Giải Oan cho QLVNCH
Cho dù 30 năm, hay 100 năm
đà qua, nếu chúng ta c̣n may
mắn ǵủ đuọc hơi thở, củng
không thể nào quên được
nhửng kỷ niệm thương đau,
uất hận cuả ngày này năm nào
cho quê hương thân yêu cuả
chúng ta. Xin gưỉ đến anh
chi một bài viết cuă một
người Mỷ , Ông Harry Noyes,
người có cái nh́n...thiện
cảm về... " Đoàn quân bại
trận chúng ḿnh ". Coi như
một an uỉ dù...quá muộn. Để
thương cho nhưng người bạn,
nhửng chiến hữu đà không
được may mắn đọc bài này.
Trong
suốt quá tŕnh chiến đấu để
bảo vệ đất nước ḿnh, Nam
Việt Nam đă thiệt mất một
phần tư triệu binh sĩ trên
chiến trường. Họ vóc dáng
nhỏ con, nói chuyện líu lo
như chim hót, ưa thêm nước
mắm vào mọi món ăn, và
thường hay nắm tay nhau.
Không lạ ǵ lính Mỹ khi qua
viễn chinh ở vùng Đông Nam Á
- hầu hết đều là trai trẻ,
học thức b́nh thường, được
rập khuôn trong một xă hội
quá cao ngạo và quá ít hiểu
biết về những nền văn hóa
khác – khó ḷng cảm thông
được với những người chiến
binh Miền Nam VN.
Điều đáng tiếc hơn nữa là
nhiều cựu chiến binh lúc trở
về lại đi gia nhập vào hàng
ngủ của những nhóm gây rối,
trốn lính và hoạt đầu chính
trị để bêu xấu danh dự của
một đạo quân nay không c̣n
có thể tự đứng ra bào chữa
được ḿnh. Nhục mạ một đạo
quân đă mạng vong trong
chiến trận do nước Mỹ bỏ rơi
là một hành vi đê tiện,
không xứng danh là người
chiến binh Hoa Kỳ.
Chắc một số người sẽ cho
rằng đ́ều khẳng định của tôi
là quá đáng. Vậy chứ tôi
phải làm thế nào để bào chữa
cho họ đây? Mọi người đều "cho"
họ là một lũ bất tài, phản
trắc và hèn nhát, phải như
vậy không?
Không, hoàn toàn sai. Bài
viết này sẽ trưng ra một vài
chứng cớ hùng hồn để đánh đổ
cái huyền thoại thô bỉ này,
đồng thời cũng sẽ khảo sát
xem do đâu phát sinh ra
huyền thoại ấy.
Dĩ nhiên phải công nhận là
quân lực Nam Việt không toàn
hăo. Người chiến binh của họ
phải chiến đấu với những kẻ
lănh đạo tồi, những quân
nhân hèn nhát, chịu đựng
những cuộc khủng hoảng,
những biến cố tai ương, bất
lợi. Quân lực Mỹ ở Đông Nam
Á cũng không hơn ǵ đâu.
Trên một số phạm vi như cơ
cấu tổ chức, tiếp liệu, quản
trị và lănh đạo, quân lực
Nam Việt thua bên phía Mỹ.
Nhưng có ai trông mong ǵ
khác hơn từ một quốc gia
đang phát triển, mới vừa
thoát khỏi ách thuộc địa lại
phải lao đầu vào một cuộc
chiến sinh tử với một quân
thù hùng mạnh được cả một
khối Cộng Sản hỗ trợ?
Thực tế mà nói, những nhược
điểm của Nam Quân cũng hệt
như của quân Mỹ thời chiến
tranh Độc Lập của Hoa Kỳ
(American War of
Independence) , dù rằng nước
Mỹ hồi cuối thế kỷ thứ 18 có
nhiều điểm thuận lợi như:
cái qui mô của cuộc Chiến
Tranh Cách Mạng
(Revolutionary War) nhỏ hơn
và dễ chi phối hơn; quá
tŕnh thuộc địa Hoa Kỳ đă
giúp h́nh thành được những
chính quyền tự phát địa
phương, cho phép đất nước
này hun đúc nên những vị
lănh tụ tài ba thật sự; quân
Anh không quá ngoan cố như
quân BV; và quân đồng minh
Pháp thời bấy giờ đă không
bỏ rơi nước Mỹ non trẻ như
kiểu người Mỹ bỏ rơi Nam
Việt Nam.
Nhưng dù sao chăng nữa, cơ
cấu tổ chức, tiếp liệu, quản
trị và ngay cả lănh đạo đi
chăng nữa vẫn chưa phải là
những phẩm chất để dựa vào
đó mà phỉ báng quân lực Nam
Việt.
Có hai câu hỏi đánh động
đến đề tài tranh cải. Phải
chăng người chiến binh Nam
Việt thiếu chí khí, ḷng quả
cảm, sự can trường và ḷng
ái quốc mà người Mỹ đă nêu
ra trong lời miệt thị và gán
lên đầu họ mọi trọng tội v́
đă đánh mất cái giá tự do
của vùng Đông Nam Á? Quân Mỹ
có khá ǵ hơn đồng minh của
ḿnh để dám khinh khi họ như
vậy? Trả lời cho cả hai câu
hỏi, tôi xin trân trọng
khẳng định là "Không!"
Chứng cớ quá
rơ ràng. Trận Tổng Công Kích
Tết 68 coi như sẽ đập tan
được ư chí chiến đấu của Nam
Việt. Thay v́ bỏ cuộc, quân
NV đă kháng cự mănh liệt và
hữu hiệu: không một đơn vị
nào tan ră hay tháo chạy.
Ngay cả cảnh sát cũng chiến
đấu, họ đương đầu với quân
chính qui đối phương trang
bị bằng vũ khí hùng hậu với
chỉ bằng những khẩu súng
Colts. Dựa theo báo cáo, sau
trận này số người xin đăng
lính cao đến nỗi chính quyền
của quốc gia này phải đ́nh
hoản bớt việc thu nhận thêm
tân binh.
Trong cuộc
Tổng Tấn Công năm 72, quân
trú pḥng NV bị vây hăm tại
An Lộc đă giữ vững được vị
trí của ḿnh trước một lực
lượng ghê gớm của quân thù
cả về người lẫn hỏa lực kinh
hồn của đại pháo và hỏa tiễn.
Sau trận này tôi được tiếp
xúc với một cố vấn Mỹ để
nghe tường thuật lại mẫu
chuyện một tiêu đội lính NV
trong vùng được cử công tác
thanh toán ba chiến xa, đă
hành động như thế nào. Họ
chu toàn nhiệm vụ hạ được
một chiếc, rồi quyết định
t́m cách bắt sống hai chiếc
c̣n lại. Theo tôi nhớ th́ họ
chộp được một chiếc c̣n một
chiếc bỏ chạy, thế là mấy
người lính chạy bộ rượt theo
đến cuối đường. Việc thi
hành thượng lệnh của mấy
người lính này có thể không
đúng tác phong quân kỷ,
nhưng lối hành xử cho thấy
tinh thần chiến đấu cao và
thế chủ động mà mọi binh sĩ
NV đều có. Dĩ nhiên điều tôi
kể chưa đủ để bào chữa được
cho lời tố giác tội hèn nhát.
Để minh chứng
hơn, hăy nh́n vào Nam Việt
Nam ở thời điểm cuối cùng
vào năm 1975 khi đất nước
này đang trong t́nh trạng
tuyệt vọng khi biết rơ Mỹ
không ra tay cứu giúp nữa (cả
nhiên liệu lẫn đạn dược).
Thế mà một đơn vị NV tầm cở
một sư đoàn đă cầm chân được
bốn sư đoàn BV trong suốt
hai tuần giao tranh ác liệt
tại Xuân Lộc. Chỉ riêng một
trận này thôi sự anh dũng
c̣n nổi bật hơn bất kỳ một
chiến công nào có thể t́m
thấy trong chiến sử Hoa Kỳ.
Quân NV sau đó đành phải lui
binh v́ không quân của họ
không c̣n bom để yểm trợ
chiến đấu.
Có lần tôi xem
được một phim tài liệu
truyền h́nh do một phóng
viên người Úc quay tường
thuật về cuộc chiến. Khác
với các phóng viên HK, anh
ta dành hết thời gian bên
cạnh các binh sĩ NV. Anh ta
ghi rơ tinh thần chiến đấu
của Nam quân bằng những
thước phim của ḿnh. Anh c̣n
kể rằng anh từng ghé qua một
làng do địch kiểm soát và
nghe nói lại rằng lính CS
c̣n sợ lính NV hơn cả lính
Mỹ. Lư do chính là lính Mỹ
bao giờ cũng ồn ào, nên khi
nào lính Mỹ đến là họ biết
ngay. Chỉ vậy thôi th́ có ǵ
họ phải kinh sợ nếu quân NV
không là những chiến binh
nguy hiểm.
Tuy vậy, chứng
cớ quan trọng nhất chứng tỏ
ư chí chiến đấu của quân
nhân Miền Nam đến từ hai sự
kiện hiển nhiên, những sự
kiện vốn thường hay bị lăng
quên hoặc che dấu để che đậy
sự thất bại của người Mỹ ở
Việt Nam.
Sự kiện thứ nhất:
Chiến tranh VN đă khởi sự
đâu đó bảy năm trước khi lực
lượng chính của Hoa Kỳ đổ
đến và sau đó lại tiếp tục
thêm chừng năm năm sau khi
quân Mỹ rút ra. Trong khoảng
đó phải có ai đó đang chiến
đấu mà kẻ đó là người Miền
Nam chứ c̣n ai khác hơn.
Sự kiện thứ hai:
Quân đội NV thiệt mất một
phần tư triệu binh sĩ trên
chiến trường. Theo tỉ lệ dân
số th́ tương đương hai triệu
lính Mỹ chết (một con số gấp
đôi tỗn thất của Mỹ trong
tất cả các chiến tranh gộp
lại). Cho rằng người ta
không chịu chiến đấu th́ sao
họ lại chết nhiều như vậy.
Vậy th́ do đâu
mà NV phải chịu mang tai
tiếng xấu?
Dĩ nhiên có lúc
họ tỏ ra bất tài và hoảng
loạn. Lính Mỹ cũng vậy thôi.
Tôi biết một câu chuyện qua
một đơn vị trưởng pháo binh
HK rằng khi hay tin đại đội
bộ binh bảo vệ ḿnh bị địch
đánh tan tành, các pháo thủ
đâm hốt hoảng bắn loạn xạ
khiến đám quân yểm trợ này
hoảng loạn chạy có cờ giữa
hai lằn đạn.
Một biến cố đơn
thuần đó không thể đem ra mà
gán cho cả quân lực HK là
hèn nhát th́ thỉnh thoảng có
sự tan hàng của người đồng
minh của nước Mỹ cũng không
có nghĩa là tất cả chiến
binh Miền Nam là hèn. Thế mà
có kẻ lại suy nghĩ như vậy,
qua cách nói bởi một số cựu
chiến binh, bởi những chính
trị gia muốn bào chữa cho
một chính quyền Mỹ đă để cho
Nam VN bị suy vong.
Sự thật được
minh bạch hơn qua mẫu đối
thoại sau đây phát xuất từ
hai thế kỷ trước, khi một
phụ nữ Anh hỏi viên công
tước xứ Wellington rằng lính
Anh có bao giờ bỏ chạy trên
chiến trường không.
Viên công tước
đáp, "Ngoài chiến trường
người lính nào cũng có bỏ
chạy cả, thưa bà."
Một nghiên cứu
qua loa trong quân sử cũng
xác minh được điều này.
Những trận đánh thời Nội
Chiến (Civil War) cho thấy
sự can trường lẫn sợ hăi
liên tục khi lên khi xuống,
cả những đơn vị phe
Confederate lẫn Union thoạt
đầu xông pha rất hăng hái,
sau đó co cụm lại rồi bỏ
chạy trước hỏa lực kinh hồn
trước khi tập hợp lại tiếp
tục chiến đấu. Chưa có đạo
quân nào tự cho ḿnh có
nhiều hành động hy sinh anh
hùng bằng hai đạo quân này,
tuy nhiên họ cũng có lúc
chạy tán loạn nơi một chiến
trường quá đẫm máu.
Văn sĩ S. L. A.
Marshall mô tả sự hoảng hốt
bỏ chạy của một đơn vị bộ
binh HK thời Đệ Nhị Thế
Chiến khi quân cảm tử Nhật
vừa tấn công vừa ḥ hét. Đơn
vị thứ hai nằm lại quyết
chiến và nhanh chóng tiêu
diệt hết đám quân Nhật
(chừng 10 tên) và vở lẽ ra
là đa số bọn chúng không có
vơ khí.
Nếu sự việc
tương tự xảy đến với một đơn
vị Nam Việt, những tên tự
xưng là học giả uyên thâm
lập tức ra rả lập đi lập lại
rằng ấy là chứng cớ rành
rành về hành động khiếp
nhược của quân đội Miền Nam.
Tại sao vậy?
Chúng ta ắt đă ngầm có câu
trả lời rồi. Mọi sự c̣n tùy
là cái quân đội đó thuộc
chủng tộc ǵ, nói thứ ngôn
ngữ nào. Sự thật đốn mạt là
cái quân đội Nam Việt phải
chịu mang tai tiếng xấu bắt
nguồn từ ḷng kỳ thị chủng
tộc lẫn tinh thần sô-vanh
nước lớn của người Mỹ.
Tôi xin tự minh
chứng về khuynh hướng bóp
méo sự thật vốn tràn lan
rộng khắp. Lúc vừa mới đặt
chân đến Nam VN vào tháng
Sáu năm 1969, lập tức tôi
được chứng kiến những trường
hợp bày tỏ thái độ ngu dốt
và khinh miệt của một số
người Mỹ dành cho người dân
cũng như quân đội quốc gia
này.
Các binh sĩ Mỹ
trắng cũng như đen, luôn cả
những người trong các dịch
vụ thuộc dân sự như truyền
thông báo chí thẩy đều như
nhau. Thái độ căm ghét này
dành cho xứ sở cùng dân tộc
VN kinh khiếp thay lại có
một sức mạnh truyền nhiễm
kinh hồn.
Một viên đại úy
Mỹ tôi được biết có tŕnh độ
tốt nghiệp đại học về ngành
điện ảnh từ một trường có
tiếng tăm (coi như họ được
đào tạo để có cái nh́n
chuyên môn hơn người
thường). Có lần anh ta sau
công tác tạm thời ở Thái Lan
trở lại VN đă hết lời ca
ngợi dân Thái.
"Dân Thái người
ta họ cho con đi học đàng
hoàng," anh ta nói, "khác
với tụi nhỏ con của người
Việt ở đây" . Khi tôi chỉ
cho anh ta thấy không đâu xa
mà ngay kế bên căn cứ c̣n có
một trường học th́ anh ta
ngạc nhiên nhưng không hề tỏ
ra ân hận về nhận xét của
ḿnh. Hằng trăm trẻ nhỏ
trong đồng phục quần xanh áo
trắng cắp sách đến trường
mỗi ngày mà bất cứ ai có mắt
đều nh́n thấy. Vậy mà tên
làm phim này lại không.
Chua chát thay,
dân VN vốn quí trọng sự học
c̣n hơn dân Mỹ, họ đă nâng
tŕnh độ người đi học từ 20
lên đến 80 phần trăm dù
chiến tranh đang dày xéo
chung quanh (dù ngay cả các
giáo viên vẫn thường xuyên
bị sát hại bởi đối phương).
Vậy mà vẫn c̣n bị tên làm
phim này gán cho cái tội là
một xứ sở không trường không
lớp.
V́ phải viễn
chinh nơi một xứ sở xa lạ,
xa gia đ́nh, người Mỹ này đă
tự hun đúc cho ḿnh một ḷng
thù ghét đất nước VN, hắn
muốn tin rằng người Việt là
đáng khinh. Do vậy, điều
quan trọng đối với hắn là
phải tin tưởng rằng người
Việt không có trường học
dành cho con cái họ; và
chính cảm xúc đó làm mù đi
thị giác của hắn.
Hăy nghĩ tưởng
đến cảm tưởng của khối quân
Mỹ ít học thức hơn khi phải
trực diện với nền văn hóa xa
lạ trong một môi trường đầy
căng thẳng! Có lẽ ta không
nên đổ lỗi cho các binh sĩ
ấy về thái độ kém cơi của
ḿnh. Trời đất c̣n biết là
giới chỉ huy HK chỉ nổ lực
qua loa để giáo dục cho binh
sĩ ḿnh về đất nước VN và
tính chất của cuộc chiến.
Tuy vậy, đó
không phải là lư do để bào
chữa cho các cựu chiến binh
giả vờ cho là ḿnh hiểu về
những ǵ ḿnh thấy ở VN. Ta
phải tri ân các cựu chiến
binh chiến tranh VN về đức
tính quả cảm, sự hy sinh và
ḷng trung thành đối với tổ
quốc. Nhưng tính quả cảm và
sự hy sinh không đi đôi với
sự hiểu biết. Chiến đấu ở VN
không làm cho người lính
thành những chuyên gia về
đất nước hay cuộc chiến đó,
cũng như có con không phải
làm cho người mẹ trở thành
một chuyên gia về khoa phôi
thai (embryology) .
Những ǵ người
lính Mỹ làm ở VN không dạy
cho họ chi hơn về nền văn
hóa, xă hội, chính trị, vân
vân và vân vân của Nam Việt.
Một ít người Mỹ có học lỏm
bơm được vài tiếng Việt;
ngay cả có một vài đọc được
sách báo VN; và chẳng bao
nhiêu người đọc sách vở viết
về xứ sở Việt Nam bằng Anh
ngữ.
Ngoại trừ các cố
vấn, ít người Mỹ nào làm
việc gần gũi với những người
Việt, có chăng họ có chung
đụng với những người làm thư
kư, giặt giũ, và nữ hầu bàn
do quân đội HK mướn.
Điều quan trọng
hơn cả là ít quân nhân HK
nào từng chứng kiến sự chiến
đấu của binh sĩ NV. Ít ai có
bao giờ xét đến thái độ khác
biệt hiện hữu trong tâm tư
những chiến binh nơi chiến
trường ấy, quân Mỹ sang
chiến đấu một năm rồi về, họ
yên tâm là gia đ́nh họ đều
đang b́nh yên ở nơi chính
quốc; trong khi người lính
Miền Nam th́ khác, hằng ngày
họ phải lo lắng cho sự an
nguy của gia đ́nh ḿnh, họ
thừa hiểu rằng chỉ có cái
chết hay chỉ có bị thương ở
mức độ tàn phế họ mới ra
khỏi được đời sống quân ngủ.
Đương nhiên người Việt ắt
phải dùng một thước đo riêng
để quyết định cái ǵ là quan
trọng hơn để chiến đấu.
Giới nhà báo
không khá ǵ hơn. Thử xét
xem về một cuộc tường thuật
truyền h́nh thiên vị mà tôi
đă được xem trong đó người
phóng viên tố giác không
quân NV mặc dù đă Việt Nam
Hóa chiến tranh, đă không
chịu bay, để cho KQ HK phải
lănh những sứ mạng nguy hiểm
chống lại BV.
Nói cho đúng th́
chính HK không chịu để cho
NV bay ra Miền Bắc (ngoại
trừ một vài phi vụ trong
thời gian mở màng của các
cuộc dội bom). Giới lănh đạo
HK muốn kiểm soát việc ném
bom v́ có thế HK mới có thế
dùng nó như một công cụ để
mặc cả trong bàn thương
thảo.
Bởi không muốn
NV xen vào việc ném bom, HK
cố ư chuyển giao cho NV
những trang bị không thích
hợp cho các phi vụ đánh phá
Miền Bắc. Nam Việt không có
phi cơ chiến đấu, vũ khí,
máy bay tiếp tế xăng trên
không, hoặc cả những thiết
bị điện tử cấn thiết cho
những phi vụ ấy. Chính người
Mỹ đă quyết định làm như
vậy.
Người phóng viên
nêu thắc mắc kể trên hoặc đă
quá khờ khạo hoặc đă chọn sự
tảng lờ để thực thi hành
động báng bổ người đồng minh
của HK. Căn cứ vào những lời
lẻ vu khống cùng giọng điệu
om ṣm, tôi đi tới kết luận
là sự thiếu kiến thức của
anh ta hoàn toàn do cố ư.
Một dẫn dụ khác
về tính thiên vị của giới
truyền thông là vào thời
điểm Khe Sanh bị bao vây.
Nếu ta hỏi một ngàn người Mỹ
có đơn vị tham chiến ở Khe
Sanh, hầu hết ai nghe nhắc
đến trận ấy hẳn đều biết
TQLC Mỹ chiến đấu ở đó.
Nhưng nếu có hơn một người
trong số một ngàn người đó
biết có một tiểu đoàn BĐQ NV
cũng đă san sẻ sự cam khổ ấy
th́ quả là điều đáng ngạc
nhiên. Trong khi ấy c̣n có
những đơn vị NV khác cũng dự
phần vào những cuộc hành
quân yểm trợ bên ngoài căn
cứ đang bị vây hăm này. Báo
chí Mỹ coi đồng minh của HK
như không đáng để tường
thuật đến trừ khi họ phạm
điều ǵ ô nhục, v́ thế những
chiến sĩ chiến đấu can
trường kia trở nên những
người hùng vô h́nh tại Khe
Sanh.
Sự thiên vị này,
lính Mỹ lẫn giới truyền
thông HK đă đồng ca rơ rệt
khi tường thuật về cuộc hành
quân bất ngờ vào lănh thổ
Lào năm 1972.
Thử xem lại một
tài liệu truyền h́nh được
đưa ra một thập niên trước
đây. Tài liệu này bao gồm
cuộc phỏng vấn một số binh
sĩ Mỹ trong khi chiến trận
tại Lào đang diễn ra. Những
quân nhân HK này, đứng b́nh
yên bên lănh thổ NV, có
những lời nhận xét cay độc,
kỳ thị dành cho các binh sĩ
NV đang chiến đấu ở bên kia
biên giới. Người phóng viên
truyền h́nh này bày tỏ rằng
lính Mỹ hiểu rơ t́nh h́nh
hơn các tướng lănh của họ.
Cuộc tấn công
lên đất Lào dĩ nhiên là
nguồn gốc của bức h́nh nỗi
tiếng cho thấy h́nh ảnh một
người lính NV đang đeo trên
càng một phi cơ trực thăng
để t́m cách vượt thoát. H́nh
ảnh này được liên tục tung
ra trước công chúng Mỹ như
là "chứng cớ" cho thấy người
Miền Nam là đáng khinh tởm.
Quả thực đây là
một thủ thuật xưa như trái
đất để xuyên tạc sự thật
bằng sức mạnh của h́nh ảnh.
Những ǵ xảy ra bấy giờ đúng
ra là như vầy: Quân NV gặp
phải lực lượng đông đảo của
đối phương trong khi quân Mỹ
không yểm trợ được như đă
hứa v́ hỏa lực pḥng không
của địch quá mạnh. Có nhiều
báo cáo cho biết phi hành
đoàn trực thăng phải đạp
những két đạn đại bác xuống
đầu các đơn vị NV từ độ cao
5000 bộ trở lên chỉ với hy
vọng quân NV sẽ nhận được.
Các phi cơ này quả t́nh là
không dám xuống thấp hơn.
Trong phạm vi
vấn đề này, thử xem nhận xét
của một sĩ quan HK, Đại Tá
Robert Molinelli, người đă
mục kích tận mắt, được đăng
tải trong Armed Forces
Journal (Tập San Quân Đội)
số ngày 19 tháng Tư, 1971
như sau: "Một tiểu đoàn NV
gồm 420 người bị bao vây bởi
một trung đoàn đối phương
đông đến từ 2500 đến 3300
quân trong suốt ba ngày
ṛng. Phía HK không thể nào
tăng viện cho đơn vị này. Họ
phải chiến đấu đến gần cạn
kiệt hết đạn dược mới bắt
đầu phá ṿng vây với vũ khí
và đạn dược thu được của
địch quân. Đơn vị này c̣n
mang theo những đồng đội bị
thương cũng như đă chết.
H́nh ảnh phi cơ trinh sát
chụp được cho thấy rải rác
chung quanh đơn vị này là
xác của 637 quân địch.
Đơn vị này chỉ
c̣n 253 người trong t́nh
trạng khả thi chiến đấu khi
họ chạy đến được một đơn vị
NV khác. Một số ít trong số
17 kẻ hoảng sợ đă bám càng
trực thăng để thoát thân. Số
c̣n lại, tất cả đều không.
Giờ đây, chắc có
người cho rằng đeo càng trực
thăng để thoát cho nhanh, dù
rằng dễ làm mồi cho hỏa lực
pḥng không mà phi cơ lại
bay cao và nhanh. Nhưng
ngoài chuyện ấy ra, một
trường hợp cá biệt, việc lui
binh trong khi đang giao
chiến ác liệt (một chiến
thuật khó khăn nhất trong
binh pháp) lại bị phóng đại
thành một lời buộc tội cho
cả một quân đội, một quốc
gia và tệ hơn nữa cả một dân
tộc?
Câu trả lời rằng
đó là do chính ḷng kỳ thị
chủng tộc. V́ lẽ những người
bám càng trực thăng là người
ngoại chủng. Thử hỏi kẻ đó
là người Mỹ hay người Anh
th́ sao, cam đoan không sai
rằng ta sẽ cảm thông cho là
người đó đang phải chịu hoàn
cảnh nghiệt ngă.
Minh chứng cho
điều này có thể thấy người
Mỹ đă phản ứng như thế nào
đối với lính Anh trước cuộc
triệt thoái của họ hồi thời
gian đầu Thế Chiến Thứ Hai.
Nơi đây cũng có
những h́nh ảnh tủi hổ xảy
đến cho lính Anh ở Dunkirk
cũng như tại một số nơi
khác. Ở Dunkirk một hạ sĩ
quan để tái lập trật tự phải
chĩa súng đại liên vào đồng
ngủ của ḿnh đang hốt hoảng
trèo lên tàu. Trên một tàu
khác, các binh sĩ dùng báng
súng dộng liên hồi vào người
một sĩ quan để ngăn không
cho ông này leo lên tàu qua
ngỏ tháp súng. Tại đảo
Crete, một lữ đoàn quân Tân
Tây Lan đă tạo một ṿng đai
an toàn với lưỡi lê chĩa ra
ngoài ngăn không cho các
quân Anh đang hoảng loạn
tràn ngập lên được tàu ḿnh.
Tuy thế, h́nh
ảnh nước Anh đơn độc chống
lại Hitler năm 1940 lại là
một h́nh ảnh hào hùng. Điều
này được minh chứng bởi sự
kiện hoàn toàn hiển nhiên,
ngay cả những biến cố đơn lẻ
như vừa nêu bật ở trên vẫn
không làm lu mờ được cái
h́nh ảnh toàn cảnh về đức
tính can trường và xả thân
cứu nước của dân tộc này.
Quả thật quân
Nam Việt đă tỏ ra xuất sắc
vào những ngày cuối cùng của
Miền Nam qua sự bảo vệ Xuân
Lộc vô cùng anh dũng.
Tuy rằng có
nhiều lư do như vậy. Thẳng
hoặc có nhiều lư do để tin
rằng, nếu có sự ủng hộ trung
thành của phía người Mỹ ắt
Nam Quân sẽ chứng tỏ cho thế
giới thấy thêm nhiều Xuân
Lộc khác nữa, và có lẽ họ
cũng đă cứu được đất nước họ
không bị mất.
Vấn đề được nêu
ra không phải là khả năng
chiến đấu của quân Nam Việt
như thế nào nhưng mà xét xem
người Mỹ sẽ hành xử ra sao
nếu t́nh huống tương tự xảy
đến với họ.
Sự thật là quân
Mỹ nếu bị HK bỏ rơi như
chính NV đă phải chịu, có lẽ
họ cũng sẽ không khá chi
hơn.
Hăy nhớ rằng:
năm 1974 Hoa Kỳ đă cắt viện
trợ cho Nam Việt một cách
thê thảm một vài tháng trước
khi đối phương mở cuộc tấn
công sau cùng. Kết quả của
sự cắt viện trợ là chỉ một
ít nhiên liệu và đạn dược
gửi sang cho Miền Nam. Các
phương tiện để vận chuyển cả
trên không lẫn trên bộ đều
phải bị bỏ xó v́ không có cơ
phận thay thế. Quân lính NV
đi hành quân không có b́nh
điện để liên lạc vô tuyến, y
tá trên chiến trường không
có đủ y dược cụ căn bản.
Trong những ngày tháng sau
cùng của cuộc chiến, quân
Nam Việt phải chiến đấu thắc
lưng buộc bụng, họ được phép
bắn ba viên mỗi ngày, khẩu
phần này áp dụng cho cả súng
trường lẫn đại bác.
T́nh trạng tồi
tệ đến nỗi ngay chính Văn
Tiến Dũng, người chiếm được
Miền Nam cũng chấp nhận sự
thật là khả năng lưu động và
hỏa lực của đối thủ của ḿnh
chỉ c̣n phân nửa trước đây.
Vậy th́ ngoài sự thiếu thốn
vật chất này ra, sự chiến
đấu kiểu nhà nghèo này cũng
tác động lớn lên tinh thần
chiến đấu của người lính NV.
Quân BV với
trang bị đầy ắp, với những
chiến xa tối tân, với những
xe cơ giới chở quân hiện
đại, họ đă đánh thẳng vào
Miền Nam suy sụp này bằng
cuộc tấn công phủ đầu.
Phải, quân NV đă
gát lại, đă vứt bỏ chiến cụ
(không vứt cũng coi như vứt
v́ có cơ phận đâu mà thay),
cả đạn dược cũng bị bỏ lại
(số lượng mà họ đă chắt chiu
dành dụm được, mang theo đến
phút cuối cho tới lúc biết
là đă quá muộn màng rồi
không có cơ hội để bắn hay
mang theo được nữa, họ thừa
biết họ sẽ không bao giờ có
thêm để mà bắn). Vậy th́ lỗi
nơi ai? Họ hay người Mỹ?
Phải, quân NV đă
triệt thoái khỏi các tỉnh
phía bắc một cách vụng về và
khá muộn màng, đưa đến t́nh
trạng hỗn loạn và suy sụp.
Nhưng làm thế nào chính
quyền Miền Nam có thể bỏ mặc
dân chúng sớm hơn được,
trước khi áp lực địch quá
lớn buộc họ phải làm thế?
Đă có lúc Nam VN
hy vọng B-52 trở lại để giúp
họ chặn bớt làn sóng xâm
lăng của Cộng Sản. Khi biết
rằng điều ấy sẽ không xảy
đến, tinh thần chiến đấu của
họ bị suy sụp cũng không có
ǵ đáng ngạc nhiên.
Không c̣n nhuệ
khí chiến đấu, nhiều binh sĩ
quay ra đào ngủ - làm thế
không phải v́ họ hèn nhát
hay không có tinh thần hy
sinh để bào vệ đất nước
ḿnh, nhưng v́ họ không muốn
xả thân cho một sự nghiệp
biết chắc là đang trên đà
phá sản trong khi gia đ́nh
họ đang khẩn thiết cần đến
ḿnh.
Quân Mỹ liệu sẽ
làm ǵ khá hơn được chăng
nếu cũng lâm vào t́nh huống
như Nam VN hồi 1975? Liệu
quân Mỹ có chiến đấu ngon
lành với quân xa, truyền tin
đều hỏng, hệ thống quân y
què quặc, thiếu thốn nhiên
liệu và đạn dược, và không
yểm th́ nhỏ giọt hoặc hầu
như không có. Với một t́nh
trạng bết bát như thế mà
phải đối đầu với một kẻ địch
có quyết tâm cao, hùng mạnh,
trang bị tối tân, sung măn.
Tôi e là không thắng nổi.
Liệu NV có thắng
được trận 1975 nếu chính phủ
Mỹ vẫn giữ vững sự cam kết,
và tiếp tục chi viện cho NV
không kém với chi viện mà
khối CS dành cho Miền Bắc?
Câu trả lời là
không biết được. Ít ra họ có
một cơ hội để đọ sức, cái cơ
may mà người Mỹ phản trắc đă
tước mất của họ. Hiển nhiên
là họ có thể chiến đấu hữu
hiệu hơn. Cho dù họ có bại
trận họ cũng ngă gục một
cách hào hùng trong một trận
đánh lưu danh muôn thuở cho
hậu duệ, để tiếp tục chiến
đấu dưới h́nh thức du kích
chiến rập khuôn theo kiểu
Afghanistan.
Cho dù NV có đại
bại, sự ủng hộ hết ḿnh của
Hoa Kỳ ít ra cũng khiến họ
có thể nhún vai mà nói rằng
dù sao họ cũng đă giúp đở
hết ḿnh rồi. Đằng này người
Mỹ chưa có hết ḿnh giúp đở.
Những kẻ nào muốn trốn tránh
sự thật ấy bằng cách quay ra
báng bổ NV và quân đội ấy là
không phải lẽ.
Trước một tội ác
tày trời bỏ mặc cho nhân dân
Miền Nam rơi vào tay CS,
người Mỹ sau này quay ra đi
làm điều tốt kể ra đă quá
muộn màng. Nhưng nếu biết
nh́n lại và công nhận ḿnh
đă sai lầm khi sĩ nhục lương
tâm của người Miền Nam ấy
th́ chưa có muộn đâu. Cũng
chưa muộn màng ǵ nếu ta
biết khởi đầu vinh danh đúng
mức những thành tích họ đă
đạt được cùng những hành
động hào hùng họ đă tạo nên
để bảo vệ cho lư tưởng tự
do./.

|
|