Chiến Hữu: Kỷ Niệm Nhỏ Với Đồng Đội Chiến Trường
Xưa…
NgyThanh
“Chiến Hữu” không phải là cái tựa đề do tôi
đặt. Đây là chữ của dịch giả Tâm Nguyễn dùng khi
chuyển ngữ tác phẩm “Drei Kameraden” do Erich
Maria Remarque viết vào năm 1937(?), giao cho
nhà xuất bản Kinh Thi, Saigon in lần đầu tiên ở
Việt Nam vào năm 1972.
Chiều thứ Bảy 7-3-2009, tôi được chủ bút ấn bản
Houston của Thời Báo gọi tới để bấm một vài tấm
h́nh buổi lễ thiếu tướng TQLC Hoa Kỳ William
Eshelman đại diện Lục Quân Hoa Kỳ trao tặng huy
chương “Legion of Merit” cho người Việt
Nam đầu tiên, thiếu tướng TQLC Bùi Thế Lân. Cựu
Trung tá Nguyễn Đạt Thịnh, trưởng pḥng báo chí
Cục Tâm Lư Chiến QLVNCH, là người được đích thân
tướng cựu tư lệnh Sư đoàn TQLC Việt Nam gọi điện
thoại mời tham dự, c̣n tôi chỉ là người “ăn theo”
biến cố nầy. Tôi không có nhiệm vụ viết bài
tường thuật, nhưng thức trắng một đêm, tôi thấy
không thể không viết vội đôi ḍng về những kỷ
niệm và ân sâu nghĩa nặng tôi nhận của những
“cọp biển” trong ba năm lặn lội với họ trên
chiến trường Quảng Trị. Đóng góp nhạt nhẽo nầy
sẽ chỉ là hạt muối bé bỏng không mong làm mặn
nồng thêm đại dương mồ hôi và xương máu mà các
anh em “lính thủy đánh bộ” đă hy sinh - càng vô
nghĩa nếu như phải dùng tựa đề nào khác hơn hai
chữ vay mượn “Chiến Hữu” để gọi một thứ nghĩa
t́nh của những người san sẻ với nhau hơi thở khi
sống và giọt máu khi nhắm mắt, dưới bộ áo nhà
binh…
- NgyThanh
Người đàn ông đang đứng phía trước ống kính tôi
để nhận lănh huy chương cao quư “Legion of
Merit” do cựu thiếu tướng TQLC Hoa Kỳ William
Eshelman đại diện Lục Quân Hoa Kỳ trao tặng là
Bùi Thế Lân
(Khóa IV SQTBTD).
Tôi gặp ông lần nầy là lần thứ ba; lần trước đó
cách đây đúng 36 năm vào một ngày đầu tháng
2-1973 trên băi biển Gia Đẳng thuộc quận Triệu
Phong, tỉnh Quảng Trị trong những ngày vi phạm
ngừng bắn sau Hiệp Định Paris
(27-1-1973),
và lần đầu tiên sáng 11-7-1972, lúc ông đứng bên
cạnh Trung tướng Ngô Quang Trưởng và đại tá
Nguyễn Năng Bảo, Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn 147 bắt
tay từng toán quân ở Tân Mỹ, trên mặt đường nhựa
từ Huế xuống cửa Thuận An, để chính thức phát
lệnh tái chiếm cổ thành và tỉnh Quảng Trị trong
khi phóng viên Đoàn Kế Tường rũ tôi chui tọt vào
một trong 32 chiếc trực thăng Chinook CH-47 sắp
hàng một đang bốc lính Tiểu đoàn 1 TQLC Quái
Điểu của thiếu tá Nguyễn Đăng Ḥa để đổ xuống
Triệu Phong.
Trong cuộc chiến Việt Nam, người đàn ông già cả
77 tuổi ấy là vị tướng tư lệnh cuối cùng của sư
đoàn Thủy Quân Lục Chiến, và trong thời điểm
1973 dầu sôi lửa bỏng, ông đă nắm dưới trướng
939 sĩ quan các cấp cùng 14.290 quân từ binh sĩ
lên tới hạ sĩ quan.
Thực ra tôi suưt có hân hạnh gặp ông thêm một
lần thứ tư nữa, ngay sau khi tiểu đoàn Thần Ưng
và tiểu đoàn Sói Biển Thủy Quân Lục Chiến được
tiểu đoàn 8 của “Phán Phu Nhơn” đánh vu hồi dọc
sông Vĩnh Định bọc ra Thạch Hăn để bẻ gảy cánh
quân chủ lực thọc sườn của địch từ hướng Cửa
Việt - dứt điểm “cái bánh trung thu” vào ngày
16-9-1972. “Cái bánh trung thu” là tiếng lóng để
gọi việc TĐ6 và TĐ3 cảm tử tràn vào và tái chiếm
cổ thành Đinh Công Tráng. Hôm ấy, tôi đang theo
chân Biệt Động Quân từ Châu Đốc cắt qua kênh
Vĩnh Tế truy kích Việt cộng trên lănh thổ quận
Takeo của Cam bốt, ở nhà, phóng viên già Trần
Văn Ba của Pḥng Báo chí Quân đoàn I lọt vào cổ
thành, đầu đội cái nón sắt kẽ chữ “NgyThanh”.
Tướng Lân không biết mặt cả hai chúng tôi. Nhưng
khi đọc thấy tên tôi trên nón, ông đă chỉ ngón
tay vào mặt ông bạn phóng viên già của tôi,
“Chú mầy là NgyThanh hả? Qua bên Nhảy Dù mà
làm phóng sự tái chiếm cổ thành!”.
Chuyện là như thế, giữa một ông tướng tư lệnh sư
đoàn, và một thằng binh nhất Chiến Tranh Chính
Trị. Nhưng không phải là hiềm thù cá nhân, mà
chỉ là một dạng khác của t́nh huynh đệ chi binh,
v́ cả hai đều dính dáng tới cùng một chữ, “Sóng
Thần”. Và chính đó là thứ t́nh cảm dành cho ông
mà tôi ǵn giữ cho đến sau gần bốn thập niên.
Ngày đến tuổi tŕnh diện nhập ngũ vào đầu năm
1971, tôi đă khổ sở không ít khi phải chọn một
trong hai “người t́nh” để chung sống trọn đời:
lái máy bay và làm lính thủy đánh bộ. Thế mà khi
vào lính, tôi không đội mũ xanh, cũng chẳng cầm
cần stick để làm giặc lái. Hai năm trước ngày
vào lính, tôi là họa viên của TĐ7TLC Hoa Kỳ,
đóng bộ chỉ huy ngay trong ṿng rào của TĐ10CTCT
Việt Nam. Ngoài chuyện vẽ, nhờ sống lâu ra lăo
làng, tôi c̣n được lính Mỹ huấn luyện về công
đoạn làm bản kẽm, chạy máy in offset, và làm
pḥng tối cả hai loại phim chính sắc và phạm sắc.
Thời gian tôi chuẩn bị tŕnh diện nhập ngũ là
thời gian có cuộc Hành quân Lam Sơn 719 qua Hạ
Lào, cũng là lúc TĐ7TLC Mỹ rút quân, dời binh
đội qua Okinawa, bàn giao toàn bộ quân trang
quân dụng cho TĐ10, thành thử tôi may mắn trở
thành ứng cử viên để điền khuyết vào chỗ trống
ấy. Tôi hỏi Tiểu đoàn trưởng TĐ10 liệu có cho
tôi ra mặt trận làm phóng viên chiến trường, th́
tôi sẽ t́nh nguyện vào làm lính đơ dèm cùi bắp.
Thiếu tá Bá hứa. Thế là tôi nạp đơn. Nhưng phải
tới 15 tháng sau khi vào lính, ban ngày ngồi
pḥng tối tráng phim, ban đêm bồng súng gác ṿng
rào pḥng ngự, tôi mới biết là đau chân phải há
miệng. Tôi lên bộ chỉ huy tiểu đoàn xin tŕnh
diện bạn tôi, vừa nhăn vừa mếu, tới hai ba lần
ông ấy mới chịu cho tôi đi. “Cấp
số tiểu đoàn có văn công, ca sĩ, nhiếp ảnh viên
nhưng không có phóng viên chiến trường; đó là
việc của tổng cục và của quân đoàn. Mầy muốn th́
phải để mầy đi, nhưng tiểu đoàn không cấp máy và
phim ảnh”.
Tôi ra chợ trời Đà Nẵng mua cái máy cũ. C̣n sự
vụ lệnh th́ ông ấy cấp sẵn nhiều tờ, mỗi tờ hiệu
lực 15 ngày, được Đại tá Đặc khu Trưởng Đặc khu
Đà Nẵng kiêm Quân trấn trưởng Đà Nẵng duyệt,
“đương sự được phép mặc thường phục hay quân
phục thích nghi, được đi trong giờ giới nghiêm,
vào ra các phi trường và căn cứ quân sự.”
Thế là tôi đem cây Carbin M2 trả cho kho súng
đơn vị, về nhà chào gia đ́nh, để đi Huế.
Ở Huế, tôi c̣n mất thêm một đêm nữa ngồi với
Nguyễn Kinh Châu, văn pḥng trưởng báo Sóng Thần
ở Huế, để nhờ giới thiệu làm quen các đầu dây
mối nhợ trên đường t́m ra nơi tên bay đạn lạc.
Anh Châu bảo tôi, trốn về thành phố mới khó, chứ
ṃ ra trận, th́ dễ quá là dễ. Tối đó anh Châu
bảo vợ làm tiệc khao anh em, v́ tôi là văn pḥng
trưởng báo Sóng Thần của Đà Nẵng
(nghe
hách x́ xằng và thằng ngọng thế, chứ tôi chỉ có
mỗi việc là giữ con dấu, và không bao giờ đóng
vào một văn bản nào đến ngày mất nước - trừ cái
thẻ báo chí tôi phải tự cấp cho tôi).
Trong buổi tiệc, anh Châu giới thiệu tôi với
phóng viên quân đội Trần Tường Tŕnh
(lính
Sư đoàn 1BB, sau mới biết là Việt cộng nằm vùng,
tới 1976 làm Trưởng ban Tuyên huấn Quận đoàn 6
Saigon)
là phóng viên trong văn pḥng của anh Châu, và
thêm 2 người nữa từ văn pḥng Sóng Thần tại
Quảng Trị di tản vào: anh Nguyễn Quư văn pḥng
trưởng, và Đoàn Kế Tường, lính pháo binh sư đoàn
3BB, cộng tác với anh Quư. Đoàn Kế Tường kém tôi
một tuổi, nhưng rất giỏi về thơ. Tường rất thông
minh: không hề biết chụp h́nh, nhưng nghe tôi
xúi, cầm bớt tôi một cái máy, sau chưa đầy một
tháng, anh chàng chụp như nhà nghề. Vậy là tôi
có bạn vừa là người dẫn đường. Sáng hôm sau,
Tường dắt tôi vào băi đáp trực thăng của Bộ Chỉ
Huy Tiền Phương TQLC trong đại nội, phía gốc hai
cây phượng vỹ ở cánh phải của Điện Thái Ḥa, bày
cho tôi,
“Không cần biết ai và ai biết ḿnh hết. Cứ
theo tao, tao leo lên tàu, mày làm theo. Trung
tá Phẩm trưởng pḥng báo chí TQLC nếu có thấy sẽ
tưởng mầy là phóng viên của tổng cục từ Sài g̣n
v́ mầy mang cái phù hiệu CTCT to tổ tướng trên
vai. Phía phi công trực thăng biệt phái sẽ nghĩ
mầy có tên trong manifest của ông Phẩm. C̣n đám
báo chí ngoại quốc cứ sợ mầy đẩy tụi nó xuống
khỏi trực thăng, v́ mầy là báo chí quân đội, c̣n
tụi nó chỉ là dân sự quá giang.”
Với cái khôn lơi ấy trong ngày nhập môn, tôi
ngậm miệng ăn tiền, mặc cho chiếc trực thăng chở
cắt qua pḥng tuyến sông Mỹ Chánh, thả cả bọn
gần mười mạng xuống bộ chỉ huy nhẹ của Tiểu đoàn
6 TQLC do thiếu tá Tùng nắm, nằm sâu nhiều cây
số trong vùng tạm chiếm của Việt cộng. Bỏ chúng
tôi xuống xong, trực thăng lấy thương binh và
những xác chết quấn poncho, nhanh chóng rời mặt
trận để tránh pháo kích. Tàu đi rồi, tôi mới bắt
đầu thấy ḿnh vừa dại vừa điên.
“Tác phẩm đầu tay”
“Di tản chiến thuật” - mỗi lần thất trận phải bỏ
quân binh dưới trướng ḿnh sống chết mặc bây, vị
Tổng tư lệnh Quân lực VNCH Nguyễn văn Thiệu vẫn
dùng chữ đó, do ông sáng tác. Khi chiến xa T-54
của cộng sản từ tỉnh lộ 8B ở thôn Cam Vơ trên bờ
bắc tràn qua cầu sông Miêu Giang, Bộ Tổng Tham
Mưu VNCH bí mật cho phép sử dụng lần đầu tiên
trên chiến trường Việt Nam loại bom CBU-55. Trưa
1-5-1972, sau khi ném trái “bom nguyên tử bỏ túi”
vào đoàn xe tăng đang vượt cầu Đông Hà và làm cả
đoàn xe chết khựng ngay trên cầu, thiếu úy phi
công Nguyễn Hàn mang tàu A-37 về tới phi đoàn
528 ở Đà Nẵng b́nh an. Hàn gọi cho tôi qua hệ
thống điện thoại Tiger do Mỹ để lại,
“Mầy phải kiếm cách đi sớm mới được, cuộc
chiến tới hồi cao điểm rồi. Không ra chiến
trường lúc nầy, sau nầy chẳng c̣n khỉ ǵ để…
b́nh thiên hạ. Tao mới thả trái CBU-55 đầu tiên
nhưng mầy không được viết lên báo; có hứa, tao
mới kể. Nếu không, an ninh quân đội sẽ hốt xác
cả hai đứa ḿnh.”
Tôi hứa, và giữ lời hứa ấy cho đến hôm nay, mặc
dù thiếu úy Hàn đă rớt tàu khi bay thế bạn bè,
trong trận đánh yểm trợ cho TĐ8 TQLC đầu tháng
10-1972 ở góc chợ Sải, mà tôi sẽ kể sau.
Vào trong tự điển wikipedia, độc giả sẽ
đọc thấy
“Một trong các sự kiện nổi bật nhất là vụ ném
bom CBU-55 xuống ngă ba Dầu Giây, Long Khánh,
trong trận Xuân Lộc, vào ngày 21-4-1975. Từ đầu
tháng 4-1975, một quả bom CBU-55 đă được chở
bằng máy bay từ Thái Lan tới căn cứ không quân
Biên Ḥa. Được sự chuẩn y của tướng Homer Smith
cho phép chính phủ VNCH sử dụng loại vũ khí này,
một máy bay vận tải C-130 lượn ṿng trên bầu
trời Xuân Lộc tại độ cao 6.000m, rồi thả quả bom.
Bom nổ tạo một quầng lửa che phủ một vùng rộng 2
mẫu Anh
(khoảng
0,8 hécta).
Các chuyên gia ước lượng rằng khoảng 250 người
lính đă bị thiệt mạng, chủ yếu do bị ngạt ô-xy
thay v́ bị bỏng. CBU-55 là một loại bom cháy
dạng chùm
(cluster bomb incendiary device) được quân
đội Mỹ phát triển trong Chiến tranh Việt Nam,
với mục đích tiêu diệt sinh lực địch, dọn băi
cho trực thăng đổ bộ, cũng gọi là bom chân không.
Trong khi hầu hết các loại bom cháy khác chứa na-pan
hoặc phốt-pho, bom CBU-55 chứa nhiên liệu chủ
yếu là prô-pan. Được mô tả là 'vũ khí phi hạt
nhân khủng khiếp nhất trong kho vũ khí của Mỹ',
loại bom này đă là một trong những vũ khí truyền
thống mạnh nhất được thiết kế cho chiến tranh.
Quả bom có 3 ngăn chứa prô-pan, một hỗn hợp gồm
các khí khác, và một ng̣i nổ.”
Theo Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam, CBU-55
là loại
"bom chùm hàng không dạng cát-xét, kiểu nổ
xon khí đầu tiên của Mỹ. CBU-55 dài 2.3m, đường
kính 0.6m, sải cánh đuôi 0,72m, khối lượng
235kg, chứa 3 bom con BLU-73, dọc thân từ lỗ lắp
ng̣i hẹn giờ tới nắp đáy, có đặt một dây nổ, đảm
bảo mở cát xét ở trên không. Mỗi bom con có khối
lượng 45kg, nạp 32.6kg ôxít êtylen lỏng, có dù
hăm để giảm tốc độ rơi xuống c̣n 33m/giây. Khi
chạm đất, ng̣i nổ hoạt động gây nổ ống thuốc đặt
giữa trục bom, phá vỡ vỏ bom, làm văng ôxít
êtylen thành các giọt, tạo thành đám mây xon khí
(nhiên
liệu - không khí)
có đường kính 25 - 17m; cao 2,5 - 3m. Đám mây
này được một trạm nổ kích thích ở độ cao 1m sau
khi h́nh thành 0,125giây. Bán kính sát thương
của mỗi bom con là 50m. Bom CBU-55 được thiết kế
cho loại máy bay tốc độ dưới âm như phản lực
A-37, loại quan sát OV-10 và máy bay trực thăng
UH-1 ở độ cao bay 600m, tốc độ bay 120km/giờ.
Loại bom nầy đă được sử dụng lần đầu tiên trong
chiến dịch Quảng Trị 1972.”
Trái bom mà Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam
vừa đề cập chính là trái mà phi công Nguyễn Hàn
dùng để cứu nguy cho Đông Hà vào ngày lễ Quốc tế
Lao động năm ấy. Nhưng trái bom xuống bằng dù
màu cam
(để
phi công có đủ th́ giờ bay xa khỏi vùng mất
dưỡng khí)
là quyết định hết sức muộn màng sau khi SĐ3BB
chưa kịp đánh đă tan hàng, làm thị xă Quảng Trị
hốt hoảng, bỏ ngơ. Liều thuốc cuối cùng của thế
trận để cứu văn cố đô Huế lúc ấy, là Thủy Quân
Lục Chiến, và trong khi tướng Hoàng Xuân Lăm bó
tay nh́n nhân dân tỉnh Thừa Thiên bồng bế nhau
dồn vào Đà Nẵng, TQLC đă trụ lại và lập ngay
tuyến chận địch ở bờ Nam sông Mỹ Chánh: LĐ369
trấn thủ từ QL1 cặp theo tỉnh lộ 555 chạy ra
phía biển, giáp với sông Ô Lâu; LĐ258 giữ từ lô
cốt bên đường sắt cặp Rào Tách Ma đâm lên núi
Cái Mương và căn cứ cũ Barbara.
Bốn ngày sau khi mất Đông Hà Quảng Trị, trung
tướng Ngô Quang Trưởng, Tư lệnh Quân đoàn 4,
được gởi ra Đà Nẵng làm Tư lệnh Quân đoàn 1 thay
tướng Hoàng Xuân Lăm, c̣n đại tá Bùi Thế Lân, Tư
lệnh phó Sư đoàn TQLC, lên nắm quyền tư lệnh Sư
đoàn TQLC thay thế trung tướng Lê Nguyên Khang.
Ông Trưởng và ông Lân là bạn cùng khóa 4 trường
Sĩ quan Trừ bị Thủ Đức.
Ngày 28-5-1972, đại tá Bùi thế Lân đă được vinh
thăng cấp chuẩn tướng tại bản doanh bộ Tư lệnh
TQLC Tiền phương đặt trong Đại Nội Huế, trong
những ngày pḥng tuyến Mỹ Chánh đă trở nên sôi
động hơn khi cộng quân tập trung lực lượng tấn
công vào các vị trí pḥng ngự của các Tiểu đoàn
3,8 và 9 TQLC, bộ chỉ huy Lữ đoàn 369 TQLC và
các pháo đội của Tiểu đoàn 3 Pháo binh TQLC vào
hai ngày 21 và 22 tháng 5-1972. Những ngày kế
tiếp, cộng quân chuyển mũi dùi tấn công sang
vùng trách nhiệm của Lữ đoàn 258. Trong ba ngày
liền, địch dàn chiến xa và bộ binh tấn công TQLC
giữa ban ngày. Trong khi bị địch uy hiếp nặng nề
từ mạn dăy Trường Sơn, một mặt đại tá Lân cầm cự
để bẻ gảy các mũi dùi muốn cắt QL1, một mặt bất
ngờ tung cuộc hành quân Sóng Thần 6-72 đổ quân
đánh vu hồi sâu trong hậu cứ địch. Ngày
23-5-1972, ông Lân cho toàn bộ TĐ7TQLC từ pḥng
tuyến Mỹ Chánh di chuyển bằng quân xa ngược về
phía Nam để đến bến tàu Tân Mỹ, từ đó được chở
ra Hạm đội 7 và từ ngoài khơi đổ bộ bằng đường
biển vào tuyến ven biển dọc các thôn Trung An,
Mỹ Thủy, Gia Đẳng, để giữ cạnh sườn cũng như bảo
vệ đường rút cho hai TĐ4 và 6 được trực thăng
vận thả xuống Thương Ḥa ở giao điểm của hai
hương lộ 555 và 602 - địa danh chiến sử nổi
tiếng mà Bernard Fall đă viết nguyên một
cuốn sách mang tên “Con phố buồn thiu” để mô tả
trận thư hùng kéo dài hơn 1 tuần lễ giữa lực
lượng Nhảy Dù Pháp và trung đoàn 95 Việt Minh
vào tháng 7-1954.
Sau một tuần vừa đánh vừa ḍ t́m thực lực địch,
cuộc hành quân Sóng Thần 6-72 chấm dứt vào ngày
cuối tháng 5; các đơn vị cấp tiểu đoàn rút về bờ
nam sông Mỹ Chánh, nhưng hàng đêm các toán viễn
thám tiếp tục đột nhập vào hậu tuyến địch để lấy
tin t́nh báo, chuẩn bị kế hoạch toàn diện phản
công.
Sau ít bữa cho lính dưỡng quân và bổ sung, ngày
6-6-1972, tướng Lân mở tiếp cuộc hành quân Sóng
Thần 8-72, với 4 tiểu đoàn TQLC ồ ạt vượt sông
Mỹ Chánh để mở đầu cho một đợt hành quân quy mô
nhắm hướng thành phố Quảng Trị. Yêu cầu đầu tiên
của tướng Ngô Quang Trưởng là các lực lượng VNCH
phải kiểm soát bằng được khu vực cách bờ Nam
sông Mỹ Chánh ít nữa là 5 km để chuẩn bị đầu cầu.
Để đạt yêu cầu này, tất nhiên tướng Trưởng nhắm
vào sư đoàn TQLC làm lực lượng tiên phong và
ṇng cốt. Sau màn phi pháo B-52, hải pháo từ Hạm
đội 7, và địa pháo của các đơn vị bạn, 4 tiểu
đoàn TQLC đồng loạt vượt sông Ô Giang. Qua khỏi
tuyến xuất phát, các đơn vị tiên phong đă đụng
độ các toán tiền tiêu của đối phương, giao tranh
diễn ra vô cùng ác liệt khi các đại đội TQLC đi
đầu tràn lên cận chiến để chiếm các vị trí trọng
điểm nhằm làm đầu cầu cho toàn đơn vị nối gót.
Đến gần trưa, phía TQLC đă gặp sự kháng cự quyết
liệt, nhất là cánh quân tiến theo trục hương lộ
555 từ Xán Viên tới Đơn Quế thuộc địa phận quận
Hải Lăng. Phải đến hoàng hôn sau khi đổ khá
nhiều máu, TQLC mới diệt xong các ổ kháng cự
chính của địch để công binh sửa chữa hay lắp đặt
cầu cống cho chiến xa của các chi đoàn Thiết
giáp tiến lên. Đây chính là thời điểm tôi tới
mặt trận ngày đầu, không khác con nai vàng ngơ
ngác. Đi là v́ mê chứng kiến chuyện đàn ông con
trai đánh đấm ngoài trận tuyến mà đi, đi mặc dù
tôi không hề được huấn luyện để làm phóng viên
chiến trường.
Trong tất cả đám người mặc đồ lính ở chỗ tôi
xuống máy bay, tôi là người ít kinh nghiệm súng
đạn nhất. Trong tất cả đám người hành nghề báo
chí, tôi là người duy nhất trắng tay, từ quá
tŕnh lẫn kinh nghiệm. Tôi hỏi Phan Bội Hoàn
của CBS và Phạm Gia Cường của NBC, các
anh ấy bảo nếu cứ đứng ở đây với bộ chỉ huy tiểu
đoàn th́ chỉ ăn đạn pháo kích. À ra thế. Muốn có
h́nh đánh nhau, phải lội lên tuyến đầu, chứ c̣n
ǵ? Tôi nói với Đoàn Kế Tường rằng tôi
lên phía trước kiếm vài tấm ảnh, rồi lầm lũi lội
cát đi. Buổi trưa hôm ấy yên ắng lạ thường.
Không có cả tiếng súng lẻ tẻ. Không nón sắt,
không áo giáp, tôi len lơi giữa các đội h́nh
khinh binh bố trí xen kẽ giữa các nghĩa trang,
không bấm được tấm nào. Ở chốt tiền tiêu cuối
cùng, mấy anh TQLC ngăn tôi lại, v́ “phía trước
không xa là Việt cộng”. Tôi ngồi tâm sự vặt với
họ, rồi nhận mấy lá thư họ viết sẵn, gởi nhờ tôi
mang về Huế dán tem, bỏ thùng thư bưu điện.
Nhưng cái lặng lẽ ấy không kéo dài lâu. Khoảng 2
giờ chiều, súng AK bắt đầu nổ. Tiếng súng M-16
đáp trả, rồi các chốt tiền tiêu dời về phía
trước, tôi bám theo. Sau 15 phút, tiếng súng AK
nổ nhiều hơn, từ cả hai bên hông. Tiếng ḥ la,
tiếng điều động quân. Chỗ chúng tôi là một nghĩa
trang gồm những nấm mộ cát h́nh tṛn, chung
quanh bao bọc bởi bụi rậm thay khung thành, phía
trên đầu là chỗ người nhà vào tảo mộ, gọi là cửa
mả. Giữa nấm mộ tṛn và viền quanh nhô cao
khoảng nửa mét là chỗ đất trũng xuống: các chiến
binh TQLC quỳ xuống đây, t́ súng lên mô đất cao,
xiết c̣. Tầm đạn chiu chít thật thấp. Tôi bắt
đầu thấy thây người ngă bật ra, bắt đầu thấy máu.
Nằm sấp sợ cát vào máy ảnh, tôi nằm ngữa, hai
tay giữ máy, phỏng chừng tốc độ và khẩu độ màn
trập. Sợ lắm, nhưng không làm được ǵ hơn, tôi
bấm bừa những cảnh TQLC tay cầm súng cúi rạp
ḿnh vừa tránh đạn, vừa nhảy bổ ngang qua chỗ
tôi nằm, trên lưng là ba lô nặng trĩu áo quần,
chăn màn cá nhân, gạo sấy. Bên ngoài ba lô c̣n
đeo lủng lẳng một cái nồi nấu cơm, một đôi dép.
Nếu là một pha dàn dựng, tôi có thể nằm lại tư
thế đó nhưng sẽ không bất cứ diễn viên nào có
thể có cái “action” cùng với khuôn mặt ghi lại
nét hăi hùng khi tiếp cận cái chết như trong bức
ảnh của tôi. Việc tôi chết hụt hôm ấy lớn thật,
nhưng về sau nầy tôi mới biết là không lớn bằng
việc tôi quyết định tháo lấy cuốn phim bỏ vào
túi quần, quẳng lại cả máy cả kính, tự đếm một
hai ba, nhỗm dậy chạy một mạch lui về hậu tuyến,
sau khi biết cánh quân chúng tôi bị hai trung
đoàn Việt cộng đánh bọc sau lưng. Về tới bộ chỉ
huy TĐ, bở hơi tai, Đặng văn Phước của AP
phán một câu, “dám
quẳng máy cứu lấy phim là tác phong của kư giả
quốc tế”.
Nhưng tôi phải chờ mấy tháng nữa mới thấy kết
quả việc Phước tiến cử tôi vào làm phóng viên
chiến trường cho Associated Press, văn pḥng
Saigon.
Mấy tháng sau, một bữa tôi đang lội ngoài trận
địa TQLC, có một ông phóng viên quân đội mặc đồ
Nhảy Dù cấp bậc đại úy lạ mặt t́m tôi. Ông ấy
lấy từ trong túi quần bên hông ra cuốn sách, đưa
cho tôi, sau khi đọc cái bảng tên của tôi trên
ngực áo.
“Tôi là Phan Nhật Nam, là bạn của Đằng Giao.
Đằng Giao đang lùng một tấm h́nh xứng đáng để
làm b́a cho cuốn sách của tôi, th́ thấy tấm h́nh
bạn gửi về ṭa soạn Sóng Thần. Chúng tôi đă làm
ẩu, quyết định cứ lấy h́nh của bạn làm b́a, rồi
xin phép sau. Hôm nay tôi mang tặng bạn cuốn
sách ấy, với lời xin lỗi…”
Tôi mở cuốn sách, đọc cái tựa “Mùa Hè Đỏ Lửa”,
thấy tấm h́nh người lính TQLC mà tôi chụp hôm
xuất trận lần đầu, ngày Quân Lực 19 tháng 6. Trả
lời Phan Nhật Nam về địa danh tấm ảnh, tôi nói
mấy ông TĐ6TQLC cầm bản đồ hành quân hôm ấy cho
tôi biết đó là Câu Nhi Phường. Đây là địa bàn
nhuộm nhiều máu của TQLC với hệ thống sông ng̣i
dày đặc gồm sông Thạch Hăn, sông Nhùng, Bến Đá,
Thác Ma, Ô Lâu, ngoài ra c̣n có sông Vĩnh Định
đưa nước ra cửa Thuận An và cửa Việt Yên. Từ bắc
tỉnh lộ 8, sông chỉ có một ḍng chảy, nhưng đến
Hội Yên chia làm hai, Tân Vĩnh Định và Cựu Vĩnh
Định. Câu Nhi Phường thuộc xă Hải Chánh huyện
Hải Lăng là nơi sông Ô Giang nhập vào sông Ô Lâu
để chảy ra hướng bắc, đến làng Trung Đơn theo
Kênh mới Mai Lĩnh nối với Cựu Vĩnh Định tại ngă
ba Hói Dét. Nói tới phần đất “Con Phố Buồn Thiu”
nầy, trung tá Phán của TĐ8TQLC kể hoài không hết,
bởi ông ấy rành như rành nhà bếp ở nhà sau khi
đă cùng chiến hữu nằm gai nếm mật tại đây nhiều
năm tháng. Có lẽ những cái tên tưởng quá t́nh cờ
như “Phường Câu Nhi” lại là những giao điểm
trong đời để những người lính TQLC như “Phán Phu
Nhơn” và những tên lăng tử cầm máy ảnh như tôi
gặp nhau và ǵn giữ thân t́nh đến sau gần bốn
chục năm. Cho dù thiếu tướng Lân không đồng ư
thế, th́ ông cũng phải nh́n nhận cái “tác phẩm
đầu tay” mà tôi vừa tự thú là kết quả của sự ngu
dốt và háo thắng, hơn là tŕnh độ và tài năng.
Theo “Ḥa Râu” phản công tái chiếm
Trước khi nhận lời làm cho AP, tôi bắt đầu
nghiệp làm báo với tờ Sóng Thần, trùng tên với
các cuộc hành quân của binh chủng TQLC, và là
danh hiệu truyền tin của họ. Khi ra trận, được
hỏi làm cho báo nào, tôi vẫn thường đáp “Sóng
Thần”. Và điều ấy đă gây một ngộ nhận có lợi mà
măi sau tôi mới biết: lính TQLC cứ ngỡ tôi là
phóng viên của sư đoàn TQLC, thành thử họ đă
dành cho tôi thật nhiều mỹ cảm, sự che chở hỏa
lực, cũng như ưu tiên khi lên xe xuống pháo.
Sau khi hai đứa chúng tôi tinh nghịch ḅ qua băi
ḿn ở hai đầu cầu Trường Phước trên quốc lộ 1
hôm 1-7-1972, và chứng kiến nguyên vẹn cái mà
tôi gọi tên là “Đại Lộ Kinh Hoàng”, Tường
và tôi hàng ngày vẫn tiếp tục bám theo cánh quân
Dù trăi dài từ trên Động Ông Đô đổ xuống cặp QL1
đánh ra phía bắc. Hai đứa chúng tôi đă là hai
phóng viên đầu tiên lọt vào thành phố Quảng Trị
khi theo chân Nhảy Dù đánh từ Ngă Ba Long Hưng
rẻ phải thọc xuống góc tây nam của cổ thành Đinh
Công Tráng, và sau khi theo Liên đoàn 81 Biệt
Kích Dù đánh vào nhà thờ La Vang rồi cuốn chiếu
qua hướng đông, yểm trợ cho lính TĐ11ND dồn
xuống phía nhà ga Quảng Trị ở bờ sông Thạch Hăn.
Chúng tôi không có dịp theo cánh TĐ2ND của Út
Bạch Lan vượt hào đột kích vào góc Trí Bưu
của thành cổ, nhưng quân sử VNCH đă ghi nhận
những chiến công dũng cảm của binh chủng Nhảy Dù
trong nỗ lực tái chiếm cổ thành. Chính v́ quyết
tâm bám theo quân Dù để làm phóng sự tái chiếm
thành cổ, chúng tôi không được biết việc tướng
Trưởng biến TQLC thành mũi xung kích chính và
rút sư đoàn Dù ra bổ sung quân số và dưỡng quân.
11-7-1972 cũng là một ngày như mọi ngày. Buổi
sáng, Tường kéo tôi qua Gia Hội kiếm bún ḅ gánh,
ngồi lề đường ăn. Chính v́ ngồi ăn vĩa hè hôm ấy,
chúng tôi gặp Nguyễn Đăng Ḥa, tức là Ḥa
Râu, Tiểu đoàn trưởng TĐ1TQLC. 34 tuổi, người
gốc Phan Rang, Ḥa Râu vào Thiếu Sinh Quân mặc
đồ kaki từ năm 12 tuổi, sau đó tốt nghiệp khóa 2
Sĩ Quan Đặc Biệt Nha Trang, năm 1961 t́nh nguyện
vào TQLC. Chúng tôi hỏi vu vơ,
“bao giờ mới đổ quân tái chiếm?”.
Ông Ḥa cười cười, “Bí
mật quân sự… bất khả lậu. Gặp nhau ngoài Tân Mỹ
mới nói được.”
Dựa trên “nguồn tin” ấy, Đoàn Kế Tường và tôi
đồng ư chạy xe ra Tân Mỹ, chuyện ǵ tính sau. Ra
chưa tới bến phà th́ nghẽn đường: một đoàn trực
thăng Chinook CH-47 của US Marines hơn ba chục
chiếc đậu thành hàng một trên quốc lộ, máy nổ,
chong chóng quay. Hai bên là ruộng mùa hè, khô
nứt nẻ, c̣n trơ những cọng rạ đâm ngược lên trời.
Không cần phải đi lính mới biết hôm nay là ngày
tái chiếm, và hàng ngàn TQLC của tiểu đoàn Quái
Điểu lũ lượt hai bên mép đường chuẩn bị súng ống
để hành quân. Tường dặn ḍ tôi thật lớn trong
tiếng động cơ trực thăng ầm trời,
“Tao lên chiếc nầy. Mầy lên chiếc kế cận, cho
khỏi lạc nhau. Hai đứa không nên lên cùng tàu,
lỡ rớt, ở ṭa soạn ngày mai không có h́nh và
tin.”
Tôi cũng thét vào tai Tường,
“Hôm nay trời nắng tốt, phim tao gắn trong
máy là Kodak Tri-X 400 ASA. Chốc nữa có lạc nhau,
mầy cứ để tốc độ 1/250 cho khỏi bị rung, khẩu độ
để f/16 ngoài nắng, focus vào vô cực, rồi cứ thế
mà phang!”
Rồi hai thằng chui vào hai cái trực thăng, trà
trộn với lính, không thèm xin phép phi hành đoàn
hay đơn vị trưởng tác chiến: ai cũng biết chúng
tôi là nhà báo. Chúng tôi không cần biết sẽ được
đổ xuống đâu, trận mạc thế nào, đường về ra sao.
Thấy người ta vũ khí lớn nhỏ ra đi, ḿnh cũng
vác máy lắp phim vào, đi theo. Không ba lô,
không súng, không thức ăn. Ngoài cái máy ảnh,
chúng tôi mỗi đứa đeo hai b́nh tông nước giếng,
là thứ ngoài chiến trường quư gần ngang với máu.
Bầy trực thăng sắp thành đội h́nh bay ra biển.
Từ trên cao nh́n xuống, chúng tôi thấy đoàn tàu
thủy của Hạm đội 7 đang bắn hải pháo tầm xa vào
bờ mở một hàng rào lửa ở phía bắc. Các phi tuần
B-52 trải thảm bên cạnh sườn trái, dọc “Con Phố
Buồn thiu”. Phía sau pháo binh mặt đất dựng một
hàng rào lửa khác. Nh́n xuống băi cát cứ như một
sân bóng h́nh chữ nhật, một mặt là biển, ba mặt
kia bao bọc bởi lửa khói ngụt trời. Tất cả các
hoạt động quân sự nầy được phát lệnh từ Ủy ban
liên bộ Tham mưu Sư đoàn TQLC và Hạm đội 7 đặt
trên chiến hạm chỉ huy USS Blue Ridge. Tướng Ngô
Quang Trưởng và tướng Bùi Thế Lân ngồi trực
thăng chỉ huy riêng, điều quân từ trên trời. Khi
B-52 vừa ngừng đợt trải thảm, máy bay chúng tôi
từ biển bay lẫn vào màn khói c̣n mù mịt, mỗi
chiếc tự t́m một hố bom B-52 để đáp xuống trong
ḷng, được che chở bởi bờ đất chung quanh. Mỗi
lỗ bom vừa vặn một chiếc máy bay. Chúng tôi theo
lính Cọp Biển, nhảy ra khỏi tàu từ cánh cửa mở
phía đuôi trực thăng. Máy bay cất bỗng lên để đi
bốc cánh quân khác. TQLC bắt đầu từ mé hố bom
trèo lên mặt đất, đánh rộng ra như vết dầu loang,
vừa tiến quân vừa bắt tay với những tốp từ các
hố bom khác, dần dần được chỉ huy bên trên chỉnh
thành đội h́nh để phối hợp hành quân với các đơn
vị lớn. Ở khu vực nầy, đối phương đă chiếm giữ
gần ba tháng, và đă tổ chức được hệ thống pḥng
sự kiên cố với các cụm giao thông hào và địa đạo
liên hoàn cũng như các chốt chận đặt ở những vị
trí yết hầu để chống giữ, để sau một trận thảm
lửa của pháo đài bay, hầu như tất cả bị xóa sổ.
Nhưng vẫn không tránh khỏi kịch chiến diễn ra
quanh các đồi cát khi các trung đội TQLC tràn
lên tiến chiếm các điểm cao để làm chủ trận địa.
Chúng tôi theo cánh quân từ Linh Chiểu và Xuân
Dương mở rộng vùng kiểm soát ra hướng đông.
Trong quờ quạng của bóng đêm hôm đó, Tường và
tôi gặp lại nhau trên bờ biển Mỹ Thủy, và theo
trực thăng tải thương về quân y viện Nguyễn Tri
Phương trong Mang Cá. Măi tới sáng hôm sau kéo
nhau qua pḥng báo chí của TQLC trong đại nội để
kiếm máy bay đi làm phóng sự chiến trường tiếp
mới biết rằng trong đoàn trực thăng chúng tôi đi
“lậu” hôm trước có đến 29 chiếc mang theo vết
đạn nhỏ lớn về nhà, hai chiếc không may mắn đă
bị bắn cháy trước khi rơi xuống gần Trí Bưu, làm
thiệt mạng ngót hai trăm người vừa phi hành đoàn
vừa lính của Nguyễn Đăng Ḥa. Chiến tranh là thế.
Trời kêu ai nấy dạ. Nếu tôi lên một trong hai
chiếc tàu ấy, th́ giờ nầy độc giả không đọc
những ḍng nầy, viết về gian nguy và sự hy sinh
của người lính trận.
Phán “Phu Nhơn”
Trong lính, khi gặp th́ phải chào kính, trên
dưới nghiêm minh. Nhưng nếu độc giả hỏi bất cứ
ai từng ở tiểu đoàn 8 Ó Biển, “bạn thuộc đơn vị
nào”, th́ sẽ được nghe trả lời “lính
của Phán Phu Nhơn”.
Đừng nghe thế rồi tưởng ông tiểu đoàn trưởng
Nguyễn Phán là thứ liễu yếu đào tơ, mà lầm. Ngày
mới vào quân trường, khi được hỏi nguyên quán,
anh thư sinh tên Phán nói giọng Huế ngọt như
đường phèn, “Dạ Phú Nhơn”. Phú Nhơn là tên một
phường trong thành phố Huế, nhưng chẳng biết v́
giọng Phán rụt rè, hay v́ tai ông quân số bị
lăng, nên kể từ đó sinh viên sĩ quan Nguyễn Phán
lănh luôn cái tên “Phán Phu Nhơn”. Ra trường,
cầm quân, giết giặc, tái chiếm thành nội Huế
trong tết Mậu Thân, vào sinh ra tử suốt vùng
giới tuyến, nắm nguyên cả một tiểu đoàn, ông
Phán tôi “cứ để rứa cũng được”, không thèm đổi
tên. Nhưng tôi quen ông Phán rất muộn, vào một
dịp t́nh cờ, sau cái chết của phi công Nguyễn
Hàn, ông anh con bác mà chúng tôi chơi và bời
với nhau như bạn bè nhiều hơn.
Mẹ tôi mất vào ngày tổng thống Thiệu bắt cả nước
treo cờ: ngày “Người Cày Có Ruộng” 26-3-1972.
Tới lănh khăn tang, Hàn quấn lên đầu, nói với bố
tôi, “khăn con trùng mí chú ơi. Vậy con sẽ là
người trong gia đ́nh chết theo thím”. Nói đùa mà
có thật. Chưa đầy bảy tháng sau, một hôm bị cúm,
nhưng Hàn t́nh nguyện bay thế cho thằng bạn cùng
phi đoàn có hẹn với đào. Cùng bay với Hàn là
Tuần. Buổi chiều, bạn gái tôi gọi cho tôi, “Anh
Tuần bay chung với anh Hàn hôm nay mới gọi cho
em, nói anh Hàn rớt tàu ở Quảng Trị rồi”. Buổi
tối, tôi lên phi đoàn phản lực 528 trong phi
trường Đà Nẵng. Họ không xác nhận Hàn sống hay
chết. Tôi cũng chỉ hỏi vỏn vẹn hai điều, anh tôi
rớt tàu khi đang yểm trợ cho ai, và có thể cho
tôi cái L-19 sáng mai bay ra Phú Bài. Phi đoàn
trưởng A-37 không tiếc ǵ với tôi, “Hàn bị bắn
khi đang đánh cho TĐ8TQLC, và sáng mai có chiếc
bà già chờ anh bên phi đoàn 110.”
Đêm đó tôi gọi cho tổng đài Sóng Thần của TQLC
qua ngă tổng đài Thống Nhất, để xin đại bàng của
lữ đoàn 258, nhằm t́m tin tức ông anh. Từ Hương
Điền, trung tá Nguyễn Xuân Phúc trầm giọng trong
điện thoại,
“Hóa ra thằng pilot là anh mầy hả Thanh? Nó
đánh cho thằng Phán ngay bên bờ sông Thạch Hăn.
Mai mầy ra tới Phú Bài rồi kiếm trực thăng bay
ra đây, tao cho mầy cái M-113 lên chỗ thằng Phán.
Mầy chưa quen hắn? Đừng lo, dân mắm ruốc với mầy.”
Mỗi thằng phóng viên chiến trường trời xui đất
khiến thế nào đó, có vài ông “đại bàng” kết, coi
như đàn em. Đoàn Kế Tường có tướng tử thủ An Lộc
Trần Văn Nhật, gặp tôi trong cuộc đổ quân nào
của SĐ2BB quanh Ba Tơ, Gia Vực, Minh Long, Sơn
Hà, Sơn Tịnh, Đức Phổ, khi nào cũng hỏi thăm
cùng một câu, “Thằng
Tường lúc nầy đi mặt trận nào?”
Tôi không may mắn được tướng chiếu tướng như bạn
tôi, nhưng ông đại tá tư lệnh BĐQ-QK1 và ông
Robert Lửa lữ đoàn trưởng 258 TQLC coi tôi như
thằng em út vụng dại; tôi vô tới Saigon, ông
Nguyễn Xuân Phúc c̣n dắt thằng nhỏ nhà báo đi
chơi đêm. Ông Phúc là bạn thân của ông Nguyễn
Đức Nhuận, quản lư báo Sóng Thần, nhờ thế tôi
hưởng ơn mưa móc, chứ so tuổi tôi kém xa, so tài
tôi không có.
Chiếc thiết vận xa dừng ở hầm chỉ huy TĐ8, tôi
nhảy từ trên pháo tháp xuống bắt tay tiểu đoàn
trưởng “Phán Phu Nhơn”. “Mẹ, tao xem h́nh mầy
trên báo hoài, nếu anh mầy không rớt tàu, sức
mấy tao gặp mầy!”
Ông Phán dẫn tôi ra bụi tre sau hầm chỉ huy,
biểu tôi khom ḿnh thấp xuống, ḅ theo ông một
đoạn khá dài ra phía bờ sông. Ở chỗ quang, chúng
tôi nhỏm dậy nửa người trong bụi rậm, nh́n theo
ngón tay tiểu đoàn trưởng.
“Thấy cái cây đứng lẻ một ḿnh không? Cái dù
cam c̣n vướng trên cành đó…”
Ông Phán đưa một bàn tay lên cao diễn tả:
“Thằng anh mầy từ phía biển bay vào, bay thật
sát đất để gây bất ngờ và tránh đạn pḥng không.
Bên kia sông là Việt cộng 100% Chỗ cái cây trở
ra là nó với ḿnh cài răng lược. Đánh xong trái
bom cuối, thằng Hàn múc tàu lên, trúng một phát
cao xạ, lửa bốc ra từ cánh trái. Hắn c̣n quay
được mũi tàu về hướng đông, nhưng bung dù sớm
quá, bị gió bạt ngược trở lại chỗ cũ. Chỉ cần
hắn chờ thêm một phút nửa thôi mới nhảy, th́ dù
đă xuống vùng TQLC kiểm soát. Dù xuống vướng vào
cành cây. Tụi khốn nạn bắn như mưa, tụi tao đau
ḷng lắm. Ngồi trong nầy nh́n ra. Đất trống trơn
thế nầy, đứng dậy là chết. Làm ǵ được? Nhưng
hắn không chết, lấy dao cắt dù nhảy xuống. Một
thằng UH-1 bay qua thấy dù cam biết là pilot
loại ĺ, đă tự ư hạ xuống, bốc được hắn lên. Đạn
vẫn bắn như mưa. Tàu cất lên và trúng đạn vào
đuôi, rơi trở xuống. Thấy ba thằng pilot và hai
thằng xạ thủ đại liên chạy ra trước khi tàu nổ
tung. Lính tao hôm nay cứu được hai thằng đại
liên đi lạc. Ba thằng phi công chưa có tin tức.”
Vậy là c̣n hy vọng Tôi nằm lại hầm chỉ huy với
ông Phán, hàng ngày ăn đạn pháo kích 130 ly, để
nuôi niềm hy vọng. Ba hôm sau, ông Phán khuyên
tôi về. Có tin ǵ ông sẽ nhắn ông Phúc gọi ngay
cho tôi. Tôi nghe lời, trở về tiếp tục đi làm
phóng sự. Ông Phán và ông Phúc không hề gọi cho
tôi. Người gọi là bạn gái tôi 3 ngày sau,
“trong phi đoàn cho biết đă lấy được anh Hàn
về tới nhà xác Tổng Y Viện Duy Tân.”
Sau đó nữa, ông Phúc không bao giờ gọi cho tôi.
Ông bạn vai anh của tôi ở trên chiếc trực thăng
bị bắn rớt mất xác, ngày Đà Nẵng mất, 29-3-1972.
Ông Phán cũng không hề gọi cho tôi. Tháng
5-2006, Phan Nhật Nam từ Cali qua Houston, gọi
cho tôi nói là đang ở nhà một người bạn, rũ tôi
tới uống rượu. Khi tôi lần địa chỉ tới gơ cửa,
người ra mở cửa cho tôi không phải là ông “Mùa
Hè Đỏ Lửa”. Tôi và ông chủ nhà ôm lấy nhau một
hồi lâu, làm ông Nam cứ há miệng ra,
“Hóa ra ông Phán và ông đă quen nhau?”
Tối hôm qua ngồi cạnh tướng Lân, ông Phán không
nhắc nhỡ kỷ niệm buồn vui binh chủng, lại mang
ông anh tôi ra chửi thề, “Đ.M., phải chi thằng
Hàn nhảy chậm lại một chút thôi. Hắn bung dù rồi,
chiếc A-37 vẫn c̣n tiếp tục bay…”
Trễ 37 năm, nhưng rồi tấm huy chương vẫn đến...
Trong văn bản giải thích lư do trao tặng huân
chương “Legion of Merit” cho ông Lân, Bộ trưởng
Quốc Pḥng Hoa Kỳ viết:
“Do
tài lănh đạo đáng được đặc biệt ca ngợi trong
khi thi hành xuất sắc nhiệm vụ từ ngày 30-3-1972
đến ngày 16-9-1972 khi liên tục đảm trách chức
vụ Tử Lệnh Phó và kế tiếp là Tư Lệnh Thủy Quân
Lục Chiến Việt Nam.
Trong thời gian chiến đấu mang tính quyết định
mất c̣n cho Việt Nam Cọng Ḥa tiếp theo sau cuộc
tấn công ồ ạt của nhiều sư đoàn chính quy Bắc
Việt qua vùng Phi Quân Sự, chuẩn tướng Lân đă
giữ vai tṛ then chốt trong những chiến công
lừng lẫy của Thủy Quân Lục Chiến Việt Nam mà
đỉnh cao là giải phóng thành phố Quảng Trị khỏi
tay quân Bắc Việt.
Bằng vào tài chỉ huy kiệt xuất, nhuần nhuyễn
chiến thuật, cùng với ḷng can trường vượt bậc
khi trực diện với quân thù tàn bạo, chuẩn tướng
Lân đă truyền cho quân sĩ Thủy Quân Lục Chiến
dưới trướng ḿnh ḷng quả cảm để chế ngự một
địch thủ kiên cường. Thành tích gương mẫu của
ông phản ánh danh thơm cho bản thân, mà c̣n cho
toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa.”
Nói cách khác, tướng Lân thay mặt binh chủng
TQLC để nhận huy chương cho kỳ tích tái chiếm cổ
thành vào ngày 16-9-1972.
Khi mới tràn qua vỹ tuyến 17 và uy hiếp được sư
đoàn 3 tân lập, cộng sản tuyên truyền rằng họ sẽ
“đánh cho cọp chạy, ó bay, đèn cầy ngă”
(cọp:
TQLC, ó: Nhảy Dù, đèn cầy: h́nh số 1 trên phù
hiệu Sư đoàn 1 Bộ Binh VNCH).
Thay v́ “thắng như thế chẻ tre”, sau khi mất
thành phố Quảng Trị vào ngày 1-5-1972, QLVNCH
nhanh chóng ổn định và tái phối trí tại bờ nam
sông Mỹ Chánh.
Trận phản công tái chiếm của nam quân và tử
chiến để bảo vệ của bắc quân đă diễn ra vô cùng
ác liệt và đẫm máu. Báo chí miền bắc sau đó đă
ghi nhận:
“quân
VNCH dưới sư yểm trợ của Mỹ dùng trọng pháo nă
vào thành cổ gần 30.000 quả/phút, kết hợp pháo
hạm và pháo trên bộ, dùng B-52 ném bom trải thảm,
cứ 30 phút 1 đợt B-52, độ tàn phá bằng 8 quả bom
nguyên tử đă thả ở Hiroshima, huy động bộ binh,
lính dù, thủy quân lục chiến tấn công dữ dội
ḥng chiếm lại thành cổ Quảng Trị và cuộc chiến
này đă diễn ra suốt 81 ngày đêm từ ngày 28 tháng
6 năm 1972 đến 16 tháng 9 năm 1972. Thành cổ
Quảng Trị bị bao vậy bởi Quân đội VNCH và liên
tục tấn công ác liệt từ hướng Thạch Hăn và Trí
Bưu với sự yểm trợ của B-52 và pháo binh. Đường
duy nhất để tiếp tế cho thành cổ là bí mật bơi
qua sông Thạch Hăn luôn bị đánh phá ác liệt.
Những cựu chiến binh c̣n kể lại rằng vào thời kỳ
ác liệt nhất của cuộc chiến, mỗi đêm có một đại
đội quân giải phóng vượt sông bơi sang chi viện
cho thành cổ, đến sáng tất cả đều đă hy sinh.
Trung đoàn 95 với sự yểm trợ của pháo binh từ
bên kia bờ Thạch Hăn đă liên tục phản kích tiêu
hao nhiều sinh lực của lữ đoàn dù 81 đến nỗi đơn
vị này phải rút về tuyến sau để cho lực lượng
thủy quân lục chiến tiến lên thay thế, tuy nhiên
lực lượng quân giải phóng bám trụ tại thành cổ
cũng thiệt hại không ít. Cuối tháng 7-1972, ṿng
vây càng siết chặt từ các hướng đông, nam và tây
nam của thành cổ và quân đội VNCH liên tục mở
các trận tập kích hỏa lực "Phong lôi" vô cùng ác
liệt và dồn dập.
(Tài liệu
của quân đội VNCH từ 27-7 đến 16-9-1972 cho biết:
"thị xă bị đánh với 328 ngh́n tấn bom đạn, 9.552
ngh́n viên đạn pháo 105mm, 55 ngh́n viên đạn
pháo 155 mm, 8.164 viên đạn pháo 175mm, hơn 615
ngh́n viên đạn hải pháo Mỹ, 2.240 lần oanh tạc
của không quân...").
Dưới số mưa bom băo đạn ấy, quân giải phóng được
chi viện của trung đoàn 101 thuộc sư 325 và
trung đoàn 165 của sư 312 đă chiến đấu với lữ
đoàn 258 giành giựt từng viên gạch, tấc đất, góc
hầm tại thành cổ cho đến ngày 14 tháng 9 năm
1972 th́ quân đội VNCH chặn được đường tiếp tế
qua sông. Cả ngày và đêm 15 tháng 9 vẫn c̣n nghe
tiếng súng từ các ổ đề kháng cuối cùng tại thành
cổ, đến rạng sáng ngày 16 mới dứt. Quân đội VNCH
chiếm được thành cổ.”
Bờ sông Thạch Hăn nơi TQLC trấn thủ là bến vượt
đẫm máu của những đại đội Việt cộng được bổ sung
vào giữ thành cổ Quảng Trị. 81 ngày đêm, mỗi đêm
một đại đội hơn trăm lính mới hầu hết là sinh
viên học sinh “sinh Bắc tử Nam” đă sang sông mà
ngày hôm sau chỉ khoảng mươi người trở về. Hơn
40 ngh́n binh sĩ hai bên đă nằm lại nơi ấy, mảnh
đất chưa đầy 3 cây số vuông. Nếu thành cổ Quảng
Trị là cối xay thịt bộ đội th́ ḍng sông Thạch
Hăn đă từng được họ gọi là ḍng sông máu dưới
họng súng của Thủy Quân Lục Chiến, trở thành cảm
hứng cho bài thơ than khóc của chiến binh miền
bắc Lê Bá Đương:
“Đ̣ lên Thạch Hăn ơi chèo nhẹ
Đáy sông c̣n đó bạn tôi nằm
Có tuổi hai mươi thành sóng nước
Vỗ yên bờ măi măi ngàn năm.”
Được khởi công xây dựng từ thế kỷ 19, nếu tính
từ ngày đắp thành bằng đất cho đến ngày xây
tường kiên cố, thời gian trôi qua ngót 38 năm,
trải qua 2 triều đại Gia Long và Minh Mạng.
Thoạt đầu, thành được khởi công ở phường Tiền
Kiên, huyện Thuận Xương, tức Ái Tử ngày nay. Đến
năm Gia Long thứ 8 do địa thế thiếu tiện nghi
nên triều đ́nh đă cho di dời qua bờ bên kia của
sông Thạch Hăn, huyện Hải. Dưới thời Minh Mạng,
triều đ́nh đă đúc 9 đỉnh đồng lớn đặt ở chính
diện trong nội thành, biểu tượng của truyền
thống văn hiến và thượng vơ Lạc Việt. Nhưng phải
đến năm 1838 thành mới được xây kiên cố hơn bằng
đá núi, gạch nung, với chu vi 1.926 m, mỗi cạnh
500 m, tường cao 4 m với bề dày 12 . Hệ thống
hào chung quanh có chiều ngang 18.4 m, sâu 3.20
m. Như mọi thành khác, cổ thành Quảng Trị có 4
cửa tiền, hậu, tả, hữu. Tới thời cộng ḥa, thành
được cải danh là Đinh Công Tráng - tên một sĩ
phu nổi danh chống xâm lăng.
Văn bản trao tặng huân chương hôm 7-3-2009 không
kể chi tiết về trận tái chiếm cổ thành đầy máu,
nhưng trước đây nhà quân sử Trần Bá Đàm viết:
“Vào
ngày 23-8 sau cả ngày quần thảo với quân cố thủ
bất phân thắng bại, quân ta gh́m súng ở vị trí.
Trung Tá Tùng tiểu đoàn trưởng TĐ6 ra lệnh cho
trung sĩ Trịnh Thành Tấn biệt danh Tôn Tẫn thuộc
đại đội 3, dẫn một toán khinh binh xâm nhập vào
thành thám sát và dặn kỹ phải tự chế nổ súng.
Thi hành lệnh, Tấn nhờ bóng đêm đă dẫn thuộc cấp
bơi lặn qua hào nước, lăn ḅ luồn lách chốt gác
địch, quan sát rồi về tŕnh lên cấp chỉ huy lúc
9 giờ khuya. Báo cáo cho biết góc nam cổ thành
có 1 lỗ bom đủ người chui lọt, cách đó khoảng
20m có khúc bờ thành bị bom làm sạt lở dễ leo
qua. Địch cắt gác kép và đổi gác giờ lẻ, thắp
đèn thức truyện tṛ nói nhỏ với nhau rất thận
trọng và cảnh giác cao... Đến ngày 9-9 khi tiểu
đoàn Thần ưng tấn công tiến được đến sát chân
thành giao chiến với quân cố thủ giằng co quyết
liệt. Trung tá Tùng lại ra lệnh cho một bán tiểu
đội thuộc đại đội 4 gồm: trung sĩ Tŕnh trưởng
toán, là một hạ sĩ quan nổi tiếng can đảm, và
các binh nhất Tài, binh nh́ Sơn, Châu, Tâm,
Chương, giao nhiệm vụ xâm nhập vào thành lập đầu
cầu bằng cách chui qua ngả lỗ bom hoặc vượt khúc
bờ thành sạt lở kể trên để mở lối cho tiểu đoàn.
Toán cảm tử lại nương bóng đêm lặn lội qua hào
nước lạnh cóng v́ ảnh hưởng băo, kiếm được lổ kể
trên chui vào. Bất hạnh cho toán là vừa lọt vào
trong thành được khoảng 20 giây, là bị địch phát
giác bắn xả bằng súng AK và B40 trúng trung sĩ
Tŕnh, binh nhất Tài tử thương tại chỗ, rồi
chúng ào ra kéo xác xuống giao thông hào. Ngoài
ra c̣n gây trọng thương cho binh nh́ B́nh và
Chương, toán chỉ c̣n binh nh́ Sơn và Tâm sống
sót. Binh nh́ Tâm báo máy t́nh h́nh về đại đội,
liền được lệnh phải tử thủ cái lỗ bom này. Sau
đó kết quả đă giúp quân của đại đội 3 hàng một
chui vào đánh cận chiến hy sinh thêm 9 chiến sĩ
nữa, mới chiếm được khoảng 100m trong nội thành.
Đại đội 3 thực tế quân số chỉ c̣n 1 trung đội
nguyên vẹn, nhưng đă xuất thần giữ đầu cầu cho
tiểu đoàn 6. Nhờ đó, tiểu đoàn đă điều động được
các đại đội cơ hữu áp dụng thích ứng chiến thuật
từng ngày, tuần tự xâm nhập vào thành, sử dụng
lựu đạn, bắn trực xạ tiêu diệt các ổ kháng cự.
Trong lúc đó lại được chi đoàn thiết kỵ 2/20
điều động 05 chiến xa M48 đến sát chân thành, sử
dụng hoả lực ghim cứng lực lượng địch dưới giao
thông hào. Nhờ vậy, quân ta vào diệt gọn bằng
cận chiến tiểu liên, lựu đạn vv... nên đến ngày
15 tháng 9 , th́ tiểu đoàn đă quét sạch địch và
làm chủ được góc thành phía nam bằng đẫm máu mặn
xót xa...
Các mũi nhọn công thành xung trận cùng thời gian,
đă bị địch áp dụng chiến thuật tiền pháo, hậu
bung ra ngoài thành quyết nghênh cản tạo thế
ngang ngửa lúc đầu. Nhưng trước khí thế dũng
mănh của quân ta, địch đă yếu dần co cụm lại rồi
bị dứt điểm tóm lược kể sau: TĐ3 và TĐ7 thuộc
LĐ147 mặt bắc giao tranh ác liệt với đơn vị cố
thủ, đă phải dừng lại cách tường thành mấy trăm
mét để chỉnh đốn đội h́nh phản công. LĐ248 mặt
nam khả quan hơn, có TĐ 2 Trâu Điên tiến được
cách tường thành 400 m và TĐ1 Quái Điểu đă chiếm
được khu vực cầu ga cách tường thành 300 m. Quân
ta áp dụng chiến thuật khi địch ngưng pháo là
xông lên. Qua ngày thứ 2 TĐ6 Thần Ưng tiến sát
được cách tường thành 200 m và lúc đó c̣n phấn
khởi được chi đoàn 2/20 thuộc thiết đoàn 20
thiết kỵ tăng cường yểm trợ hữu hiệu. Qua ngày
thứ tư TĐ 2 Trâu Điên có vị chỉ huy nổi danh là
trung tá Nguyễn Xuân Phúc tiến được cách thành
200 m. Nói chung các mũi nhọn công thành khác
đều gian nguy giống nhau, áp dụng chiến thuât
khi địch ngưng pháo là quân tiến lên bám chặt
địa thế, thà hy sinh chứ không lui rồi cứ thế
lấn tới khép kín ṿng vây. Ác chiến tổng phản
công kéo dài từ ngày 9-9 đến sáng ngày 16-9-1972
th́ quân ta dứt điểm quét sạch địch, thượng quốc
kỳ lên nóc cổ thành, lập kỳ tích chiến thắng.”
*
Vào giờ ngừng bắn lúc 8 giờ sáng 27-1-1973
(giờ Saigon),
tất cả lính cộng sản đồn trú ở bên bờ bắc sông
Thạch Hăn, phần đất bên nầy sông do TQLC làm chủ.
Ở miệng sông là Cửa Việt, bên phía nam chỉ có
cồn cát, căn cứ Cửa Việt thuộc về bên kia, thông
thương với thị xă Đông Hà - nơi chiếu theo Hiệp
định Paris là một căn cứ tiếp liệu quân trang,
quân dụng, vũ khí, đạn dược quan trọng của cộng
sản. Hàng ngày có khoảng 10 tàu vận tải của
Trung quốc từ Bắc Việt vào Cửa Việt. Để tránh
địch quân dùng chiến xa tấn công bất ngờ các đơn
vị TQLC bố pḥng dọc bờ biển phiá Nam Cửa Việt,
phe ta đă đặt những băi ḿn chống chiến xa hàng
ngang dọc bờ biển. Nhưng những vụ lấn đất dành
dân vẫn xẩy ra.
Vào một ngày đầu tháng 2-1973 ấy, đám nhà báo
chiến trường chúng tôi đang ở Huế nhận được cái
tin nóng bỏng: TQLC tái chiếm mũi đất Cửa Việt
sau khi bị cộng sản vi phạm ngừng bắn và chiếm
cứ. Chúng tôi nhanh chóng nhảy lên trực thăng
bay ra tiền tuyến. Khi tàu hạ cánh xuống bờ biển
Gia Đẳng, tướng Lân đang chuẩn bị thuyết tŕnh
trước khi gởi nhà báo lên chụp ảnh làm chứng mũi
đất nam Cửa Việt thuộc quyền kiểm soát của miền
Nam. Hôm ấy là dịp đầu tiên tôi thấy tướng Lân
từ ngày tái chiếm, nhưng bẻ mặt v́ vụ chiếc nón
sắt trong cổ thành và bị tướng Lân xua, tôi bỏ
ra bờ biển một ḿnh nghịch sóng. Sau khi tan họp
báo, Lê Thanh Hiệp của thông tấn xă UPI ra bờ
nước gặp tôi, nói nhỏ,
“Ông Lân hỏi có phải mầy ngoài nầy không. Tao
nói phải. Ông ấy biểu tao ra nói mầy bỏ qua vụ
nón sắt đi, lo mà leo tàu đi chụp h́nh làm chứng
cho TQLC”.
May mà tôi đă tin lời Lê Thanh Hiệp. Nếu không,
tối hôm nay, có lẽ khi thiếu tướng William
Eshelman gắn huân chương cao quư ấy, tôi đă xấu
hổ trốn mặt. 37 năm sau, gặp lại một binh nhất
của quân lực Việt Nam Cộng Ḥa ở một nơi cách xa
tổ quốc nửa ṿng trái đất, một vị thiếu tướng đă
chững lại, rồi khẽ khàng:
-
"NgyThanh
đây phải không?".
Tôi đáp:
-
"Dạ, 36 năm 1 tháng kể từ lần gặp trước ở
trên bờ biển Gia Đẳng, Triệu Phong, Quảng Trị,
thưa Thiếu tướng!"
Tối hôm nay, tướng Bùi Thế Lân nhận một huân
chương, tới trễ những 37 năm, nhưng rồi vẫn đến.
Cũng tối hôm nay, tôi nhận được một câu nói phát
xuất từ tim một cụ già 77 tuổi. Thực t́nh tôi
không dám chờ cái vinh dự ấy. Nhưng v́ câu nói
mang đậm t́nh huynh đệ chi binh đă nói ra, tôi
thấy chẳng khác tôi cũng vừa nhận được cái huy
chương mặn nồng, để tự thấm thía tất cả những ǵ
mà ḿnh đă làm trong bốn năm dài khoác quân phục
và đứng cùng chiến hào với các chiến hữu của tôi.
-
NgyThanh