(Lời giới thiệu:
Đại tướng Louis C. Wagner Jr., khi c̣n là sĩ quan cấp tá,
giữ chức vụ cố vấn trưởng các đơn vị Bộ Binh và Thiết Giáp
Việt Nam Cộng Ḥa tại Vùng 1 Chiến Thuật trong hai nhiệm kỳ,
ông có cái nh́n về Quân lực Việt Nam Cộng Ḥa rất rơ-ràng.
Trong Lời Nói Đầu của cuốn STEEL and BLOOD, South
Vietnamese Armor and the War for Southeast Asia do Naval
Institute Press xuất bản vào tháng 10-2008, Tướng Wagner đă
hết lời ca ngợi các chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa và thẳng thắn
nhận định về khả năng tác chiến của quân đội Nam và Bắc Việt
Nam, đồng thời ông cũng khách quan kể lại những ǵ ông đă
ghi nhận được trong thời gian phục vụ tại Nam Việt-Nam.
Nhân ngày Quân Lực 19-6-2008, chúng tôi trân trọng phổ biến
tài liệu này đến quư chiến hữu.
Hà-Mai-Việt, sọan-giả Steel and Blood.)

Đại-tướng Wagner nói:
|
 |
|
Tướng Wagner và
b́a sách. |
Hầu hết các cuộc chiến-tranh đều được một số sách, nhiều
bất-tận, theo sau, bàn về những kỳ công và hùng khí của
những người đă từng vào sinh ra tử. Chỉ cần nhắc đến trường
hợp Thế Chiến II: Số sách liên quan đến cuộc chiến tranh này
hiện vẫn được tiếp tục viết ra theo một tốc độ kinh-ngạc.
Nhưng trường hợp cuộc chiến của chúng ta, lâu dài nhất tính
đến nay, là chiến-tranh Việt-Nam, th́ lại không như vậy. Tuy
đă có một số sách viết về vai-tṛ của Quân Lực Hoa Kỳ trong
cuộc chiến tranh này, nhưng chính v́ cái bản chất thất nhân
tâm của cuộc chiến mà phần lớn tác phẩm đă không thể hiện
chính xác được thực tại chiến-tranh, như hàng triệu nam nữ
quân nhân Hoa Kỳ đă cảm nhận rơ v́ họ đă phục vụ tại đó.
Kể ra đă có hàng triệu người Việt Nam luôn nêu cao danh dự,
phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa suốt cả thời chinh
chiến, nhưng số người viết th́ không nhiều, mà lại viết quá
ít về quân vụ của chính họ. Hậu quả là hiện có nhiều kẻ vẫn
tin rằng quân sĩ Việt Nam đă không quyết tâm chiến đấu để
bảo vệ tự do cho quê hương. Nhận thức tai hại này vẫn tồn
tại ngay cả trong số đông các cựu chiến binh Hoa-Kỳ có mặt
trong chiến tranh Việt Nam, nhưng đă không cùng hoạt động
song hành hoặc phục vụ bên cạnh các đơn vị của Quân Lực Việt
Nam Cộng Ḥa.
Đại tá Hà Mai Việt đă viết xong một cuốn lịch sử tuyệt vời,
đề cập đến thành phần quan trọng của Quân Lực Việt Nam Cộng
Ḥa. Đó là lực lượng Thiết Giáp. Việc sưu tập tài liệu và
viết ra một cuốn sách không dễ dàng. Bởi lẽ chỉ có một số ít
sử liệu của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa liên quan tới cuộc
chiến tranh lâu dài trước kia c̣n sót lại sau khi Bắc Việt
đă xâm chiếm Nam Việt-Nam. Do đó, Đại tá Việt đă phải bỏ ra
tám năm trường, làm việc cực nhọc, đi hàng ngàn dặm, để truy
tầm tin tức và phỏng vấn nhiều người, cố công phục hoạt cho
bằng được một cuốn lịch sử nói về các đơn vị Thiết Giáp
thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Tác phẩm của ông độc đáo ở
chỗ này: Nó không những chỉ tŕnh bày khía cạnh tốt đẹp, mà
c̣n nói cả đến những cái yếu kém của đơn vị Thiết Giáp, và
của cấp chỉ huy Thiết Giáp. Ông thuật chuyện điềm nhiên,
trung thực. Khi đơn vị hoặc cấp chỉ-huy thi hành tốt đẹp,
th́ ông kể lại rơ ràng và c̣n giải thích tại sao; khi họ
thất bại, ông cũng mô-tả ra. . . Quả thực họa hoằn lắm mới
thấy được tính cách ấy trong một cuốn lịch sử chiến tranh.
Sở dĩ tôi có được cái nh́n bao quát về Quân Lực Việt Nam
Cộng Ḥa mà nhiều người khác không sao có được, v́ chính
tôi đă từng phục vụ qua hai nhiệm kỳ với tư cách cố vấn
trưởng cho các đơn vị tác chiến Việt Nam. Trong giai đọan
1964-65, tôi làm cố vấn trưởng cho trung đoàn 5, thuộc
sư-đoàn 2 Bộ-Binh của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa. Trong
giai-đoạn này, trung đoàn 5 liên miên đụng trận nặng nề với
các đại đơn vị được huấn luyện và trang bị tốt của Việt-Cộng
tại mấy tỉnh ở phía Bắc. Khu vực này kể từ năm 1965 về sau,
là vùng hành quân của thủy quân lục chiến Hoa Kỳ. Trung đoàn
5 lúc ấy được chỉ huy tốt, nhưng trang bị kém v́ phải
xử-dụng các loại vũ khí cũ rích, và gần như không có hỏa lực
pháo binh yểm trợ. Nhưng bất kể t́nh huống đó, quân sĩ của
Trung đoàn này chiến đấu giỏi mặc dù phải chịu đựng nhiều
thương vong.
Trong những năm 1971-72, tôi đă làm cố vấn trưởng cho trung
đoàn 51 bộ binh và lữ đoàn 1 kỵ binh, và cũng ở tại mấy tỉnh
phía Bắc. V́ đă có kế hoạch Việt Nam Hóa chiến tranh kể từ
năm 1969, cả hai đơn vị này đều được trang bị vũ khí và quân
dụng ngang hàng với các lực lượng Hoa Kỳ, ngoại trừ pháo
binh và không-quân. Sự kiện nâng cấp này đă tạo ra một khác
biệt lớn lao xét về hiệu năng tác chiến. Lớn lao đến nỗi khó
tưởng tượng được trừ phi đă từng phục vụ với Quân Lực Việt
Nam Cộng Ḥa trong cả hai giai đoạn kể trên.
Tôi sẽ không xoáy sâu vào cuộc tấn công mùa Phục Sinh của
Bắc Việt năm 1972, bởi lẽ trận chiến này đă được gói ghém,
tŕnh bày đầy đủ trong cuốn sách này rồi. Tôi chỉ muốn nói
thêm rằng đại đa số các đơn vị Việt Nam Cộng Ḥa mà tôi đă
phục vụ đều đă chiến đấu giỏi. Luôn luôn bị địch quân đông
gấp bội tấn công, họ vẫn ngăn chặn và sau cùng đánh bại cái
đội quân trang bị và huấn luyện tốt của Bắc Việt. Không lực
Hoa Kỳ, được các sĩ quan cố vấn Lục quân và Thủy quân Lục
chiến Hoa-Kỳ phối hợp, đă giữ một vai tṛ chủ chốt trong sự
thành-công. Bù đắp cho những khiếm khuyết về trang bị trong
ngành pháo binh và không quân Việt Nam. Điều này nói lên đặc
tính của các đơn vị tác chiến thuộc Nam Việt Nam thời bấy
giờ.
Buồn thay, chính v́ cái t́nh cảm phản chiến tại đất nước
chúng tôi mà Quốc Hội đă cắt giảm viện trợ dành cho Nam Việt
Nam giữa lúc Liên Sô đang chỉnh trang và tiếp vận ồ ạt cho
Bắc Việt. Quân Bắc Việt được bồi dưỡng xong xuôi, đă xâm
chiếm và đánh bại Nam Việt Nam vào năm 1975. Nhiều chiến hữu
Nam Việt Nam của tôi đă chết trong cuộc chiến đó hoặc đă bị
giam-cầm suốt nhiều năm dài, độc ác tại những nơi được gọi
là các "Trại Cải tạo". Đó là thời gian thuộc về lịch sử của
quê hương chúng tôi, mà tôi không thể hănh diện được.
Câu chuyện trong cuốn Thép và Máu là câu chuyện cần được kể
ra. Tôi hy vọng nó sẽ gây cảm hứng cho nhiều cựu quân nhân
khác lên tiếng thêm và trưng ra thêm bằng chứng nhằm chống
lại những huyền thoại hiện hữu, tai ác, xúc phạm đến Quân
Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
Tôi hănh diện về thời-gian mà tôi đă trải qua, phục vụ cánh
sát cánh với các chiến sĩ thuộc Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.
T.D.B. dịch theo nguyên bản
Virginia, ngày 6-6-2008