ra lệnh cho chiến sĩ kháng cự bằng súng cối và súng không giật,
nhưng xạ thủ phải tiết kiệm từng viên đạn một, nên địch quân vẫn tiến được lại
gần. Trong thế ưu thắng rơ rệt, Trung Đoàn 98 vẫn phải dè dặt tối đa; đây là lần
đầu tiên họ xử dụng đường điện thoại vô tuyến nối liền các đại đội với chỉ huy
sở Trung Đoàn.
Chiến sĩ TĐ5ND chiến đấu cực kỳ dũng liệt, đến 21 giờ, Đại Úy Phú chỉ c̣n 30
người để chỉ huy. Họ bắn đến ṇng súng nóng bỏng và địch tràn vào như thác nhưng
chẳng ai chùn lại. Họ tử chiến để giành giựt với địch từng đoạn địa đạo; lấy
súng của người đă chết để bắn về phía những tên đội nón cối đan bằng nan tre.
Một loạt đạn súng cối liên châu nă vào, đất bị cày tung lên và đổ ập xuống ông
Tiểu Đoàn Phó vừa bị đốn ngă.
Trên đỉnh đồi vừa rạng sáng, trận cận chiến vẫn tiếp diễn trong ruột đồi Eliane
4. Quân địch tràn ngập khắp nơi, nhưng phép lạ là cứ điểm Eliane 4 vẫn c̣n cầm
cự. Theo lệnh Đại Tá Langlais, Trung Tá Lemeunier, Tư Lệnh Bán Lữ Đoàn Lê Dương
số 13, đi tiếp cứu Eliane 4, nhưng không kịp. V́ trong căn hầm chỉ huy đầy nhóc
thương binh, Thiếu Tá Béchignac không đồng ư xin bắn vào đầu ḿnh và hơn 10
người c̣n vững tay súng bị bắt làm tù binh lúc 9 giờ sáng.”
Tác giả “La Bataille de Dien Bien Phu” bị nghi ngờ là có thiện cảm với phe thắng
trận ở Điện Biên Phủ. Tác giả hồi kư “Dien Bien Phu” xác nhận vốn có thành kiến
xấu với các quân nhân người Việt Nam nói chung và TĐ5ND nói riêng. Nhưng cả hai
tác giả đều không thể không ghi nhận phong cách anh hùng của nhân vật Phạm Văn
Phú, hồi ấy c̣n là một sĩ quan cấp úy, tức là cấp nhỏ hơn họ nhiều. Một chiến sĩ
có phong cách anh hùng như thế, từ thuở mới bắt đầu binh nghiệp, tất nhiên không
thể chà đạp lên tiết tháo và tinh thần trách nhiệm của một tướng lănh mà cúi mặt
ở nước người khi quân tan, nước mất. Việc thất bại, anh hùng Phạm Văn Phú tự sát,
để được chết với lương tâm thanh thản chỉ là việc tất nhiên phải có của một
tướng lănh.
![]()
Chuẩn Tướng Lê
Nguyên Vỹ
Tư Lệnh Sư
Đoàn 5 Bộ Binh

Di ảnh cố Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ
Tiểu Sử
Cố
Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ sinh ngày 22 tháng 8 năm 1933 tại Tỉnh Sơn Tây, Bắc
Việt trong một gia đ́nh Nho giáo. Lớn lên trong khói lửa nên ông gia nhập quân
ngũ thật sớm khi vừa mới 17 tuổi. Tốt nghiệp khóa 2 trường Vơ Bị Địa Phương
Trung Việt vào đầu năm 1951 với cấp bậc Chuẩn Úy hiện dịch.
Đơn vị đầu tiên của ông là Tiểu Đoàn 19 Việt Nam do Thiếu Tá Đỗ Cao Trí chỉ huy.
Sau đó, toàn thể tiểu đoàn này được chuyển qua Liên Đoàn Nhảy Dù để trở thành
Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù Việt Nam. Ông là một trong số rất hiếm hoi sĩ quan Nhảy Dù
được gởi đi tu nghiệp tại Pau (Pháp) để được huấn luyện về huấn luyện viên Nhảy
Dù.
Vào năm 1956 khi lực lượng B́nh Xuyên nổi loạn chống chánh phủ, ông chỉ huy hai
đại đội thuộc Tiểu Đoàn 6 Nhảy Dù chiến đấu rất dũng mănh và đẩy lui quân phiến
loạn ra khỏi trường Trung Học Petrus Kư Sài G̣n. Trong trận này ông đă bị trọng
thương và được vinh thăng cấp bậc Đại Úy đặc cách tại mặt trận.
Sau khi tốt nghiệp khóa bộ binh cao cấp, được thuyên chuyển về Sư Đoàn 5 Bộ Binh
đảm nhiệm liên tiếp các chức vụ Tiểu Đoàn Trưởng, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 8
Bộ Binh và rồi Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Đặc biệt trong trận chiến tử thủ
An lộc năm 1972, ông đă được mọi cấp trong Sư Đoàn ca ngợi về cử chỉ gan da,ï
một ḿnh đă hạ được 3 chiến xa địch ngay sát Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn.
Tiếp theo đó, ông được gởi đi tu nghiệp khóa Chỉ Huy và Tham Mưu Cao Cấp tại
Fort Leavenworth ở Hoa Kỳ. Sau khi về nước, ông được thuyên chuyển về Bộ Tư Lệnh
QĐ III, đảm nhiệm chức vụ Chỉ Huy Trưởng Bộ Chỉ Huy Chiến Thuật Quân Đoàn.
Vào khoảng giữa năm 1973, bộ Tổng Tham Mưu đă điều động ông về làm Tư Lệnh Phó
Sư Đoàn 21 Bộ Binh, được chỉ định điều động hầu hết các cuộc hành quân trong khu
vực trách nhiệm của Sư Đoàn. Trong cuộc giải tỏa áp lực địch chung quanh Thị Xă
Chương Thiện, trực thăng chỉ huy của ông bị trúng đạn và ông đă bị thương ở chân.
Ngay sau khi xuất viện, được giao phó ngay chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh khi
ông c̣n mang cấp bậc đại tá trong khi vết thương chưa lành hẳn, bước đi c̣n khập
khễnh và chống gậy. Ông được vinh thăng Chuẩn Tướng vào năm 1974.
Khi Cộng Sản cưỡng chiếm miền Nam vào năm 1975, với tư cách là Tư Lệnh Sư Đoàn 5
Bộ Binh, Chuẩn Tướng Lê Nguyên Vỹ đă quyết định không đầu hàng địch và tự sát
tại bản doanh ở Lai Khê vào sáng 30 tháng 4 để bảo toàn khí tiết của một tướng
lănh Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Ông tự sát khi mới 42 tuổi.
Viết Về Tướng Lê
Nguyên Vỹ
Thanh Sơn
Tướng
Lê Nguyên Vỹ về đảm nhận chức vụ Tư Lệnh Sư Đoàn 5 Bộ Binh, khi ông c̣n mang cấp
bậc Đại Tá, vào khoảng tháng 6 năm 73, trong lúc vết thương chân của ông chưa
lành hẳn, bước đi c̣n khập khễnh và chống gậy v́ bị tai nạn trực thăng khi ông
c̣n là Tư Lệnh Phó Sư Đoàn 21 Bộ Binh.
Ông là một vị chỉ huy gan dạ nổi tiếng nhất của Sư Đoàn 5 Bộ Binh từ lúc ông mới
làm Trung Đoàn Trưởng: “Nhất Vỹ, nh́ Gia” (Trung Tá Gia h́nh như họ Hà, Hà Văn
Gia, v́ đă lâu ngày tôi không nhớ rơ). Đây là câu nói được nghe nhiều lần nơi sĩ
quan và binh sĩ khi rời quân trường về tŕnh diện Sư Đoàn vào tháng 1-68. Nhiều
đồng bào và anh em chiến sĩ thuộc các đơn vị bạn quanh vùng Lái Thiêu, B́nh
Dương cho đến các tỉnh biên giới B́nh Long, Phước Long điều biết đến tên ông. Có
lẽ một phần v́ tinh thần chiến đấu kiên tŕ và dũng cảm, một phần v́ tính t́nh
nóng nảy như lửa đốt của ông.
Tinh thần kiên tŕ và dứt khoát chiến đấu chống Cộng của ông đă biểu lộ qua câu
chuyện của một sĩ quan tham mưu Sư Đoàn kể cho tôi nghe: “Ông Vỹ có một cô em
gái đi theo VC, viết thư khuyên ông nên quay về với “Bác và Đảng” và ông đă trao
bức thư này cho An Ninh Quân Đội VNCH để nghiên cứu.”
Tinh thần chiến đấu của ông gần như mọi người thuộc Sư Đoàn điều biết. Vào Mùa
Hè Đỏ Lửa năm 72 ở An Lộc, VC lùa 3 Sư Đoàn (Công Trường số 5, 7, 9), Trung Đoàn
Thiết Giáp T54 và các đơn vị trọng pháo 130 ly để bao vây và tấn công thành phố
An Lộc, Tỉnh B́nh Long. Đại Tá Lê Nguyên Vỹ, Tư Lệnh Phó Sư Đoàn cùng với Tướng
Lê Văn Hưng, Tư Lệnh Sư Đoàn đă tích cực điều động các đơn vị pḥng thủ đẩy lui
nhiều đợt tấn công ác liệt kéo dài ṛng ră 3 tháng trời. Ở vào cao điểm khốc
liệt nhất, khi VC quyết định xử dụng toàn bộ lực lượng xung kích chủ yếu, thiết
giáp T54 và bộ binh kết hợp tiến thẳng vào trung tâm chỉ huy của Tướng Lê Văn
Hưng. V́ bị thiệt hại nặng nề do đạn pháo, các đơn vị pḥng thủ VNCH phải co cụm
lại từng tụ điểm để chống trả. Khi thấy chiến xa và bộ binh địch xuất hiện từ xa,
tất cả các loại súng cối của ta bắn ra xối xả, khiến bộ binh VC phải giật lùi
lại phía sau, chỉ c̣n thiết giáp của VC một hàng dọc, theo đường phố tiến thẳng
vào nơi pḥng thủ của Tướng Hưng. V́ lần đầu tiên người lính VNCH nh́n thấy
chiến xa địch và phần v́ không tin tưởng vào vũ khí chống chiến xa M72, hầu hết
đều kinh hoàng và t́m nơi ẩn nấp. Ngay cả đến nhũng người lính pḥng thủ trước
cửa hầm của Tướng Hưng cũng vậy, nh́n thấy chiến xa đă tới gần, tất cả đều nhảy
xuống hầm. Đại Tá Lê Nguyên Vỹ đă nhanh nhẹn chụp lấy một khẩu M72 của người
lính đứng bên cạnh ông, bước lên miệng hầm. Trong khi ấy, Tướng Lê Văn Hưng đă
cầm sẵn một trái lựu đạn nơi tay với ư định nếu VC tràn vào, ông tung ra tất cả
cùng chết. Chiếc chiến xa đi đầu đă đến gần, nhưng chúng chưa định ra được hầm
nào là của Tướng Hưng đang thủ, chúng quay ngang quay dọc để t́m kiếm. Thừa lúc
ấy, Đại Tá Vỹ đă bắn ngay một quả đạn M72 vào hông xe làm xe bốc cháy. Binh sĩ
lên tinh thần reo ḥ, và họ lần theo từng căn nhà, từng bờ tường để bắn vào
những chiếc c̣n lại. Kết quả là gần 50 chiếc chiến xa địch bị bắn cháy ngay trên
trận địa.
Tướng Vỹ được thăng cấp khoảng cuối năm 1974. Ông đă phải đương đầu với hoàn
cảnh vô cùng khó khăn: vừa phải lo đối phó với áp lực của quân địch, và vừa lo
chấn chỉnh và củng cố nhân sự v.v... Ông làm việc không kể giờ giấc, ngày đêm,
hết ở Bộ Tư Lệnh căn cứ ở Lai Khê, lại chạy tới các căn cứ của trung đoàn, tiểu
đoàn để kiểm tra, đốc thúc đào hào, tu bổ hệ thống pḥng thủ, đắp chướng ngại
vật để cản chiến xa. Ông cũng lưu tâm đặc biệt việc rèn luyện tân binh, thường
xuyên mở lớp huấn luyện và ôn tập cho các cán bộ và binh sĩ.
Đặc biệt về công tác bài trừ tệ tham nhũng, ông rất hăng say. Không ai nghi ngờ
thiện chí của Tướng Vỹ, ông rất nhiệt t́nh. Trong một buổi lễ khai giảng khóa
huấn luyện tân binh, đứng trước cả ngàn người vừa tân binh lẫn cán bộ và lính cơ
hữu của trung tâm huấn luyện ở Lái Thiêu, ông công kích kịch liệt trong gần một
tiếng đồng hồ về tệ nạn tham nhũng. Ông nói rất nhiều, nhưng chỉ có một câu tôi
nhớ hoài, không bao giờ quên: “Chúng nó đă móc ngầm với nhau rất chặt chẽ, ḿnh
phải gỡ ra từ từ mới được.” Trong thời gian ông làm Tư Lệnh, tệ nạn tham nhũng,
nếu không muốn nói đă bị chặn đứng th́ cũng phải giảm đi rất nhiều; không c̣n
cảnh ăn chơi phè phỡn trong khi người khác cặm cụi làm việc. Nh́n chung, từ ngày
Tướng Vỹ về Sư Đoàn, ông đă cải tổ, xây đựng được nhiều vấn đề. Ông đă mang lại
niềm tin tưởng cho mọi người.
Việt Cộng ngày càng di chuyển người, vũ khí, lương thực về gần Sài G̣n hơn. Áp
lực quân sự ngày càng gia tăng. Việc tiếp tế bằng phi cơ cho An Lộc và Chơn
Thành quá tốn kém mà chỉ để bảo vệ những đống gạch vụn tại thành phố An Lộc và
những vùng đất hoang vu, không người ở. Dân cư tại các làng mạc, đồn điền đều đă
di tản để tránh bom đạn hồi năm 1972, một số chạy ngược lên Lộc Ninh, số c̣n lại
chạy về Sài G̣n. Vào khoảng cuối năm 1974, các lượng pḥng thủ An Lộc và Chơn
Thành được lệnh triệt thoái. Một việc làm Tướng Vỹ buồn ḷng không ít khi một
tiểu đoàn của Trung Đoàn 8 ở Chơn Thành rút lui, ông chỉ thị phải ưu tiên chở
hỏa tiễn Tow về trên chuyến phi cơ đầu tiên để ông tái phối trí nơi khác (Tow là
loại hỏa tiễn chống chiến xa rất hiệu nghiệm và rất đắt tiền). Ông đích thân ra
sân bay đón chờ. Khi chuyến bay đầu tiên hạ cánh, hàng bốc xuống hết, ông không
thấy hỏa tiễn Tow đâu cả, mà chỉ toàn là hàng câu lạc bộ như bia, nước ngọt, cà
phê, sữa. Thế rồi, ông nổi cơn thịnh nộ, đích thân lái xe Jeep ủi sập hết đống
hàng này.
T́nh h́nh quân sự ngày càng nghiêm trọng, Tỉnh Lỵ Phước Long bị VC tràn ngập vào
ngày 3-1-75, nhưng QLVNCH không có nỗ lực nào để tái chiếm. Những người chỉ huy
quân sự nói chung và của SĐ5BB nói riêng đă bắt đầu lo ngại, nhưng tất cả đều
đồng ư rằng, trong chiến tranh, hôm nay mất ngày nay chiếm lại là việc thông
thường, không có ǵ lo âu quá đáng.
Khi Ban Mê Thuột thất thủ, Quân Đội VNCH rút khỏi Cao Nguyên, miền Trung và
tuyến pḥng thủ miền Đông (Phan Rang, Long Khánh) bị bể, những lực lượng c̣n lại
của QLVNCH đang lui dần về phía cầu xa lộ Biên Ḥa, tôi được lệnh chuẩn bị kế
hoạch, trang bị nhẹ, dự trù trong trường hợp Sài G̣n thất thủ, sẽ lui dần về
Vùng 4 để tiếp tục chiến đấu. Tôi không biết lệnh này xuất phát từ đâu!
Lúc này, những đoàn quân VC ở phía Bắc Sài G̣n đă ép sát với pḥng tuyến của
SĐ5BB. Ở phía Quận Lỵ Phú Giáo, vào ngày 23 và 27-4-75, phi cơ phản lực, cứ 2
chiếc luân phiên nhau thả bom vào những vị trí tập trung của quân địch để ngăn
cản sức tiến quân của chúng. Đường bay nhào lộn kéo tới không phận Lái Thiêu.
Cán bộ huấn luyện viên và các khóa sinh đều đưa mắt liếc nh́n, không ai nói với
ai một lời, tất cả đă hiểu việc ǵ đang xảy ra.
Trung Tâm Huấn Luyện Sư Đoàn chỉ chấm dứt các hoạt động huấn luyện băi tập vào
ngày 28-4-75 và được lệnh cấm trại 100% để lo pḥng thủ. T́nh h́nh ở Sài G̣n lúc
đó quá lộn xộn và các đơn vị du kích cùng quân địa phương VC đă xuất hiện ở
nhiều nơi quanh vùng Lái Thiêu, B́nh Dương. Khoảng 10 giờ đêm ngày 28-4-75, tôi
đă nh́n thấy bộ binh và chiến xa của VC đang di chuyển trên xa lộ Đại Hàn (Sài
G̣n-B́nh Dương). Bộ binh đi hai hàng dọc, kẹp sát lề đường, xen kẽ ở giữa là
chiến xa T54. Chúng chẳng thèm ngụy trang lá cây ǵ cả và đang di chuyển về
hướng Sài G̣n. Th́nh ĺnh tiếng súng cối 81 ly của TTHL/SĐ từ phía sau lưng bắn
ra để cản bước tiến của chúng. Đạn nổ bốc khói mịt mù xa lộ. Chỉ trong giây lát,
chiến xa và bộ binh VC đă giàn hàng ngang tiến thẳng về phía TTHL. Những khẩu
pḥng không trên pháo tháp của chiến xa địch đang nhả đạn, bỗng dưng khựng lại.
Chúng quay ngược ra xa lộ rồi tiếp tục di chuyển về hướng Sài G̣n. Chúng đi rất
vội vă, hối hả. Rơ ràng chúng đang được lệnh tránh giao chiến dọc đường, bảo
toàn lực lượng tối đa, tiến nhanh về Sài G̣n càng sớm càng tốt. Sài G̣n vào giờ
này đang hỗn loạn, miếng mồi thơm ngon, béo bở đang đợi chờ, chúng không thể
chậm trễ được!
Khoảng 8 giờ sáng, tôi không c̣n nh́n thấy một lực lượng nào của VC di chuyển
nữa. Tôi vẫn đứng sau pḥng tuyến suy nghĩ miên man... Chúng đă lợi dụng đêm tối,
len lỏi, vượt nhanh ngang qua hông những điểm pḥng thủ chính yếu của SĐ5BB, của
Tiểu Khu B́nh Dương. Chúng đă bỏ toàn bộ lực lượng của SĐ5BB về phía sau lưng
rồi!
Bỗng tôi nhớ tới câu chuyện hơn một năm về trước khoảng tháng 12 năm 73. Hôm ấy,
như thường lệ, tới phiên trực, tôi đem bản đồ vào pḥng riêng của Tướng Vỹ vào
buổi tối để ông duyệt xét lại t́nh h́nh tổng quát mà có các chỉ thị cần thiết
cho các kế hoạch hành quân hôm sau. Thông thường, ông chỉ lướt qua 15 phút, v́
sĩ quan tùy viên đă báo cáo t́nh h́nh hàng giờ, rồi ông nói chuyện linh tinh với
chúng tôi. Ông người tầm thước, khoảng 1 thước 6, hơi mập, nước da đen sậm v́
nắng, giọng nói hơi ồm ồm. H́nh như ông đang bị cảm mất tiếng nên giọng nói hơi
khó nghe. Tuy nhiên, tôi vẫn c̣n nghe rơ từng tiếng... Ông đang tỏ vẻ vui mừng
về việc xúc tiến pḥng thủ trong những tháng qua đạt kết quả tốt đẹp. Bất chợt,
ông tâm sự: “Tôi nghi ngờ chúng nó không đánh ở ngoài này mà t́m cách len lỏi đi
thẳng về Sài G̣n.” Điều nghi ngờ của ông hôm nay đă trở thành sự thật.
Trước t́nh thế này Tướng Vỹ sẽ quyền biến ra sao? Tôi chờ đợi, nhưng tôi chợt
nghĩ, t́nh h́nh sáng hôm nay đang diễn ra trên một qui mô lớn trên toàn quốc, đă
vượt qua ngoài vùng trách nhiệm và quyền hạn của một vị Tư Lệnh Sư Đoàn. Ông vẫn
phải chờ lệnh, v́ ông là một quân nhân có kỷ luật.
Khoảng 9 giờ sáng, TTHL vẫn c̣n liên lạc tốt với BTL/SĐ. Lệnh từ TTHL/SĐ vẫn
truyền đi: “Tất cả sẵn sàng tại chỗ, chờ lệnh.” Tướng Vỹ đang chờ lệnh ǵ? Lệnh
đánh tập kích phía sau lưng địch hay lệnh rút lui về Vùng 4? Ông chờ lệnh ai?
Vào giờ này, Tổng Thống, Tổng Tư Lệnh Quân Đội, Thủ Tướng Chánh phủ, Đại Tướng
Tổng Tham Mưu Trưởng, Tư Lệnh Quân Đoàn, đă chạy hết rồi! C̣n tân Tổng Thống th́
hoặc v́ quá già nua, hom hem ốm yếu, hoặc v́ c̣n đang bàng hoàng ngơ ngác trước
kẻ thù, ai đủ tư cách và uy tín để ra lệnh cho ông?
Khoảng 10 giờ sáng ngày 30-4-75, TTHL hoàn toàn mất liên lạc với BTL/SĐ (có lẽ
giờ này, Tướng Vỹ đă tự sát và BTL đang rối loạn). Chỉ Huy Trưởng TTHL vô cùng
bối rối. Ông ra lệnh vắn tắt: “Di chuyển về hướng Sài G̣n.” Dẫn đầu hàng quân là
các khóa sinh lớp huấn luyện Thái Cực Đạo. Đoàn quân ra khỏi doanh trại chưa
được 1/3, tôi đă nghe súng nổ ṛn ră ngoài chợ Lái Thiêu (Chi Khu Lái Thiêu đă
rút lui từ nửa đêm và VC đă chế ngự khu này). Trung Úy Bích, Trưởng Ban 2 TT đă
bị trọng thương và lực lượng đi đầu bị thiệt hại nặng. Đoàn quân phải lùi vào
doanh trại để t́m hướng đi khác. Một vài anh em mở radio để nghe tin tức. Th́nh
ĺnh nghe được bản tin của ông Dương Văn Minh trên đài phát thanh. Lúc ấy giọng
ông Dương Văn Minh nghe rất thiểu năo, tiếng mạnh, tiếng yếu tựa như người sắp
hết hơi. Tôi không nhớ hết nguyên bản văn; nhưng có vài đoạn chính yếu, tôi c̣n
nhớ rơ từng tiếng. Đại ư bản văn nói, để tránh cuộc đổ máu vô ích, ông kêu gọi
binh lính VC ngừng tấn công và quân đội VNCH ở nguyên vị trí của ḿnh v́ ông đă:
“Tôi tin tưởng sâu xa vào chính sách ḥa giải, ḥa hợp dân tộc của chánh phủ
cách mạng lâm thời cộng ḥa miền Nam VN” và ông tiếp: “Chúng tôi ở đây (tức Dinh
Độc Lập) đang chờ những người anh em ở phía bên kia đến để làm lễ bàn giao...”
Bản tin được lập lại nhiều lần liên tục.
Sau khi nghe xong bản tin này, mọi người đều xôn xao nhốn nháo. Anh em khóa sinh
lo sợ, trong khi làm lễ bàn giao VC nổi hứng đ̣i bàn giao luôn “cái chỗ đội nón,”
th́ sao? Thế là hơn 1,500 khóa sinh đủ các lớp huấn luyện, đă hè nhau đẩy sập cả
cổng chính lẫn cổng phụ, vứt súng đạn, lột bỏ quần áo, chạy ra đường như một đàn
ong vỡ tổ, trước sự ngơ ngác bàng hoàng của cán bộ quân trường.
Tại căn cứ pḥng thủ của trung đoàn và tiểu đoàn, sau khi nghe xong bản tin trên
đài phát thanh của Dương Văn Minh, anh em binh sĩ đă tự động vứt bỏ súng đạn để
chạy về nhà. Tại Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn ở Lai Khê, cái mệnh lệnh mà Tướng Vỹ trông
đợi từ nhiều ngày qua để ông thi hành hôm nay đă đến. Mệnh lệnh không đến bằng
hệ thống truyền tin quân đội, mà đến qua làn sóng điện của đài phát thanh Sài
G̣n: “lệnh bàn giao!” Từ ngữ nghe thật hiền lành và êm ái. Nhưng, tự cổ chí kim,
các kẻ chiến bại, sau khi bị tước đoạt khí giới, thông thường th́ chỉ có chết
hoặc bị cầm tù, chưa thấy ai làm lễ bàn giao bao giờ. Tại sao hôm nay, tân Tổng
Thống miễn cưỡng dùng loại từ ngữ mập mờ này?
VC vẫn bao vây căn cứ ở Lai Khê, đặt chốt ngăn chận ở hai cổng phía Nam và phía
Bắc. Chúng bắt loa chĩa vào bên trong căn cứ, phát thanh lời kêu gọi của Dương
Văn Minh và kêu gọi Tướng Vỹ ra hàng. Ông chỉ đáp lại: “Yêu cầu các anh đối xử
nhân đạo với thuộc cấp của tôi.”
Lúc đó Tướng Vỹ triệu tập một phiên họp bất thường, thật ngắn ngủi, để giải
thích cho mọi người rơ lệnh bàn giao và lệnh bắt buông súng đầu hàng. Ông nói:
“Lệnh bắt chúng ta buông súng bàn giao, nói thẳng ra là lệnh bắt chúng ta buông
súng đầu hàng.” Ông phải nói thẳng v́ sợ có người hiểu quanh co, mập mờ. Rồi ông
tuyên bố: “V́ tôi là tướng chỉ huy mặt trận, tôi không thể thi hành được lịnh
này. Tôi nghĩ thân làm Tướng là phần nào đă hưởng vinh dự và ân huệ của quốc gia
hơn các anh em nên tôi phải chọn con đường đi riêng cho tôi.” Đoạn ông b́nh tĩnh
bước ra sân nghiêm trang đúng dưới cột cờ của Bộ Tư Lệnh, tự sát bằng chính khẩu
súng chỉ huy của ḿnh.
Tôi không được chứng kiến cảnh Tướng Vỹ tự sát và những diễn biến ở Lai Khê, chỉ
viết theo lời tường thuật của anh bạn lúc tôi làm việc tại TTHQ. T́nh cờ tôi gặp
lại anh ít lâu sau đó. Trung Úy Khang, người sĩ quan trẻ tuổi, có rất nhiều nghị
lực và rất giỏi môn vơ Không Thủ Đạo. Anh được tuyển chọn là sĩ quan tùy viên
kiêm cận vệ của Tướng Vỹ.
Con đường Tướng Vỹ chọn lựa ngày hôm nay đă có Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương,
Nguyễn Lăm và nhiều vị anh hùng khác lựa chọn ngày trước. Ông đă xin nối gót.
Ông không đi đơn độc một ḿnh, v́ vào giờ này, khắp nơi trên đất nước, đồng đội
của ông, nhiều người cũng đang đi trên con đường đó như Phạm Văn Phú, Trần Văn
Hai, Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Hồ Ngọc Cẩn v. v...
Trích trong “Đặc San KBC“