Hào
Kiệt Nước Nam Không Đời Nào Thiếu Tướng
Nguyễn Văn Hiếu
(2)
Tác giả: Phan Nhật Nam
1966. B́nh Định; 1970. Snoul
Nhưng, Tướng Nguyễn Văn Hiếu không chỉ là một vị tướng tài giỏi chuyên về tham
mưu, tổ chức mà c̣n là một Tướng Quân trí dũng nơi trận địa. Những chiến trận
sau đây sẽ chứng minh về khả năng thao lược của người.
Tỉnh B́nh Định là một trong những tỉnh lớn nhất của miền Trung, cũng của cả Miền
Nam với mười-hai quận, và dân số đông nhất (gần một triệu), nhưng cũng là tỉnh
có số lượng nhân sự Cộng Sản đông nhất. Trong chiến tranh 1945-1954, tỉnh là thủ
phủ của Liên Khu 5 Cộng Sản (LK5), quân đội Liên Hiệp Pháp không hề đặt chân đến
được, chỉ thuộc quyền của chính quyền quốc gia sau 20 tháng 7/1954. Tại lănh thổ
nầy, lực lượng Cộng Sản có Sư Đoàn 3 SaoVàng (SĐ3SV), hệ thống tỉnh ủy, bộ chỉ
huy tỉnh đội gồm nhiều tiểu đoàn địa phương, và cơ sở du kích vững chắc qua cuộc
chiến tranh của thập niên 50 được gài lại sau 1954. Theo chiến lược “Lùng và
Diệt” thành h́nh giữa Tướng Westmoreland và Bộ Tổng Tham Mưu QLVNCH, tỉnh được
chia làm ba vùng: Khu vực phía Nam của tỉnh (giáp ranh với Tuy Ḥa/Phú Yên) gồm
ngoại vi Thị Xă Quy Nhơn, các Quận Phú Phong, Tuy Phước, Văn Canh thuộc trách
nhiệm của Sư Đoàn Mănh Hổ Đại Hàn. Khu vực rừng núi phía Tây (giáp ranh Pleiku,
Kontum) gồm các quận An Khê, Vĩnh Thạnh, An Lăo, và Hoài Ân thuộc vùng trách
nhiệm của Sư Đoàn 1 Không Kỵ (SĐ1KK), với Mật Khu An Lăo (nằm dọc theo sông An
Lăo, nhánh phía Bắc của Sông Lại Giang chảy ra biển tại Bồng Sơn/Hoài Nhơn, vùng
châu thổ trù phú nhất của Miền Trung), hậu cần quan trọng của toàn Liên Khu 5.
Vùng phía Bắc và Đông (dọc bờ biển, và giáp tỉnh Quảng Ngăi) là khu vực đông dân
của các Quận Hoài Ân (Bồng Sơn), Tam Quan, Phù Mỹ, Phù Cát thuộc trách nhiệm
hành quân của Sư Đoàn 22 Bộ Binh, Đại Tá Nguyễn Văn Hiếu giữ chức Tư Lệnh –
Không thể ai sánh được với ông trong chức vụ chỉ huy đơn vị nầy ở Vùng II –
Nhưng ông vẫn chỉ là một vị tư lệnh sư đoàn với cấp bậc đại tá dù đă là người
thiết kế nên những chiến thắng lẫm liệt trong suốt năm 1965 vừa kể ra trên. Ông
mang cấp đại tá từ tháng 11, 1963.
Nắm quyền tư lệnh sư đoàn từ giữa năm (tháng 6, 1966), cuối năm (tháng 11), vị
tân tư lệnh đă tạo dựng ngay một chiến thắng vẻ vang dưới chân Đèo Phù Cũ (Quận
Phù Mỹ). Lúc ấy, chúng tôi, đơn vị tăng phái (Chiến Đoàn 3 Nhảy Dù – Pnn) làm
thành phần chận địch đóng trên núi, chứng kiến đơn vị bạn (Trung Đoàn 42/ Sư
Đoàn22Bộ Binh) hợp cùng chi đoàn thiết vận xa M113 lùa địch từ Quốc Lộ I vào núi.
Trận chiến hào hùng như một đoạn phim tài liệu lịch sử kỳ Đệ Nhị Thế Chiến - Các
chiến sĩ bộ binh tùng thiết với thiết vận xa M113 theo đội h́nh hàng ngang, ào
ạt tiến tới sau một đợt tác xạ, mạnh mẽ uy vũ như những hiệp sĩ thời trung cổ
xung trận. Chiến Đoàn Trưởng Nhảy Dù, Trung Tá Nguyễn Khoa Nam đứng trên sườn
núi chong ống nḥm quan sát trận địa dẫu là người kín đáo, phải nói nên lời thán
phục: “Đại Tá Hiếu điều quân như một “ông thiết giáp” nhà nghề, và lính Sư Đoàn
22 đánh đẹp đâu thua lính ḿnh”- Lời ngợi ca chân thật giữa những người chiến
đấu nơi trận tuyến. Không để địch nghỉ ngơi (như sau chiến thắng Pleime, Đức Cơ),
nay với khả năng quyết định rộng răi của quyền tư lệnh, Đại Tá Hiếu hạ lệnh tiếp
tục truy kích, diệt gọn các đơn vị của Sư Đoàn 3 Sao Vàng, cũng để chứng tỏ “Ai
Thắng Ai” nơi mặt trận Liên Khu 5 nầy - Vùng “Năm Eo”, bí danh bộ đội Cộng Sản
thường gọi với ḷng kiêu hănh – Khu vực bất khả xâm phạm mà chế độ Đệ Nhất Cộng
Ḥa với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm phải mất hai năm (1955-1957) mới B́nh định được.
Chiến dịch tấn công của liên quân bắt đầu Ngày N (Ngày Khởi Sự) với lực lượng
SĐ1KK đổ quân xuống vùng hai quân Hoài Ân và Vĩnh Thạnh, đơn vị không kỵ khám
phá ra nhiều kho tàng, quân nhu, quân dụng được cất giữ trong những khu vực kín
đáo, an toàn (Hậu cần LK5/ SĐ3SV). Nhưng các đơn vị chính quy Cộng Sản hoàn toàn
tránh né, bởi họ đă hiểu ra hỏa lực quá hùng hậu của không kỵ. Nên vào lúc 11
giờ đêm Ngày N+3, Thiếu Tướng Tư Lệnh/ SĐ1KK vào Bộ Tư Lệnh/SĐ22 gặp Tướng Hiếu
(vinh thăng Chuẩn Tướng tháng 11/1966) với yêu cầu: Sư Đoàn 22 hủy bỏ kế hoạch
tấn công vào hướng tây Quận Phù Mỹ theo như dự trù, để phối hợp với SĐ1KK tiến
chiếm An Lăo mà ông tin chắc là nơi SĐ3SV đang tập trung. Tư Lệnh Kinnard nêu
luận cứ: “Hôm nay, tôi đă cho một Đại Đội Biệt Động/SĐ1KK trực thăng vận vào khu
vực đó (Vùng quận Phù Mỹ của SĐ22- Pnn) để t́m và diệt nhưng không thấy đụng độ.
Biết vậy là sai nguyên tắc (đă phân chia vùng trách nhiệm), nhưng bởi nóng ḷng
tiêu diệt địch nên đă làm như thế”. Tướng Hiếu nại đến lời khẳng định của sĩ
quan Trưởng Pḥng 2 (Pḥng Quân Báo), Thiếu Tá Trịnh Tiếu: “Thưa Thiếu Tướng,
Cộng Sản rất né đụng độ với quân đội Hoa Kỳ v́ họ sợ hỏa lực của các ông. Tôi
tin Sư Đoàn 22 sẽ đụng độ với Sư Đoàn 3 SaoVàng tại mục tiêu nầy...” Thiếu Tá
Trịnh Tiếu giải thích thêm: “Tôi đă gặp một du kích Việt cộng sống ở vùng đồi
núi phía tây quận Phù Mỹ. Tôi đă tốn rất nhiều tiến bạc nuôi gia đ́nh tên du
kích nầy. Cách đây vài ngày, tên du kích đă báo cho tôi biết có nhiều đơn vị của
Sư Đoàn Sao Vàng trú quân tại ranh giới hai quận Phù Mỹ và Hoài Ân”. Từ xác định
của Thiếu Tá Trịnh Tiếu, Tướng Hiếu có kết luận với Tướng Kinnard: “Sư đoàn
chúng tôi sẽ vào vùng hành quân ngày mai, không nên thay đổi kế hoạch quá sớm.”
(Đại Tá Trịnh Tiếu, NVT sđd, trg 393-394)
Dựa theo tin tức của Thiếu Tá Tiếu/Pḥng 2, Tướng Hiếu chỉ thị cho Trung Tá Bùi
Trạch Dzần, Trung Đoàn Trưởng Trung Đoàn 41 chỉ xử dụng hai tiểu đoàn bộ binh,
cùng với bộ chỉ huy trung đoàn vào vùng thật sớm để khoảng ba giờ chiều hăy đóng
quân, đào hầm hố, lập công sự Pḥng thủ thật kỹ càng - Dân chúng nằm vùng nơi
vùng xôi đậu đang hành quân tất thế nào cũng báo cáo cho bộ chỉ huy Cộng Sản
biết t́nh h́nh quân số của lực lượng quân đội Cộng Ḥa. Sư đoàn Cộng Sản sẽ điều
quân đền đánh theo như tin tức nầy – Tướng Hiếu ém quân thật kín đáo nơi xa một
tiểu đoàn trừ bị và chi đoàn thiết vận xa, và sẽ dùng lực lượng nầy để phản công.
Quả nhiên đến hai giờ sáng, Trung Tá Dzần báo cáo trung đoàn Cộng Sản bắt đầu
tấn công vị trí của ông. Tướng Hiếu ra lệnh chi đoàn chiến xa và tiểu đoàn trừ
bị thần tốc tiến quân vào mục tiêu, bao vây, tiêu diệt không cho địch rút lui.
Sư Đoàn Không Kỵ được tin bộ binh Sư Đoàn 22 đụng trận theo kế hoạch trù liệu,
yểm trợ hỏa lực với tất cả pháo binh đă bố trí sẵn, dựng nên vũng rào lửa giữa
đội h́nh của đối phương bị phơi bày dưới ánh sáng hỏa châu rọi liên tục - Biến
đêm tối nên thành ngày rạng. Và khi ngày thật sự đến các chiến sĩ của Sư Đoàn 22
Bộ Binh đếm đủ hơn 300 xác chết nơi trận địa. Theo thống kê của chuyên viên quân
sự: Khi có một xác chết để lại trận địa th́ đơn vị ấy phải bị thiệt hại quân số
đến ba lần hơn – Chiến tích của Hành Quân Đại Bàng 800 và những hành quân cấp
tiểu đoàn của sư đoàn nầy kể từ khi Tướng Nguyễn Văn Hiếu giữ chức tư lệnh
(6/1966) đă đưa Sư Đoàn 22 Bộ Binh từ một đơn vị B́nh thường trong ṿng sáu
tháng nên thành:
1/ Sư
Đoàn 22 xử dụng nhiều th́ giờ hành quân tác chiến cao hơn hết so với bất cứ một
sư đoàn nào khác trong nước trong thời gian nầy (1966-1967).
2/Thời giờ dùng vào công tác B́nh định chỉ chiếm khoảng 10% tổng số ngày cơ hữu.
3/So với toàn quốc, Sư Đoàn 22 dùng ít thời lượng nhất trong công tác an ninh.
4/Số lượng đụng độ địch trên đơn vị cấp tiểu đoàn của sư đoàn nầy cao nhất trong
quân đoàn.
(Toán Cố Vấn Vùng II Chiến Thuật - NVT sđd trg 209)
Bản lượng giá c̣n nhiều ưu
điểm khác được nêu lên. Chúng tôi tóm lược với ư nghĩ: Nếu tất cả Sư Đoàn Bộ
Binh QLVNCH đồng có những Tư Lệnh Sư Đoàn như các Tướng Quân: Nguyễn Viết Thanh,
Trương Quang Ân, Ngô Quang Trưởng, Nguyễn Khoa Nam, Trần Văn Hai, Nguyễn Văn
Hiếu, sớm hơn một thập niên. Và các Liệt Vị Nguyễn Viết Cần, Lê Nguyên Vỹ, Lê
Văn Hưng, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Hữu Thông, Đặng Phương Thành, Nguyễn Xuân Phúc,
Trung Tá Cảnh Sát Nguyễn Văn Long... mau chóng nên thành Tướng Lănh Huân Công
Giữ Nước th́ chắc hẳn không có ngày uất hận 30 tháng Tư, 1975. Nỗi Đau nầy không
chỉ riêng một người. Không phải của một người.
Khả năng thao lược của Tướng Nguyễn Văn Hiếu không ngừng ở cấp sư đoàn với những
đơn vị bộ binh cơ hũu, người chứng tỏ năng lực chỉ huy, điều động trận địa ở mức
độ cao hơn với quan niệm hành quân liên binh chủng, cấp quân đoàn. Hành Quân
Toàn Thắng 46 đánh vào Trung ương Cục R với mục tiêu vùng Lưỡi Câu, Tây-Bắc Lộc
Ninh, bên kia biên giới VNCH-Campuchia. Vùng Lưỡi Câu là bản doanh của Sư Đoàn 5
Cộng Sản, trên danh nghĩa, đơn vị nầy thuộc Lực Lượng Vũ Trang Giải Phóng Miền
Nam, nhưng hầu hết cán bộ khung là người miền Bắc với Ủy viên chính trị thuần là
người của Hà Nội, từ cấp cơ sở. Điều nầy được hiện thực toàn diện từ khi Ba Cấp
(không rơ tên, thay thế Chín Chiến, người Nam) nhận lệnh từ Lê Duẫn trực tiếp
điều hành Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ Tranh Thủ Ḥa B́nh từ đầu thập niên 70 (Trương
Như Tảng, Journal of A Vietcong; Johanathan Cape, London, England 1986, p197)
trong đó Mặt trận giải phóng Miền Nam và lực lượng vũ trang là những bộ phận
thống thuộc. Vùng nầy cũng là cơ sở hậu cần của hai Đoàn 70, 80 yểm trợ không
riêng cho Sư Đoàn 5, mà cho toàn vùng Lưỡi Câu nầy, bao gồm mặt trận B́nh Long
trong nội địa Việt Nam.
Cuộc hành quân xử dụng những đơn vị, Trung Đoàn 9/Sư Đoàn 5 gồm có các tiểu đoàn 2, 3, 4 cơ hữu, và Đại Đội 5 Viễn Thám của sư đoàn; Trung đoàn được yểm trợ, tùng thiết với Trung Đoàn 11 Thiết Kỵ Mỹ tiến quân theo năm giai đoạn: Giai đoạn I tấn công; Giai đoạn 2, 3, và 4 lùng và diệt địch; Giai đoạn 5 rút về lại đất Việt. Cuộc hành quân nầy chỉ kéo dài từ tháng 5 đến tháng 7, 1970 có nhiệm vụ nhiệm vụ đánh thăm ḍ, và kiện toàn hệ thống tham mưu, phối hợp để tiếp theo những cuộc hành quân quan trọng hơn, cũng trên đất Miên với mục tiêu là Căn Cứ Hậu Cần 86, khu vực quanh Thị Trấn Snoul. Ngày 14 tháng 10, 1970 Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III chỉ thị Sư Đoàn 5 mở cuộc hành quân Toàn Thắng 8/B/5 với lực lượng được tổ chức như sau:
1/Chiến Đoàn1 gồm Thiết Đoàn1Thiết Kỵ làm thành phần chủ lực;
2/Chiến Đoàn 9 gồm Trung Đoàn 9/SĐ5 làm thành phần chủ lực;
3/Chiến Đoàn 333 gồm Chi Đoàn 18 Chiến Xa và bốn Tiểu Đoàn Biệt Động Quân. Bộ Tư Lệnh tiền Phương Sư Đoàn 5 đóng ở Lộc Ninh chỉ huy trực tiếp cuộc hành quân chỉ rút về Lai Khê khi các đơn vị lâm chiến đă rút khỏi đất Miên an toàn về đến hậu cứ (10/11/70).
Qua hai cuộc hành quân (ngắn hạn, có tính chất đánh thăm ḍ) nầy, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III và Sư Đoàn 5 rút ra hai điều căn bản:
1/Trong giai đoạn lực lượng VNCH tiến quân, quân Cộng Sản thường lẩn trốn vào sâu trong nội địa đất Miên.
2/Khi quân đội Cộng Ḥa triệt thoái quân về đất Việt là lúc t́nh h́nh chiến trường trở nên khó khăn v́ đối phương thường tổ chức phục kích cuộc rút binh. Thế nên, dẫu hủy diệt rất nhiều kho tàng, quân trang bị, vũ khí, đạn dược, lương thực của địch hai cuộc hành quân vừa kể, quân lực Cộng Ḥa cũng chưa đánh vỡ được các đơn vị chủ lực Cộng Sản, Trung Đoàn 174, 275, và đầu năo chỉ huy Sư Đoàn 5 với các đơn vị thống thuộc trong khu vực. Thêm một lần, Tướng Hiếu đề nghị cùng Tướng Trí thay đổi quan niệm hành quân: Thay v́ lùng, diệt địch, ta phải dụ địch xuất hiện, rồi mới tập trung quân tiêu diệt. Cụ thể trong khu vực hành quân của Sư Đoàn 5, có Sư Đoàn 5 của địch với hai trung đoàn có phiên hiệu 174, 275. Nay ta dùng một trung đoàn để nhử địch, và nếu địch dùng một trung đoàn tấn công, th́ ta sẽ tập trung một sư đoàn để phản kích. Nếu địch tấn công toàn bộ một sư đoàn th́ ta sẽ dùng ba sư đoàn cơ hữu của vùng (18, 25, và 5) để phản kích. Tướng Trí đồng ư kế hoạch “Điệu Hổ Ly Sơn” táo bạo nầy và Tướng Trí bắt đầu một kế hoạch chuẩn bị tỉ mỉ trong suốt những tháng c̣n lại của năm 1970. Ông cho đặt 11 vị trí máy ḍ thám quanh vùng Snoul, và một trung tâm ḍ̣ t́m tín hiệu được đặt ở Lộc Ninh với nhân viên Pḥng t́nh Báo sư đoàn làm việc 24/24.
Ngày 4 tháng 1, 1971 kế hoạch “điệu hổ” bắt đầu với Chiến Đoàn 9 gồm Trung Đoàn
9/SĐ5BB, Tiểu Đoàn 74 BĐQ, Chi Đoàn 1 Chiến Xa, và Đại Đội 5 Công Binh vào vùng
hành quân. Nhưng địch quân quả t́nh rất tinh khôn nên luôn tránh né giao tranh,
măi đến hai tháng sau mới có dấu chỉ quân Cộng Sản bắt đầu dấn vào bẫy sập.
Nhưng một biến cố bất lợi vô cùng quan trọng xẩy ra: Ngày 26 tháng 2/1971, trực
thăng chở Tướng Đỗ Cao Trí bị phát nổ - Vị tư lệnh chiến trường tử nạn vào giai
đoạn quan yếu quyết định của chiến dịch – Ngày 8/3/71, Địch quân bắt đầu pháo
kích vào vị trí đóng quân của Chiến Đoàn 9, một cây số Tây- Nam Snoul. Cùng lúc
Mặt Trận Hạ Lào, Lam Sơn 719 nơi phía bắc bị lâm vào thế bế tắc. Tướng Nguyễn
Văn Minh thay thế Tướng Trí giữ chức tư lệnh quân đoàn đồng ư tiếp tục kế hoạch
“nhử địch” của Tướng Hiếu nhưng không mấy sốt sắng. Phần v́ không phải kế hoạch
của chính ông; phần không đủ bản lănh để theo đuổi một kế hoạch sẽ có nhiều diễn
tiến mở rộng, khó lường trước (Sẽ phải xử dụng hai sư đoàn 18, 25 trong trường
hợp Bắc quân tập trung cấp sư đoàn). Liên tục trong những ngày tháng 3 hai bên
vẫn tiếp tục theo dơi diễn biến chiến trường để sửa soạn một cuộc tấn công quyết
định. Tướng Hiếu lệnh cho Trung Đoàn 8/SĐ5BB, thay thế Trung Đoàn 9, lực lượng
mới cải danh thành Chiến Đoàn 8, các thành phần tăng phái, Biệt Động Quân, Thiết
Kỵ không thay đổi. Với quân số gần 5000 người, được yểm trợ bởi Không Lực Hoa Kỳ,
Tướng Hiếu trải rộng vùng hành quân cốt lùa cho được địch quân vào bẫy sập. Ngày
26/5/71 cộng quân ra mặt tấn kích Snoul nhưng bị quân trú Pḥng đánh bật ra.
Ngày 27/5 địch chuyển hướng tấn kích sang mặt phía tây; và ngày 29 đánh vào
trung tâm chỉ huy của Chiến Đoàn 8 với quân số cấp trung đoàn phá hủy hệ thống
truyền tin, đài kiểm báo. Tướng Hiếu yêu cầu Tướng Minh xử dụng quân trừ bị của
quân đoàn phản công với đa số áp đảo như kế hoạch đă dự trù. Cố Vấn Mỹ khuyến
cáo Tướng Minh đừng thi hành yêu cầu của Tướng Hiếu với lư do: “Hăy đợi quân
Việt Cộng tập trung đông rồi dùng B52 tiêu diệt.” Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu
không thể chấp thuận kế hoạch nầy, v́ nếu thế B52 sẽ gây thiệt hại cùng lần cho
quân bạn. Ông chỉ yêu cầu B52 dội bom dọc theo lộ tŕnh rút quân (Quốc Lộ 13 từ
Snoul về Lộc Ninh), và nếu không áp dụng kế hoạch dự trù sơ khởi (dùng quân viện
phản kích) th́ hăy cho lệnh rút Chiến Đoàn 8 khỏi Snoul.
Ngày 30 tháng 5/1971, chỉ cần đợi Tướng Minh phủi tay với lời bất nhẫn: ”Anh
muốn làm ǵ th́ làm!!”, Tướng Hiếu đáp máy bay xuống Snoul nơi Bộ Chỉ Huy của
Chiến Đoàn 8 đang trong tầm súng bắn thẳng của cộng quân, đích thân ra lệnh
triệt thoái đến với tất cả cấp chỉ huy những đơn vị tham chiến, sau khi biết
rằng lời yêu cầu của ông xin B52 yểm trợ cuộc hành quân rút lui đă bị bộ tư lệnh
quân đoàn và cố vấn Mỹ bỏ qua. (NVT sđd, trg 411)
Tuy nhiên, cuộc lui binh khỏi Snoul cũng được hoàn tất (dẫu với tỷ số thiệt hại
1/3 quân số, Trung Đoàn Phó Trung Đoàn 8 tử trận), bởi các đơn vị vẫn giữ được
đội h́nh chiến đấu trong lúc triệt thoái, duy tŕ khả năng tác chiến sau lần tổn
thất do tất cả những người chỉ huy, binh sĩ các cấp đồng biết rằng: Vị Tư Lệnh
Sư Đoàn luôn ở với họ trong những giờ phút nguy nan nhất. Cuộc lui quân thành
công cũng v́ được Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn III của Chuẩn Tướng Trần Quang
Khôi trợ lực tiếp cứu từ Lộc Ninh theo Đường 13 đánh lên Snoul. Cuối cùng, Thiếu
Tướng Nguyễn Văn Hiếu sau lần triệt thoái phải ra tường
tŕnh trước Quốc Hội v́
lỗi đă để thất trận Snoul.
Hành Quân Triệt Thoái là h́nh thái hành quân KHÓ NHẤT- BỞI TỰ THÂN ĐĂ MANG MẦM
THẤT BẠI.
Quân Sử Đông-Tây, Cổ-Kim thế giới đă chứng nhận điều nầy qua thất bại của những
danh tướng, những đạo binh bách thắng. Napoléon rút khỏi đất Nga (1812); quân
Mông Cổ lui binh ở Đại Việt (Thế Kỷ 13). Và gần gũi mới mẻ nơi chiến trường Đông
Dương trên Quốc Lộ 4 với tan ră của Binh Đoàn Charton-Le Page (1953); Binh Đoàn
Lưu Động 100 (GM.100) trên Quốc Lộ 19 (1954). Và không đâu xa, mới đây, ở Mặt
Trận Hạ Lào, Lam Sơn 179 (tháng 2/ 1971): Một Thiết Đoàn Kỵ Binh; một Liên Đoàn
Biệt Động Quân; một sư đoàn bộ binh hàng đầu của quân lực; hai đơn vị tổng trừ
bị quốc gia: Sư Đoàn 1 Bộ Binh; Sư Đoàn Nhảy Dù; Sư Đoàn Thủy Quân Lục Chiến
đồng bị đem làm vật thí nghiệm cho những “chiến lược gia hạng ba, hạng tư”,
những tướng lănh bất tài, vô dụng. Lẽ tất nhiên không thể không kể những viên
“tướng” gọi là “Chủ Tịch Ủy Ban Lănh Đạo Quốc Gia; Chủ Tịch Hội Đồng Quân Lực;
Chủ Tịch Ủy Ban Hành Pháp Quốc Gia; Chủ Tịch Hội Đồng An Ninh Quốc Gia; Bộ
Trưởng Quốc Pḥng; Tổng Tham Trưởng.” Những kẻ xây dựng “công danh” trên máu
xương Người Lính – của rất nhiều Người Lính.
Miền Nam thật sự lâm cảnh nước mất, nhà tan từ cuộc rút lui gọi là “di tản chiến
thuật” bắt đầu ngày 15 tháng 3, nơi Tây Nguyên.
III. Trùng Vây Bất Minh
Quỹ Tiết Kiệm Quân Đội là ǵ?
Như thế nào?
Ngày 14 tháng 7, 1972 trong khí thế của toàn Quân-Dân Miền Nam kiên cường giữ
nước trên mặt trận quân sự, Đài Truyền h́nh Việt Nam tại Sài G̣n đă nổ phát pháo
hiệu của trận tuyến không tiếng súng nhưng không kém phần uy mănh: Thiếu Tướng
Nguyễn Văn Hiếu, Phụ Tá Đặc Biệt Phó Tổng Thống Đặc Trách Bài Trừ Tham Nhũng,
Tổng Thư Kư Ủy Ban Điều Tra Đặc Biệt về Quỹ Tiết Kiệm Quân Đội (QTKQĐ) tuyên bố
bản tường tŕnh sau ba tháng làm việc. Ḷng người Miền Nam bừng lên khí thế hy
vọng: thù trong-giặc ngoài đồng lần thanh toán. Vận nước sau hồi điêu linh, bĩ
cực nay phải chăng đang đến kỳ vinh hiển hanh thông. Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu
quả đă một lần đốt lên ngọn nguồn Hy Vọng cho cả Miền Nam. Nhưng oan nghiệt thay,
chỉ hơn hai năm sau, Người thắp sáng ngọn lửa lẫn quê hương đồng lâm cơn bức tử
cùng đành. Chúng ta nh́n lại Nỗi Đau không hề giảm sút dẫu đă ba-mươi năm qua.
Bắt đầu từ tháng Giêng năm 1968, mỗi quân nhân các cấp thuộc chủ lực quân và địa
phương quân QLVNCH đồng bị khấu trừ 100 Đồng vào tiền lương mỗi tháng. Với quân
số khoảng 1 triệu người, số tiền kia sau một thời gian ngắn trở thành một tổng
giá trị to lớn mà không một tổ chức hay hiệp hội thương mại, kỹ nghệ nào trong
nước có thể sánh được. Và nếu như chỉ dùng tổng số tiền nầy mở những trương mục
kư thác cố định, và huy động, sử dụng vốn, tiền lời nên thành một số vốn nhỏ cho
mỗi quân nhân (có được khi giải ngũ), th́ chắc rằng ư niệm ban đầu khi thiết lập
quỹ ắt là một kế hoạch rất đáng ca ngợi. Với t́nh huống nầy cũng không thể có
hiện tượng gọi là tham những, gian trá trong việc điều hành quỹ. Hoặc tài giỏi,
khôn khéo hơn, điều động số vốn khổng lồ kia vào những dịch vụ kinh doanh,
thương măi với thành tâm, thiện ư – Gây sinh lợi cho Người Góp Vốn: tập thể
những Người Lính đang thật sự góp máu, xương ǵn giữ Miền Nam - th́ ư niệm “Kinh
Bang Tế Thế” sẽ nên là một điểm son, nguồn sức mạnh kinh tế, vật chất, tài lực
góp phần bền vững cho Người và Chế Độ Cộng Ḥa. Khổ thay, sự việc không diễn
tiến theo chiều hướng tốt đẹp mong muốn nầy. Chúng ta trở lại bản tường
tŕnh mà
thực chất là bản cáo trạng của Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu– V́ sao đơn độc trong
đêm dài bất hạnh của quê hương.
1.- Những vi phạm về pháp lư:
Chiếu Dụ Số 10 ban hành ngày 6 tháng 8, 1950 (Chế độ Quốc Gia Việt Nam- Quốc
Trưởng Bảo Đại): Điều 1- Cấm triệt để các hiệp hội có
những sinh hoạt với mục đích “chia hưởng lợi tức”. Thế nhưng, Hội
Đồng Quản Trị Quỹ Tiết Kiệm Quân Đội (HĐQT/ QTKQĐ) đă dùng vốn của Hiệp Hội (QTKQĐ)
để mua cổ phần hai công ty (của chính phủ): COGIVINA và SICOVINA; thành lập Kỹ
Thương Ngân Hàng (KTNH), và bốn công ty mới: VICCO; VINAVATCO; ICICO; và FOPROCO
với số vốn 1, 232, 753, 000. 00 Đồng Việt Nam (Tính chung, 1 Tỷ 3).
Không được đứng tên Hiệp Hội (QTKQĐ) để kư các văn kiện hành chánh, nên những
giấy tờ thiết lập tại Pḥng Chưởng Khế Sài G̣n, Trung Tướng Nguyễn Văn Vỹ (Tổng
Trưởng Quốc Pḥng) cùng một số người nữa đă đứng tên làm chủ cổ phần với tư cách
cá nhân. Sau đó, do biết rơ đă vi phạm luật khi thiết lập những chứng từ căn bản
trong việc tổ chức, những cá nhân nầy lại kư những “Giấy Chuyển Nhượng các Cổ
Phần” lại cho Hiệp Hội (QTKQĐ) với lời cam kết: “Chỉ là những chứng chỉ cá nhân”
- Nhưng, hồ sơ chính lưu trữ tại Pḥng Chưởng Khế Sài G̣n vẫn là danh tính của
những cá nhân kia.
Hai khuyết điểm vi phạm luật thiết lập, điều hành hiệp hội như trên không phải
không được nêu ra, Phủ Thủ Tướng đă gởi Văn Thư số 2960 ngày 27/8/1970 yêu cầu
Bộ Quốc Pḥng điều chỉnh về mặt tổ chức để đúng với luật lệ hiện hành. Thế nhưng,
Bộ Trưởng Nguyễn Văn Vỹ và HĐQT/ QTKQĐ vẫn tiếp tục điều hành Quỹ trên căn bản
vi phạm luật lệ tổ chức hiệp hội, qua lần mua thêm cổ phần trong Công Ty Dệt
Việt Nam, và thiết lập những công ty mới: CôngTy Xây Cất Kỹ Nghệ VN (VICCO);
CÔNG TY Vận Tải VN (VINAVATCO); Công Ty Bảo Hiểm Kỹ Nghệ và Thương Măi (ICICO);
Công ty Sản Xuất Thực Phẩm (FOPROCO). (NVT sđd trg 276-281)
Để đúc kết phần tŕnh bày về vi phạm luật tổ chức, điều hành Hiệp Hội, chúng tôi
nêu lên hai chi tiết bổ túc:
1/Bộ
Trưởng Nguyễn Văn Vỹ vốn tốt nghiệp Trường Luật Hà Nội, và Trường Vơ Bị St. Cyr
của Pháp (George Mcarthur Los Angeles Times April 4, 1972 -NVT sđd trg 274)
2/Quân nhân các cấp bắt đầu góp 100 Đồng/Tháng vào Quỹ kể từ Tháng 1/1968, nhưng
măi đến 9 Tháng 5/1969, Bộ Quốc Pḥng mới ra chỉ thị ấn định những điều lệ thu
nhận, điều hành số tiền đóng góp của toàn quân đội. (NVT sđd, trg276)
Do bất chính từ tổ chức, và điều hành như trên, Quỹ đă có những khuyết điểm tất nhiên như sau:
- Giữa
thu, chi có những số liệu chênh lệch quá lớn, và không thể giải thích.
- Khuyết điểm trên xẩy ra do mỗi đơn vị, địa phương kết toán theo mỗi cách thức
khác nhau. Có đến hơn 400 đơn vị kế toán hành chánh tài chánh trên toàn quốc (kể
cả trung ương) giữ sổ sách không minh bạch, (không ghi ngày, tháng; không chữ kư
của kế toán trưởng; đánh số đầu mỗi trang giấy kế toán.. v.v.)
Từ những trở ngại nêu trên, Ủy Ban Điều Tra (UBĐT) chỉ có thể làm việc trên hai
con số liệu cụ thể: - Số liệu thật sự thu góp từ năm 1968 đến 1981
- Số liệu Quỹ đă thật sự hoàn trả cho các thành viên quân đội đă giải ngũ, hay
trợ giúp cho những người thừa kế (của quân nhân tử trận, mất tích).
Từ yêu cầu đơn giản và khẩn
thiết trên, UBĐT có được hai số liệu kết toán (tính đến ngày 31 tháng 12/1971)
mà không thể nào giải thích thỏa đáng cho dù quan niệm rộng răi, giản lược đến
bao nhiêu.
Số liệu
thật sự thu góp từ năm 1968 đến 1981: 3, 267, 631, 585. Đồng
Số liệu thật
sự hoàn trả và trợ giúp:
a/ Từ 1968 đến 1969: 14, 487, 642 Đồng
b/ Từ 1970 đến 1971: 293, 287, 047 Đồng
Tóm lại: Trong hai năm (1970-1971) Quỹ đă hoàn trả, bồi thường cho quân nhân
giải ngũ, và gia đ́nh tử sĩ một số lượng gấp hai-mươi lần của hai năm trước
(1968-1969)!! (NVT sđd trg 277)
2/ Lạm dụng, vi phạm:
Tuy nhiên, những vi phạm pháp lư như trên vẫn có thể được điều chỉnh, và biện
minh nếu như những người quản lư điều hành Quỹ nhận hiểu ra điều đơn giản thương
tâm: Những đồng tiền người lính góp vào Quỹ Tiết Kiệm kia quả thật là giá máu
của chính họ và gia đ́nh. Nhưng những “đồng tiền máu” nầy đă được dùng trong
những dịch vụ sinh lợi cá nhân (và tập thể cá nhân) theo như diễn tiến, và những
hậu quả điển h́nh như sau: Ṭa nhà số 8 Đường Nguyễn Huệ được xây cất với dự
định sẽ là Trụ Sở Kỹ Thương Ngân Hàng và văn Pḥng của bốn công ty mới lập vừa
kể ra trên. Quyết định xây dựng ṭa nhà không do Hội Đồng Quản Trị/QTKQĐ mà từ
Bộ Trưởng Quốc Pḥng Nguyễn Văn Vỹ ấn kư - Bộ Trưởng Vỹ chỉ là Chủ Tịch Danh Dự
không có thẩm quyền đối với Hội Đồng Quản Trị. Sự khởi đầu vi phạm nầy không
phải do “vô ư trong điều hành” và sẽ nẩy sinh những hệ quả. Bộ Quốc Pḥng sử
dụng tài lực, nhân vật lực quân đội (Nha Công Binh/Bộ Quốc Pḥng) để xây dựng cơ
sở cho một Hiệp Hội (tư).
Một năm sau, Hội Đồng Quản Trị/QTKQĐ mới chuẩn y công tŕnh và hợp thức hóa
quyết định của Bộ Trưởng Bộ Quốc Pḥng - Giới chức nầy kư Quyết Định Số 1815-QP/TCTT/DD
(ngày 14 tháng 8/ 1969) thành lập ba ủy ban: Ủy Ban Hành Sự; Ủy Ban Măi Dịch; Ủy
Ban Kiểm Soát. Ba ủy ban nầy cho phép (Bộ Quốc Pḥng/Là chính cá nhân bộ trưởng)
được toàn quyền điều hành, quyết định qua tất cả những lănh vực: Cung cấp vật
liệu; Cứu xét, chuẩn y cho những dịch vụ mua sắm thiết bị, phụ tùng xây cất; Phê
chuẩn báo cáo tài chánh mua sắm vật liệu, phụ tùng, trang bị; Cứu xét và kư nhận
các ngân phiếu chi, thu đối với các nhà thầu.. v… v…
Do những quyền hạn được quy định từ ba ủy ban trên, cá nhân bộ trưởng (dẫu ư
hướng trung trực tốt lành bao nhiêu) đă vi phạm nguyên tắc quản trị hành chánh,
tài chánh mà điều lệ của Hội Đồng Quản Trị/QTKQĐ đă định rơ: Ngân phiếu phải có
chữ kư của Phát Ngân Viên, Tổng Thư Kư, và Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị. Bộ Trưởng
Quốc Pḥng (Chủ Tịch Danh Dự) không thể là một trong ba giới chức nầy. Sự vi
phạm nguyên tắc hành chánh tài chánh nầy được thể hiện tiếp trong công tác như
sau:
Một nữ thương gia trúng thầu hiến giá thành công vụ mua bốn (4) thang máy thiết
trí cho ṭ̣a nhà với giá tổng cộng là 79.000.000 Đồng (56 triệu tiền mua 4 thang
máy; 23 triệu phí tổn thiết kế). Y thị được Bộ Quốc Pḥng (Ai là Bộ quốc Pḥng?)
can thiệp cho nhập cảng thang máy Hitachi với hối suất song hành 275 Đồng/Đô-la
Mỹ trong khi Bộ Kinh Tế khuyến cáo nên nhập thang máy Otis (Mỹ) với giá 118Đồng/Đô-la.
Không mất một đồng xu, không bỏ ra một đồng tiền vốn, y thị chỉ là một người
trung gian (giữa chủ nhân ṭa nhà với hăng nhập cảng thang máy) đă lấy trọn số
tiền lời 17 triệu đồng (không kể số tiền huê hồng trả cho hăng nhập cảng thang
máy). Tiếp vụ mười ba máy lạnh (trang bị cho
ṭa nhà) với một nữ thương gia (lại
một nữ thương gia) mất tiêu khoảng 19 triệu đồng cho một chị đàn bà khéo ăn nói,
luồn lách!!
Nhưng không chỉ vụ việc liên quan đến ṭa nhà Kỹ Thương Ngân Hàng ở Đường Nguyễn Huệ, từ sai phạm nguyên tắc tổ chức, điều hành, phân quyền như đă nói ở những phần trên, Hội Đồng Quản Trị Quỹ Tiết Kiệm Quân Đội và chính cá nhân Chủ Tịch Danh Dự Bộ Trưởng Quốc Pḥng Nguyễn Văn Vỹ liên tục vấp phạm những điều cụ thể:
Mua sắm một kiện hàng (2,069 cánh cửa nhôm) không có chứng thư hành chánh hợp lệ
từ Trịnh Phương B́nh (qua dịch vụ thương măi của VICCO) với giá 17 triệu đồng;
cộng thêm tiền lời cho hai quân nhân môi giới là 8 triệu 250 ngàn; B́nh nhận 2
triệu 290 ngàn tiền lời. Cuối cùng lố cửa sắt bị vất đống
v́ không sử dụng được.
Tất cả có nguyên nhân: B́nh là chồng của Nguyễn Thị Chuyên, em gái Bộ Trưởng Vỹ.
Công Ty VICCO do Tướng Lê Văn Kim (bạn chí cốt của Bộ Trưởng Vỹ) mua 650 tấn sắt
của Công Ty Hưng Nam với giá 9 triệu Đồng rồi để không sử dụng; chứ không mua
thép của Công Ty Lucia để được bớt đi ba triệu tiền huê hồng trả cho Hưng Nam -
Bởi, Giám đốc Hưng Nam là Lê Thị Thương, em gái Tướng Kim.
Chúng ta vẫn có thể bỏ qua những vụ việc coi như nhỏ nhặt trên (dẫu với thất
thoát hàng chục, hàng trăm triệu) v́ quan niệm rằng, đấy chỉ là những dịch vụ
đấu thầu thương măi thông thường (cho dù có dự mưu nâng đỡ đối với những người
có liên hệ với những nhân sự thuộc HĐQT), nhưng không thể bỏ qua những sai phạm
nguyên tắc về quản lư mà những người trong Hội Đồng Quản Trị đă đưa mức độ lạm
dụng lên thành một chính sách, một đường lối, một chủ trương hoạt động như sau:
Biệt phái đặc biệt nhân sự: Một tổng số quân nhân (385 người) được biệt phái về làm việc tại Kỹ Thương Ngân Hàng và sáu công ty do quân đội quản lư (như trên đă kể). Sự việc nầy xét ra khó thể chấp nhận nếu như không vi phạm những trường hợp sau:
a/ Bộ Quân Luật không hề cho phép quân nhân biệt phái đặc biệt về nhiệm sở tư (cho dù quân nhân Địa Phương Quân);
b/ Một số quân nhân biệt phái lănh lương từ các công ty nhưng không bao giờ có mặt tại nhiệm sở;
c/ Quân nhân biệt phái vẫn lănh lương quân đội do Bộ Quốc Pḥng đài thọ.
Tóm lại: Kỹ Thương Ngân Hàng và sáu công ty là: Nơi trốn quân dịch hợp pháp và được trả lương lớn nhất
Nhưng vi phạm, lạm dụng lớn nhất nằm ở phạm vi điều hành, quản lư. Chỉ một năm 1971, Kỹ Thương Ngân Hàng có những chi tiêu như sau:
a/ Chi phí nhân viên: 38Tr 119 ngàn Đồng;
b/ Chi phí giao dịch đối ngoại: 19Tr. 431 ngàn Đồng;
c/ Mua sắm chi phí chung: 25Tr. 744 ngàn Đồng.
Tổng cộng: 83, 285,000 đồng.
Bên cạnh tổng
số nầy, c̣n có số liệu trả cho Hội Đồng Quản Trị: 16, 149, 398.00 Đồng. Chưa hết,
riêng với Mă Hí, Giám Đốc Phân Bộ Huê Hồng, người có thẩm quyền đứng ra bảo lănh
cho người đến vay tiền để cá nhân ông ta có huê hồng tính từ 15% lăi suất (số
tiền) ông ta vừa đứng bảo lănh cho kẻ kia vay
(v́ không tài sản bảo chứng) - Chỉ
một năm Giám đốc Mă Hí nhận được từ 15 đến 30 triệu đồng huê hồng chính thức (chưa
kể tiền lương và các phụ phí khác).
Trong khi đó Quỹ Tiết Kiệm Quân Đội kư thác MỘT TỔNG SỐ 249.300.000 Đồng vào Kỹ
Thương Ngân Hàng tức là 99.72% vốn của ngân hàng mà chỉ nhận được một số tiền
lời rất nhỏ nhoi. TÓM LẠI MỘT TRIỆU NGƯỜI LÍNH GÓP TỪNG ĐỒNG TIỀN XƯƠNG MÁU M̀NH
ĐỂ CHỈ SINH LỢI RIÊNG CHO MỘT THIỂU SỐ GỌI LÀ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ VÀ HỆ THỐNG NHÂN
SỰ DO HỘI ĐỒNG ẤY ĐỊNH ĐẶT.
(Tất cả số liệu của phần tŕnh bày trên trích dẫn từ “NVT sđd trg 276-294”-Bản
dịch Việt Ngữ từ văn bản Tiếng Anh của
Ṭa Đại Sứ Mỹ, Sài G̣n, 1972)
Tham nhũng quả là một dịch họa, ngày 19 tháng 7, 1972, Ṭa Đại Sứ Mỹ ở Sài G̣n
gởi thông tri về Bộ Ngoại Giao ở Washington, DC với nội dung: Phó Tổng Thống
Trần Văn Hương trong buổi viếng thăm Phó Đại Sứ Mỹ Whitehouse đă có những lời
xác định: “Tham nhũng là mối hiểm họa lớn lao tại Nam Việt Nam. Ông đă điềm chỉ
nguyên do Trung Quốc rơi vào tay Cộng Sản là v́ t́nh trạng tham nhũng của chế độ
Tưởng Giới Thạch lan tràn. Ông tin rằng nếu không áp dụng những biện pháp mạnh
mẽ và khẩn cấp tại Nam Việt Nam, th́ Miền Nam cũng chịu số phận tương tự.” Đó là
lời của vị Chủ Tịch Ủy Ban Bài Trừ Tham Nhũng với viên Phó Đại Sứ nước Mỹ -
Chính quyền có quyết định đối với vận mệnh Việt Nam - Và đề tài tham nhũng ở
Việt Nam là một vấn đề của bầu cử tổng thống sắp tới tại Mỹ
(NVT sđd trg 297).
Nhưng khi trở lại với công việc của Tướng Hiếu, cũng là trở lại chức vụ đứng dưới một người tên gọi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, th́ dù với bản lănh của con người tiết tháo, Kẻ Sĩ Trần Văn Hương đôi khi phải lâm vào t́nh thế khó xử mà Tướng Hiếu có nhận xét: “Phó Tổng Thống Hương không có được thái độ cứng rắn. Ông ngại đụng chạm đến Tổng Thống Thiệu và Tướng Quang (Đặng Văn Quang, phụ tá chính trị của Tổng Thống Thiệu). Một hôm, ông tŕnh hồ sơ về một dân biểu rơ ràng có hành vi tham nhũng, Phó Tổng Thống ghi nhận là dân biểu nầy là thành viên của Khối Thân Chính Quyền, và ngày hôm trước người này đă dùng cơm với tổng thống. Phó Tổng Thống khuyến cáo (Tướng Hiếu) không nên theo đuổi vụ nầy!”
Một ví dụ khác, Tướng Hiếu báo cáo về Đại Tá Phạm Kim Quy, chỉ huy Khối Tư Pháp, Tổng Nha Cảnh Sát, mà theo ông đă có những vụ tham nhũng lớn trong Sở Di Trú, một nhánh của Khối Tư Pháp. Phó Tổng Thống cũng tỏ vẻ ái ngại không muốn theo đuổi vụ nầy v́ Đại Tá Quy là người thân cận của Phụ Tá Quang
(NVT sđd trg 272).
Tham nhũng không chỉ xẩy ra trong những giới chức cấp cao, nhưng tràn lan khắp nơi, từ một viên sĩ quan trung cấp giữ đơn vị chiến đấu, nay chuyển qua chức vụ chỉ huy hành chánh - “Tướng Hiếu chú thích với viên chức sứ quán (Mỹ): “Tướng Minh, Tư Lệnh Quân Đoàn III bổ nhiệm Đại Tá Mạch Văn Trường vào chức vụ Tỉnh Trưởng Long Khánh là để nắm trong tay một thương vụ lâm sản đem lại nhiều lợi tức.”
(NVT sđd 273)
Tham nhũng xuống đến xă, ấp, những tỉnh xa xôi với đối tượng (truy xét) là những viên chức thi hành Chương Tŕnh Phượng Hoàng nơi các địa phương. t́nh h́nh tồi tệ đến nỗi - “Tướng Hiếu nói là ông sẽ xuống Rạch Giá và Cần Thơ trong hai ngày 19 và 20 tháng 9, 1972 để điều tra hành vi tống tiền, bắt bớ những người t́nh nghi Việt Cộng, rối đ̣i đưa tiền chuộc mới thả họ ra.”
(NVT sđd trg306)
Và cuối cùng, tham nhũng tấn công ngay tại một đơn vị cao nhất - Cơ quan hành xử Tính Thật của Công Lư. Ngày 1 tháng 9, 1972, Khối Dân Biểu Quốc Gia ra một thông tri tố cáo: “Huỳnh Khắc Dụng, Chánh Biện Lư tại Ṭa Sài G̣n bị cáo buộc có nhiều hành vi tham nhũng, lạm quyền, độc tài và hành sự xấu. Tha bổng kẻ có tội và bắt giam kẻ vô tội, nhằm đ̣i hỏi kiếm tiền một cách bất lương. Phó Biện Lư Lưu Văn Ngô, từng bị tù v́ tội hối lộ, toa rập với Dụng để thả Trần Văn Ken, chánh phạm vụ ăn cắp xăng ở Nhà Bè...” (NVT sđd trg 303)
Chắc hẳn Ken không lấy vài trăm,
hoặc vài ngàn lít xăng để tuông ra bán lẻ; nhưng hăy nghe Tướng Hiếu nói cùng
viên chức sứ quán Mỹ (ngày 14 tháng 9, 72): “Có chỉ dấu là xăng ăn cắp từ Nhà Bè
đă được chuyển qua Campuchia bán cho Bắc quân!!” (NVT sđd trg 304). Nếu không có
số lượng xăng khổng lồ nầy tuồng ra từ những kho xăng ở Nhà Bè, những chiến xa
của Cộng Sản di chuyển từ Bắc vào chỉ là những khối sắt nằm ụ, vô dụng mà thôi.
Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu có thể làm
ǵ hơn với mối uất hận mỗi ngày mỗi trùng
lấp, và nỗi đau ắt sẽ đến càng dần hiện rơ: “Hoặc chúng ta tự sửa lỗi lấy hoặc
Cộng Sản sẽ sửa lỗi cho chúng ta” (NVT sđd trg 304)
Đến đây hẳn chúng ta đă hiểu ra: Tại sao Ngũ Tử Tư chỉ một đêm âu lo vận nước,
sáng mai tóc đà hóa trắng – Hóa ra chỉ Kẻ Sĩ – Người Hào Kiệt luôn là nạn nhân
đầu tiên lâm vào những t́nh huống kiệt cùng bi thảm nhất.
IV. Cái Chết của Một Người Lính:
1973, Tướng Nguyễn Văn Hiếu trở về quân đội do yêu cầu của Tướng Phạm Quốc Thuần
với Tổng Thống Thiệu: Vùng III Chiến Thuật cần phải có một tướng lănh xuất sắc
mới có thể đương cự với t́nh h́nh quân sự càng ngày càng xấu. Thiếu Tướng Nguyễn
Văn Hiếu được đề cử giữ chức vụ Tư Lệnh Phó Quân Đoàn III, dưới quyền Tướng
Thuần. t́nh huống khả năng chiến đấu quân đội Miền Nam bị hạn chế toàn diện do
Hiệp Định Paris kư ngày 27 tháng 1, 1973 áp đặt, qua việc Quốc Hội Hoa Kỳ cắt
giảm viện trợ, thêm Đạo Luật về “Quyền Lực (của Hành Pháp đối với) Chiến Tranh -
War Powers Act” đă được Quốc Hội Mỹ phê chuẩn (1974) chặt đứt tất tất cả khả
năng của bất kỳ vị tổng thống nào dù có “thiện chí” cứu viện Việt Nam đến bao
nhiêu.
Tháng 9, 1974 Tổng Thống Nixon từ nhiệm mang theo tất cả kư kết (cho là thật
ḷng) với Tổng Thống Thiệu; Tổng thống không do dân cử Gerald Ford kế vị, hứng
chịu gánh nặng chiến tranh Việt Nam đang hồi tàn cuộc với cắt giảm viện trợ (cho
Miền Nam) theo mức độ “đáng kinh sợ”, 50% mỗi năm kể từ Hiệp Định Paris. Năm
1973, 2.1 tỷ; 1974 xuống 1.4 tỷ; và tài khóa dự trù cho năm 1975: 700 Triệu!
(Henry Kissinger Ending the Vietnam War Simon and Schuster New York, 2003 p493).
Trước 1973, quân đội Việt Nam trên chiến trường một pháo đội (sáu khẩu 105 ly) có thể bắn 10 tràng (60 viên đạn) để dọn băi cho một mục tiêu trước khi đổ quân, nay với số tiền viện trợ quân sự lẫn kinh tế cho một quốc gia đồng minh như thế nầy, chỉ c̣n đúng “Bốn (4) viên cho một ngày hành quân đối với một khẩu pháo”. Và chẳng cần đọc đến báo cáo của Ngoại Trưởng Kissinger tŕnh Tổng Thống Ford về khả năng yểm trợ chiến đấu cho Miền Nam:
“Không quân giảm 50% hoạt động của 11 phi đoàn chiến đấu;
Hải quân giảm từ 30 đến 82% hoạt động hành quân;
Bộ Binh chỉ c̣n 1/4 đạn dược dự trữ tối thiểu...”
(Kissinger idid p 496);
Hà Nội cũng đă thấy thấy rơ lần mất máu của Miền Nam qua thống kê: “Pháo binh bị giảm 3/4 số đạn tiêu thụ; Không quân chỉ c̣n 1/5 hoạt động; số lượng phi cơ sử dụng được giảm 70%; trực thăng giảm 80%...
(Tạp Chí Học Tập, Hà Nội, số Tháng Giêng/1975)”
Bởi hai bên (Mỹ và Cộng Sản) biết rơ (và biết đúng) nhau như thế, nên đến tháng 10, 1973 Trung Ương Đảng Hà Nội ban hành Nghị Quyết 21 (biến thành Nghị Quyết 12 của Trung ương Cục Miền Nam) nhất quyết thực hiện: “Quyết chiếm Miền Nam bằng vũ lực, giành thắng lợi từng phần. Tiến tới thắng lợi cuối cùng”. Nghị quyết không là chữ nghĩa suông - Mặt Trận Phước Long bùng nổ ngày 13 tháng 12, 1974 - Lần đầu tiên sau Hiệp Định Paris, một tỉnh Miền Nam bị cưỡng chiếm. Những biện pháp do Bộ Quốc Pḥng Mỹ đưa ra:
1/Tăng cường thám sát trên không phận Bắc Việt.
2/Chuyển hướng hoạt động của Hàng Không Mẫu Hạm Enterprise thay v́ đến Ấn Độ Dương, nay hướng về Vịnh Bắc Bộ.
3/Khai triển phi cơ chiến đấu F4 đến Phi và Thái Lan; đưa B52 từ Hoa Kỳ đến đảo Guam.
Ngoại trưởng Kissinger có ư kiến về những đề nghị nầy: “Theo kinh nghiệm riêng của tôi, khi chúng ta rụt rè th́ sẽ thua cuộc. c̣n khi mạnh mẽ xông xáo th́ thế nào cũng thành công.” (Kissinger ibid p.505).
Nhưng
tất cả chỉ là đề nghị và ư kiến, v́ quốc hội Mỹ hiện tại đang bị phe McGorven
chế ngự - Và viên nghị sĩ nầy th́ nhất quyết trả thù vụ mất mặt do lần thất bại
bầu cử tổng thống năm 1972 vừa qua; cũng như Ngũ Giác Đài đồng ngại phải ứng phó
với quốc hội, và giới truyền thông nếu v́ dính líu vào lại Việt Nam. Tàu
Enterprise không bao giờ trở lại vùng biển Đông Dương, Vịnh Bắc Việt, nên ở Hà
Nội, trong buổi họp Bộ Chính Trị cuối năm 1974, Phạm Văn Đồng nói lời chắc nịch:
“Cho tiền đi nữa, Mỹ cũng không dám nhận để quay lại can thiệp (ở Việt Nam)”
(Kissinger ibid p507)
Ngày 10 tháng 3, Tổng Tham Mưu Trưởng quân đội Miền Bắc, Tướng Văn Tiến Dũng xua
năm sư đoàn chính quy tiến chiếm Ban Mê Thuột. Ngày 13 tháng Ba, những giới chức
cầm đầu miền Nam gọi là “tổng thống, thủ tướng, cố vấn (chính trị) tổng thống,
tổng tham mưu trưởng..” họp nhau tại Cam Ranh để đi đến quyết định:
Rút bỏ toàn
bộ lực lượng quân sự Quân Đoàn II từ Pleiku xuống đồng bằng theo Tỉnh Lộ 7 qua
Phú Bổn (Cheo Reo). Con đường, những vị trí quân sự mà quân dân Tây Nguyên phải
trả bằng giá máu để ǵn giữ từng tấc đất mười năm trước khi Thiếu Tướng Nguyễn
Văn Hiếu c̣n là vị Đại Tá Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn đă huân công giữ nước.
Cơn suy sụp dây chuyền kéo theo như điều tất yếu. 24 Tháng Ba mất Huế, 30 tháng Ba mất Đà Nẵng, 31 mất Nha Trang. Riêng tại Vùng III, Liên Đoàn 5 Biệt Động Quân phải rời bỏ An Lộc, co cụm về Chơn Thành, và Chơn Thành, chỉ cách Sài G̣n hơn 50 cây số đường thẳng bắt đầu bị pháo kích, tấn công. Tư Lệnh Phó Quân Đoàn III, Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu hứng chịu một lần gánh nặng chiến trận của ba đời tư lệnh để lại: Trung Tướng Phạm Quốc Thuần, Trung Tướng Dư Quốc Đống, và Thiếu Tướng Nguyễn Văn Toàn. Cũng như vận nước truân chuyên, Tướng Hiếu phải trải qua những biến cố vô hồi dồn dập: Ngày 2 Tháng Tư, 1975 ông bay ra Phan Thiết, nhận bàn giao với Tướng Phạm Văn Phú về những thành phần c̣n lại của Quân Đoàn II, của Quân Đoàn I từ ngoài Trung tán loạn chạy vào... Nhưng Tháng 4 năm 1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đă là một người “sợ đến cái bóng của ḿnh” theo mô tả của Tướng Vĩnh Lộc; đêm đêm phải thay đổi chỗ ngủ (theo lời của Nguyễn Cao Kỳ), nên sau khi ra lệnh Tướng Hiếu nhận chức Tư Lệnh Tiền Phương QĐ III, ông ta thấy ngay mối nguy hiểm (bởi đă quá nhiều tưởng tượng đối với với cái chết mười-hai năm trước của Cố Tổng Thống Diệm) khi giao quân vào tay của một người dũng lược, trung chính, nên ông Thiệu sửa lại quyết định: Thiếu Tướng Hiếu khẩn bàn giao chức tư lệnh tiền phương lại cho Trung Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, viên tư lệnh Quân Đoàn IV vừa bị mất chức bởi tội tham nhũng mấy tháng trước. Chưa yên tâm về Tướng Hiếu, sáng ngày 6 tháng Tư, 1975; Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu triệu Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu về Dinh Độc Lập. Sáng 8 tháng Tư, phi công Nguyễn Thành Trung lái chiếc F5E trút bom xuống dinh - Mối lo sợ của Tổng Thống Thiệu đă hiện thực. Cùng ngày 8, Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, cựu Tư Lệnh Sư Đoàn Sư Đoàn 23 hơn tháng trước đây ở Ban Mê Thuột, sau một thời gian dưỡng thương (của một vết thương do trầy sướt) nay được chỉ định chức Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn III mang một số lính thân tín (từ Quân Đoàn II xuống) đến thay thế toán quân cảnh an ninh gác bộ tư lệnh.
Có tiếng nổ từ văn Pḥng của Tướng Hiếu- Hai chứ không phải một - theo lời một nhân chứng bất ngờ (Trung Tá Vĩnh Hồ từ Quân Đoàn II xuống, đang ngồi đợi tŕnh diện Tướng Toàn ở Pḥng bên cạnh văn Pḥng Tướng Hiếu). Gia đ́nh Thiếu Tướng Hiếu nhận được tin vào buổi chiều (7 giờ), báo tin ông bị nạn do khi lau chùi súng (vào buổi chiều từ 5:30 đến 6 giờ) - Vụ Án thật sự không phải là quá bí ẩn để t́m hiểu - Chúng ta sống lại những giờ phút uất hận oan khiên của Người chết cùng Vận Nước bằng duyệt xét lại nhân sự và vụ việc Ngày 8 Tháng 4, 1975 tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III, ở Biên Ḥa:
1. Những nhân chứng trung tâm (Theo thứ tự liên quan đến diễn tiến vụ án):
- Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn, Tư Lệnh Quân Đoàn III, trưởng nhiệm sở, chỉ huy
trực tiếp Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, Tư Lệnh Phó. Theo lời kể của Đại Úy Đỗ
Đức, Chánh Văn Pḥng: “Ngày hôm đó t́nh h́nh rất căng thẳng. Lệnh cấm trại 100%.
Cả ngày hôm đó Tướng Toàn làm việc trong văn Pḥng tại Bộ Tư Lệnh. Tôi ngồi trực
Pḥng kế bên, đối diện với văn Pḥng Tướng Hiếu. Tôi nhớ rơ ngày đó Tướng Toàn
không họp với Tướng Lư Ṭng Bá (Tư Lệnh SĐ25BB, một nhân chứng sẽ kể sau).
Khoảng 5 giờ 30 chiều, Tướng Toàn sai tôi gọi xe về tư dinh cạnh
Ṭa Hành Chánh
Biên Ḥa (xe chạy mất khoảng 10, 15 phút). Đại Úy Đức đi nhậu với hai viên phi
công Lượng, Cửu (lái trực thăng cho Tướng Toàn); khoảng 10, 15 phút sau, ba
người được tin “Tướng Toàn đă trở về bộ tư lệnh cùng một viên cận vệ.” Đại úy
Đức vội trở về bộ tư lệnh, thấy tấp nập quân cảnh qua lại. Tướng Toàn ra lệnh
niêm phong văn Pḥng Tướng Hiếu.
(NVT sđd trg 142-143).
Cũng liên quan đến Tướng Toàn (sau 5:30 chiều ngày 8/4 theo như lời kể trên),
tại hiện trường: “Đại Tá Khuyến (Trưởng Sở An Ninh Quân Đội Vùng III); Đại Tá
Lương (Tham Mưu Phó Hành Quân QĐIII) và Tướng Toàn cùng nhau đi qua văn Pḥng
Tướng Hiếu. Các nhân viên quân cảnh đang vẽ họa đồ hiện trường. Một nhân viên
lấy thang leo trên trần nhà để t́m viên đạn súng lục văng lên đó, nhưng không
t́m thấy... Một chập tự nhiên Tướng Toàn reo lên: “Viên đạn đây rồi! Viên đạn
đây nè!” (NVT sđ trg 132). Trong thư đề ngày 10 tháng 3, 1999 gởi Tác Giả Nguyễn
Văn Tín, Tướng Toàn viết: “...Nhưng bất ngờ vào ngày (không nhớ) lúc bay hành
quân về th́ được tin anh Thiếu Tướng Hiếu đă tử nạn ở văn Pḥng. Tôi liền bay
đến văn Pḥng Thiếu Tướng Hiếu th́ tôi thấy anh ấy đă chết bởi một viên đạn súng
lục trổ từ mắt lên đầu và chết nơi bàn giấy.” (NVT sđd trg 2)
- Chuẩn Tướng Lê Trung Tường, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn III có lời kể:
“... Tôi nhớ buổi chiều xẩy ra chuyện bất ngờ. Anh Hiếu sau khi đi công tác về
đă vào Pḥng tôi mời tôi đi ăn cơm chiều. Lúc đó tôi quá bận rộn với công việc
giấy tờ, hẹn anh khi tôi xem xong công văn sẽ qua mời anh... Lúc đó anh trở về
Pḥng, chỉ cách Pḥng tôi độ 30 thước. Sau độ 15 phút, nghe tiếng súng nổ, nhân
viên văn Pḥng anh Hiếu chạy qua Pḥng tôi cho biết trong Pḥng anh Hiếu có
tiếng súng. Tôi bèn gọi Quân Cảnh Tư Pháp đến mở cửa điều tra. Sau mấy phút, QC/TP
mở cửa để điều tra th́ thấy anh Hiếu đă nằm cạnh bàn làm việc của Anh ta với một
khẩu súng lục. Đạn xuyên qua đầu, vết thương quá nặng nên Anh đă qua đời... (Thư
viết từ Sài G̣n, ngày 26/5/2002 NVT sđd trg 144).
Liên quan đến vụ việc, nhân sự Lê Trung Tường đă có hành động:
Trong ngày
8/4/1975 một nhóm lính mặc đồ trận trellis do Chuẩn Tướng Lê Trung Tường cầm đầu
tới Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III đuổi lính gác quân cảnh đi hết (NVT sđd trg136).
Chi tiết nầy được Trung Tá Quyến, Chỉ Huy Trưởng Quân Cảnh/Quân Đoàn III xác
nhận (với Tác Giả NVT) ngày 23 tháng 1, 1999. (NVT sđd trg 139)
- Đại Tá Tạ Thanh Long, Trưởng Đoàn Liên Hợp Quân Sự 4 & 2 Bên (Khu vực Biên Ḥa;
Bạn cùng Khóa 3 với Thiếu Tướng Hiếu) xác nhận: “...Qua điện đàm sáng ngày 2
tháng 1, 1999, tôi (Đại Tá Long) xin xác nhận: Tướng Hiếu đă chết sau giờ họp
tổng kết hành quân buổi chiều (khoảng sau 6: 30) thay v́ tin đồn đến với ông (N.V.
Tín) là Tướng Hiếu chết vào ban trưa... Với cương vị Trưởng đoàn quân sự VNCH
Ban Liên Hợp Quân Sự 4 & 2, tôi có bổn phận đến quân đoàn họp lúc 5 giờ mỗi buổi
chiều... Chiều hôm đó, tôi đến họp th́ Tướng Hiếu chủ tọa, tôi được biết Tướng
Toàn tư lệnh đang bận tại Bộ Chỉ Huy Tiền Phương đóng tại
G̣ Dầu Hạ, Tây Ninh.
Lúc vào họp, Tướng Hiếu ngồi chính giữa; bên trái có Tướng Đào Duy Ân TMT (Đại
Tá Long nhớ lầm chức vụ của Tướng Ân: Tư Lệnh Phó Đặc Trách Lănh Thổ, chứ không
là Tham Mưu Trưởng- PNN), và Đại Tá Phan Huy Lương, Tham Mưu Phó/Hành Quân. Bên
phải có ông Peters Tổng Lănh Sự Biên Ḥa, và tôi (ĐT/Long). Sau giờ họp, Tướng
Hiếu, Tướng Ân và tôi ra Pḥng khách uống trà. Tướng Hiếu khoe với tôi trước mặt
Tướng Ân: “Collection pistolet của moa đă lên đến con số 37. Moa vừa có một cây
P.38, đă đưa cho quân cụ xoáy lại rayures (Khương tuyến: Rănh ṇng súng), để moa
lấy cho toa xem.” Tướng Hiếu nói đến đây th́ Đại Tá Lương mời tướng Hiếu xuống
dùng cơm... Xe tôi chạy đến Hotel de la Piscine Biên Ḥa (trụ sở Ủy Ban Quốc Tế),
tôi ghé vào 20 phút để nói qua các vi phạm của Việt Cộng. Về đến văn Pḥng (chưa
kịp xuống xe), Trung Tá Thắng báo cáo: Đại Tá Lương cần gặp đại tá gấp. Tướng
Hiếu đă chết”. Tôi quay lại bộ tư lệnh th́ thấy quân cảnh đă vây chặt văn Pḥng
bộ tư lệnh, tôi hỏi Đại Tá Lương: “Chuyện ǵ xẩy ra?” Đại Tá Lương trả lời: “Sau
khi dùng cơm, Tướng Hiếu trở lại văn Pḥng, sau vài phút có tiếng súng nổ, lính
gác vào xem, nh́n thấy Tướng Hiếu đang gục trên bàn với máu me... Tôi mời đại tá
qua chứng v́ đại tá và thiếu tướng là bạn cùng khóa, thân nhất tại quân đoàn. (NVT
sđd trg 135)
- Đại Tá Phan Huy Lương, Tham Mưu Phó Hành Quân/QĐIII (qua cuộc điện đàm với N.V.
Tín, tháng 7/1999): “…như thường lệ, khoảng 5, giờ hoặc 5:30 chiều, Tướng Hiếu,
Tướng Tường, Đại Tá Lương ngồi nói chuyện chơi tại văn Pḥng tham mưu trưởng
trong khi chờ tới giờ ăn cơm chiều.
(Ngày 8/4-Pnn) Đại Tá Lương mời Tướng Hiếu
đi xơi cơm. Tướng Hiếu về văn Pḥng tư lệnh phó lấy đồ riêng; một chập sau có
tiếng súng nổ, quân cảnh chạy vào xem rồi lại chạy trở ra báo cáo bị nạn; một
lát sau Đại Tá Lương thấy Tướng Toàn xuất hiện. Phần ông th́ quá buồn bực và bối
rối nên không c̣n để tâm theo dơi t́nh h́nh xảy ra... Ông cũng không kêu điện
thoại báo cho ai cả, và chỉ biết Bà Tướng Hiếu tới bộ tư lệnh quân đoàn lúc 9,
10 giờ tối.” (NVT đd trg 140)
- Đại Tá Nguyễn Khuyến, Chỉ Huy Trưởng An Ninh Quân Đội Quân Đoàn III có lời: “…chuyện
xẩy ra có lẻ cũng đến một phần tư thế kỷ, nhưng tôi c̣n nhớ diễn tiến như sau:
Buổi sáng đó có buổi họp với Tướng Hiếu lúc 10 giờ tại văn Pḥng ông. Buổi họp
kéo dài đến 12 giờ. Tôi trở về văn Pḥng tôi cách bộ tư lệnh khoảng 10 phút lái
xe. Tôi sửa soạn đi ăn trưa với những người bạn ở Sài G̣n lên th́ Pḥng An Ninh
Quân Đoàn điện thoại báo cho biết Tướng Hiếu đă dùng súng tự vận tại văn Pḥng.
Tôi rất bàng hoàng và kinh ngạc v́ đó là chuyện khó tin. Tôi mới chào từ biệt
ông cách đấy 15 phút sau buổi họp. Tôi vẫn thấy ông vẫn vui vẻ như thường lệ...
Tôi vội vă lên xe jeep phóng qua bộ tư lệnh. Khi tôi đến xe hồng thập tự đă chở
xác tướng Hiếu vào bệnh viện. Tôi không biết làm
ǵ hơn là vào gặp Đại Tá Phan
Huy Lương. Theo lời kể của Đại Tá Lương:
“th́ vào khoảng 12 giờ mọi người ở gần
văn Pḥng Tướng Hiếu có nghe một tiếng súng lục trong Pḥng của Tướng Hiếu. Đại
Tá Lương chạy qua th́ thấy Tướng Hiếu nằm bất động trên ghế bành ở bàn giấy. Một
ḍng máu tươi chảy chan Ḥa xuống mặt và ngực. Một viên đạn đă xuyên qua trán đi
thẳng lên óc. Viên đạn nầy c̣n có trớn bay lên trần nhà, xoi thủng một lỗ...
Viên đạn nầy đă kết liễu đời Tướng Hiếu. Trong tay Tướng Hiếu c̣n cầm một khẩu
súng lục... Việc đầu tiên (của Đại Tá Lương) là quay điện thoại báo bác sĩ của
quân đoàn.... và tiếp đó gọi báo cho quân cảnh tư pháp của quân đoàn. Đại Tá
Lương c̣n cẩn thận không cho ai bước vào văn Pḥng Tướng Hiếu trước khi nhân
viên quân cảnh đến lập biên bản, điều tra.” Khi tôi (ĐT/Khuyến) bước vào Pḥng
Tướng Hiếu th́ thấy mấy nhân viên quân cảnh đang vẽ họa đồ trên tường. Không có
dấu hiệu ǵ có sự xô xát.
(Thư San José, ngày 18 tháng 7, 1998 của Đại Tá Khuyến
gởi NVT - NVT sđd trg 128)
Đại Tá Khuyến có thêm ư kiến: “Không có bằng chứng nào về giả thuyết Tướng Hiếu bị ám sát hay tự sát... Theo lời Trung Tá Quyến, Chỉ Huy Trưởng Quân Cảnh Quân Đoàn th́ đây là “một vụ tai nạn súng lục cướp c̣ súng”... Trước đó ít lâu, ông (Tướng Hiếu) được ai đó biếu một khẩu súng lục… nhưng phiền nó hay cướp c̣, cái khóa an toàn bị hỏng, ông đă giao cho Bộ Chỉ Huy 3 Tiếp Vận sửa đi sửa lại mấy lần. Đấy là tin tức nghe được từ Đại Tá Khang, chỉ huy trưởng Bộ Chỉ Huy 3 Tiếp Vận kể lại. (NVT sđd trg 129)
- Trung Tá Quyến, Chỉ Huy Trưởng Quân Cảnh/QĐIII. Ngày 12/1/1999, Trung Tá Quyến quả quyết với tôi (NVT): “Tướng Hiếu chết vào khoảng sau 6 giờ chiều. Ngày hôm đó (8/4/75), Chuẩn Tướng Lê Trung Tường đem một toán quân mặc đồ trận đến BTL/QĐIII đuổi hết quân cảnh thuộc quyền ông đi nơi khác. Chiều hôm đó, sau khi tắm xong khoảng 6 giờ rưỡi chiều, ông (TT/Quyến) ghé vào bộ tư lệnh th́ thấy Tướng Hiếu c̣n ngồi tại bàn giấy trong văn Pḥng.” (NVT sđd trg 139).
Trung Tá Quyến nói
thêm: “Khi phải điều tra vụ án mạng, ông sợ cho tính mạng nhân viên quân cảnh tư
pháp của ông, nên phải lập mưu kéo thêm nhóm cảnh sát của Đại Úy Thịnh Văn Phúc,
cùng nhóm chiến tranh chính trị của Đại Tá Nguyễn Hùng Khanh vào điều tra để
giảm bớt trách nhiệm, áp lực từ trên giáng xuống. (NVTsđd trg 139)
- Bác Sĩ Lư Ngọc Dưỡng, Y Sĩ Trung Tá Chánh Văn Pḥng Trung Tướng Tư Lệnh Nguyễn
Văn Toàn: (Điện đàm với NVT ngày 31 tháng 8, 2004):
“Tôi c̣n nhớ rơ sự việc ngày
Tướng Hiếu ngộ nạn. Ngày hôm đó rất là bận rộn
v́ sáng đó Dinh Độc Lập bị giội
bom, và tôi phải soạn thảo bản thảo thông cáo cho Tướng Toàn sẽ đọc trên đài
phát thanh về vụ ném bom để trấn an quần chúng. Trong khi đó văn Pḥng Tham Mưu
Trưởng kế bên văn Pḥng tôi đang có cuộc họp về Nhân Dân Tự Vệ với sự tham dự
của Tướng Hiếu, Tướng Ân, Đại Tá Khuyến, và một Đại Tá, BCH Cảnh Sát Quân Đoàn
III (không nêu tên). Khoảng 6 giờ, Tướng Toàn bước qua văn Pḥng tôi (Y Sĩ Dưỡng)
nói ông đi về tư dinh ở Biên Ḥa. Tôi cùng leo lên xe đi theo Tướng Toàn, trên
xe có Đại Úy Đức. Khi bước ra văn Pḥng, tôi nghe Tướng Hiếu rủ Tướng Tường đi
ăn cơm, và nghe Tướng Tường trả lời: “Anh đợi tôi đi tắm cái đă”. Tại tư dinh
Tướng Toàn, điện thoại reo, tôi bốc điện thoại, đầu dây bên kia Tướng Tường báo
tin: “Tướng Hiếu chết rồi”. Tôi chạy qua thông báo cho Tướng Toàn, lúc đó chưa
kịp cởi xong dây giầy. Chúng tôi trở lại bộ tư lệnh, trên xe có Đại Úy Đức. Khi
bước vào văn Pḥng Tướng Hiếu, tôi tự nhiên buột miệng dặn Tướng toàn đừng sờ mó
ǵ kẻo để lại dấu tay. Tôi thấy cảnh tượng Tướng Hiếu ngồi trên ghế, đầu gục
trên mặt bàn, cánh tay trái đặt trên bàn, cánh trái tḥng xuống đất, có khẩu
súng lục nằm dưới mặt đất bên cạnh bàn tay. Tôi nhận xét thấy viên đạn xuyên từ
cổ... ờ.. ờ... ờ... (nguyên văn điện đàm) không phải vậy, xin nói lại… từ hàm
bên phải trổ lên màng trang bên trái. Tướng Toàn không lại gần bàn giấy mà chỉ
đứng dựa vào thành cửa, và tôi mục kích Tướng Toàn khóc, đây là lần thứ hai.
(NVT
sđd trg 147)
2. Những chứng nhân ngoại vi:
- Bác Sĩ Lư Khánh Trí, Y Sĩ Quân Đoàn III. Bác Sĩ Trí do bị stroke, nên khi Tác
Giả Nguyễn Văn Tín hỏi về vết thương của Tướng Hiếu th́ người nầy không nhớ được
ǵ. Nên chỉ ghi lại lời của Bác Sĩ Trí nói cùng một thân nhân của gia đ́nh khi
đến viếng xác ba-mươi-năm trước (1975):
“Viên đạn đi vào cằm, gặp xương hàm quá
cứng không đi thẳng lên đỉnh đầu được, đă phải rẽ xuống đâm ra sau ót, khiến
Tướng Hiếu chết tốt, không biết đau đớn.” (NVT sđd trg182).
Về định vị vết
thương, và đường đạn đi, Tác Giả Nguyễn Văn Tín có xác định:
“Riêng cá nhân tôi
khi viếng xác anh ḿnh, nh́n tận mắt thấy viên đạn xuyên vào cằm bên trái rồi
chui ra đằng sau đỉnh đầu về phía phải.” (NVT sđd 148); hoặc: “Tôi (NVT) chỉ
thấy viên đạn để lại một dấu chấm đen nhỏ xíu ở cằm bên trái, cách góc mép môi
bên trái 1cm, khoảng 45 độ hướng về phía dưới. Viên đạn cũng để lại một vết đen
nhỏ xíu trên đỉnh đầu bên phải (chứ không phải đằng sau ót như viên bác sĩ (Bác
Sĩ Trí) tŕnh lại với thân nhân (NVT sđd trg 130).
Cũng liên quan đến vấn đề (định vị vết thương, và đường đạn đi) trên, Đại Tá Tôn
Thất Soạn, Nguyên Lữ Đoàn Trưởng TQLC, Tỉnh Trưởng Hậu Nghĩa có xem một xấp mười
tấm h́nh (về cảnh chết Tướng Hiếu) do Trung Tá Cảnh Sát Phạm Khắc Đạt, Chỉ Huy
Trưởng Cảnh Sát Hậu Nghĩa giao lại; Trung Tá Đạt có thắc mắc:
Tướng Hiếu thuận
tay mặt; sao vết thương lại do một người thuận tay trái gây nên” (Gặp gỡ ngày 2
tháng 10, 2004 tại New Jersey. NVT Sđd trg 149)
- Chuẩn Tướng Lư Ṭng Bá, Tư Lệnh Sư Đoàn 25 BB: Mới đây, trong dịp điện đàm với
Tướng Bá, tôi (NVT) hỏi: Có phải Tướng Toàn bắn anh tôi không?
Ông (Tướng Bá)
trả lời: “Chắc không phải Tướng Toàn bắn đâu,
v́ lúc đó tôi đang họp với ông ta.
Sau buổi họp trên đường đi th́ nghe quân lính lao xao nói Tướng Hiếu vừa chết
trong văn Pḥng. V́ phải gấp rút lên máy bay ra mặt trận, nên tôi không có th́
giờ nghe ngóng thêm tin tức” (NVT sđd trg 122)
- Đại Tá Nguyễn Văn Y, Phủ Đặc Ủy Trung Ương t́nh Báo: Khi gặp tôi ở Nữu Ước
(1986) khẳng định: “Tướng Toàn chứ không ai vào đó cả” (NVT sđd trg 122); Và:
“Tội nghiệp tướng Hiếu chết chưa kịp ăn cơm trưa” (NVT sđ trg 138)
- Đại Úy Đỗ Đức, Sĩ Quan Tùy Viên Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn: “...Tướng Toàn đă
ra lệnh niêm phong văn Pḥng Tướng Hiếu, nên tôi không thấy cảnh Tướng Hiếu chết
làm sao. Điều mà tôi chắc chắn là Tướng Toàn không thể nào bắn Tướng Hiếu
v́ tôi
ở sát ông cả ngày hôm đó đến khi ông về nhà sau 5 giờ rưỡi chiều... Nếu Tướng
Toàn nói ông hay tin Tướng Hiếu bị nạn khi đang bay trực thăng là ông nhớ sai
v́ sức khỏe sa sút... Hai thiếu tá phi công Lượng và Cửu đều (đang) ngồi ăn nhậu
với tôi th́ làm sao ông bay trên trời lúc đó được.” Đại Úy Đức nêu thêm
ư kiến:
“Nếu Tướng Hiếu bị ám sát th́ tên sát nhân phải là người rất quen thuộc với ngơ
ngách quanh co trong bản doanh Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn. Chính tôi, sau khi về đó 2,
3 tháng vẫn c̣n hay lạc khi phải đi từ văn Pḥng nầy qua văn Pḥng khác.” (NVT
sđd trg 143)
- Chuẩn Tướng Trần Đ́nh Thọ (Trưởng Pḥng Ba Bộ Tổng Tham Mưu). Cuối tháng 8,
1998 nhân có mặt tại Virginia, tôi (NVT) ghé thăm Chuẩn Tướng Thọ th́ được ông
xác nhận: “Tướng Hiếu chết vào buổi trưa.
V́ ông nhớ rơ, trưa ngày hôm đó ông
bận việc sắp sửa đi ăn cơm trưa (trễ) th́ nhận được điện thoại của Đại tá Lương”
(NVT sđd trg 138)
- Đại Tá Lê Khắc Lư, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II: Trung Tướng Toàn nói với ông
(ĐT/Lư): “Tướng Hiếu chết vào buổi trưa” (NVT sđd trg 138)
- Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, Chỉ Huy Trưởng Lực Lượng Xung Kích/QĐIII: Qua
cuộc điện đàm vào tháng 6/1999, ông (CT/Khôi) xác nhận là: “Tướng Hiếu chết vào
buổi trưa, v́ ông nhớ là ngày hôm đó, Tướng Hiếu họp với ông lúc 8:30 sáng tại
G̣ Dầu Hạ, khoảng 9:30 Tướng Hiếu bay về Biên Ḥa; vài giờ sau ông hay tin Tướng
Hiếu chết.” (NVT sđd trg 138)
- Đại Tá Lê Trọng Đàm, Chỉ Huy Trưởng Cảnh Sát Vùng II: Là nhân sự độc nhất
thuộc Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II có mặt tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn III trong buổi
sáng ngày 8/4/75. Đại Tá Đàm tiếp xúc với tác giả (NVT) qua điệm đàm kéo dài 45
phút (không ghi rơ thời gian, địa điểm-pnn):
Ông (LTĐ) nói sáng ngày Tướng Hiếu
chết ông có mặt tại BTL/QĐIII và trở về Sài G̣n sáng hôm đó. Đến chiều th́ Y Sĩ
Trung Tá Dưỡng điện thoại báo tin Tướng Hiếu chết.
Khi tôi (NVT) nói: “Đại Tá
Khuyến xác nhận là Tướng Hiếu chết vào buổi trưa”, th́ Đại Tá Đàm quả quyết ngay
là: “Đại Tá Khuyến nói sai v́ 2 giờ trưa ông c̣n có mặt tại Quân Đoàn III”
(NVT
sđd trg 146)
V.
Kết từ
Đến đây, chúng ta có thể ngưng lại câu chuyện về Con Người Trung Liệt Nguyễn Văn
Hiếu để có thể đi đến một kết luận chung nhất về cái chết của Người: Báo hiệu
cơn lâm tử uất hờn của cả Miền Nam - Của mỗi Người Lính Quân Lực Việt Nam Cộng
Ḥa. Chúng ta hẳn cũng không cần thiết phải t́m câu trả lời (thật ra rất dễ dàng
đối với cơ quan, chuyên viên tội phạm học, kể cả những người có vài kiến thức
căn bản về ngành, nghề điều tra án mạng cho dù các nhân chứng ném tung một khối
trả lời hỗn loạn, đối nghịch nhau) về những chi tiết: Ai đă ra lệnh giết Người?
Ai là kẻ sát nhân đă bắn vào Người Trung Chính? Người đă chết lúc ban trưa, hay
chiều tối, bởi loại vũ khí nào? Tất cả đă là vô ích
v́ Người Lính Đă Chết. Những
luận cứ tầm phào, thô thiển để che lấp về âm mưu sát nhân như: Thiếu Tướng
Nguyễn Văn Hiếu đă tự sát; hoặc sau đó: Thiếu Tướng Hiếu bị cướp
c̣ khi chùi
súng?!! Quả t́nh không thể đánh lừa được ai
v́ đấy là Người Tín Đồ Công Giáo
thuần thành với Đức Tin bền đỗ. Là một xạ thủ súng colt thượng thặng. Và toàn
Quân-Dân đang ở trong T̀NH CẢNH NHỮNG NGÀY QUYẾT ĐỊNH CỦA CHIẾN CUỘC VIỆT NAM
VỚI VẬN NƯỚC ĐANG BỊ ĐE DỌA TỪNG PHÚT GIỜ NGẮN NGỦI. Thêm buổi sáng Dinh Độc Lập
bị giội bom. Chúng ta nắm vững sự kiện nầy với những hệ quả được nêu ra như sau:
Khi Dinh Độc Lập bị giội bom, Tổng Thống Thiệu hoảng hốt lo sợ một cuộc đảo
chánh khởi phát. Ông ra lệnh xác định vị trí các tướng tá khắp bốn quân khu th́
được cơ quan t́nh báo của Tướng Quang (Đặng Văn Quang, Cố vấn chính trị) cho
biết ai nấy đều ở vị trí B́nh thường, duy chỉ có Tướng Hiếu đang
ở G̣ Dầu Hạ họp
bàn ǵ với Chuẩn Tướng Trần Quang Khôi, Tư Lệnh Lực Lượng Xung Kích Quân Đoàn
III (NVT sđd trg 180). Tổng Thống Thiệu nghi ngay có dự mưu đảo chính giữa hai
người, cũng do việc Tướng Minh (Cựu Tư Lệnh Quân Đoàn III) đă báo cáo về âm mưu
đảo chánh từ trước (tháng 6/1971) nhân khi hai người phối hợp trong trận triệt
thoái Snoul. t́nh h́nh của tháng Tư, 1975 c̣n nguy kịch hơn với kế hoạch (chứ
không c̣n là dự tính suông) sẵn có của Nguyễn Cao Kỳ, dùng lực lượng không quân,
nhảy dù, thủy quân lục chiến, thiết giáp để: “Chỉ cần chiếm giữ dinh tổng thống,
trụ sở và nhân sự bộ tổng tham mưu, đài phát thanh và truyền h́nh là nắm trọn cả
Miền Nam...” Kỳ không giấu giếm kế hoạch nầy, bàn thảo với những tướng, tá thân
cận như Lê Nguyên Khang, Nguyễn Ngọc Loan, Phan Phụng Tiên v.v... (và sau nầy đề
nghị trực tiếp với cả Tổng Thống Hương) đến nỗi Chỉ huy trưởng CIA Mỹ ở Sài G̣n
(Eric Von Marbord) phải ngỏ lời từ chối (yểm trợ) (Olivier Todd; Cruel Avril
Robert Lafont, Paris, 1978 pp 326-349). Tổng Thống Thiệu hẳn biết thế nên “đă xé
lẻ Sư Đoàn Nhảy Dù” không thương tiếc (Lê Quang Lưỡng,
(Lê Bá Chư hiệu đính):
Thiệu Đă Xé Lẻ Sư Đoàn Nhảy Dù Như Thế Nào? Tạp Chí Hồn Việt, CA, 1982). Hơn thế
nữa, tháng Tư lại là thời điểm ám ảnh thực sự bởi cái chết (sau khi mồ người
thân sinh ở Làng Ninh Chữ, Phan Rang bị quân, dân phẫn uất phá sập) - Người tên
gọi Nguyễn Văn Thiệu không thể để sinh mạng bị kết thúc như cách thê thảm của
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và bào đệ Ngô Đ́nh Nhu bởi những tay tướng lănh mà ông
đă quá thâm hiểu ḷng dạ của họ trong âm mưu (cùng ông) đoạt quyền, giành lợi từ
1963 đến nay. Để duy tŕ mạng sống của ḿnh - Nguyễn Văn Thiệu phải ra tay – Và
Người Trung Chính Nguyễn Văn Hiếu phải bị bức tử.
Để kiên định cho luận cứ kể trên, chúng tôi có thể nại đến những yếu tố khách
quan, cụ thể đă được chứng thực trong những ngày đen tối của Miền Nam vào tháng
Tư ba-mươi năm trước. Yếu tố đấy là: Nếu như Thiếu Tướng Nguyễn văn Hiếu không
bị bức tử th́ chắc rằng sau khi ông Nguyễn Văn Thiệu từ chức tổng thống - Tổng
Thống Trần Văn Hương ắt hẳn sẽ chọn Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu để giao nhiệm vụ
Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa - Điều nầy không phải là một giả
thiết v́ mặt trận chính trị lúc ấy đă lộ ra một giải pháp với Pháp và Trung Cộng
(Những nhân tố chính của Hiệp Định Genève 1954) với những thành phần thân Pháp
như Cựu Thủ Tướng Trần Văn Hữu; thân Trung Cộng như các thành viên của Chủ Tịch
Đoàn Mặt Trận Giải Phóng với Nguyễn Hữu Thọ được nhà nước Trung Cộng giới thiệu
như là Quốc Trưởng Cộng Ḥa Miền Nam Việt Nam trước nhân dân, chính phủ của các
nước Á Phi suốt trong giai đoạn trước sau khi Hiệp Định Paris được kư kết
(27/1/1973). Giải pháp chính trị nầy hoàn toàn không phải là chiều hướng của Hà
Nội và lẽ tất nhiên cũng không phải của chính phủ Mỹ v́... Chiều hướng “chính
trị” duy nhất mà chúng ta có thể nghĩ tới (để giải quyết t́nh h́nh Việt Nam tại
thời điểm 4/1975 -pnn) là tiếp cận với Mạc tư Khoa (Kissinger ibid p 542). Và
nếu như Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu là Tổng Tham Mưu Trưởng th́ chắc rằng t́nh
h́nh quân sự sẽ tiến triển theo một chiều hướng khác, dẫn đến một hệ quả chính
trị khác - Nhưng chí ít những nhân sự tên gọi Nguyễn Văn Thiệu, Trần Thiện Khiêm
không thể B́nh an ra khỏi nước cho dù Ṭa Đại Sứ Mỹ có bảo trợ an ninh đến tối
đa. V́ lư do nầy: Người Trung Chính Nguyễn Văn Hiếu không thể tồn tại được.
Để kết thúc, chúng tôi có thể nhắc lại những yếu tố: Người vốn sinh trưởng ở
Tiên Sinh, Thượng Hải, sống trong một tô giới Pháp, khi về Việt Nam (năm 1949)
nói tiếng Việt có âm Pháp Ngữ; cựu sinh viên Đại Học Aurore; sau khi tốt nghiệp
Trường Đà Lạt, Trung Úy Nguyễn Văn Hiếu làm việc nơi Văn Pḥng Tham Mưu Trưởng
Trần Văn Đôn (một người xuất thân trường quân sự Pháp). Và thân sinh, Cụ Nguyễn
văn Hướng là Giám Đốc Công An Bắc Việt thời trước 1954 - Những yếu tố nầy chắc
chắn không phải là những điều chính phủ, Ṭa Đại Sứ Pháp ở Sài G̣n không quan
tâm với sự biệt đăi, đánh giá cao. Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu khi phỏng vấn các
Hoa Kiều liên quan đến Quỹ Tiết Kiệm Quân Đội đă dùng trực tiếp tiếng Hoa.
Chúng tôi, những người thuộc thế hệ đi sau những nhân sự vừa kể ra trong câu
chuyện bi thiết trên. Chúng tôi lại càng không hề có quan niệm chủ quan, thiên
vị do đă có những tranh đoạt quyền lợi với bất kỳ ai trong câu chuyện kể. Nay
với số tuổi 60, sau một trận biển dâu ba-mươi năm ắt phải hiểu nghĩa Lẽ Thường
của sự sống, cái chết. Thế nên, viết kư sự nhân vật nầy không phải để cáo buộc,
phê phán bất cứ cá nhân nào - Quyền hạn sau cùng ấy thuộc về Dân Tộc-Lịch Sử -
Trước sau, chúng tôi chỉ có tấm ḷng đối với Người Lính Trung Liệt Đă Chết Cùng
Mệnh Nước Điêu Linh nên phải nói thành lời trong nghĩa “Bất B́nh Tắc Minh”.
Phan Nhật Nam