|
Chân dung những bà vợ
thời Việt Nam Cộng Hòa
*****
Phạm
Bá Hoa
Trong cuộc sống, sự thành công hay thất bại nào cũng
có cái giá của nó. Trong chiến tranh cũng vậy, cái giá của những chiến
tích lừng danh mà Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH) phải
trả, là những đồng đội đã hi sinh, những đồng đội khác đã để lại một phần thân thể trên khắp miền đất nước, và hệ lụy
dài lâu là những đứa trẻ vĩnh viễn xa cha. Người quân nhân hi sinh vì tổ quốc dân tộc, là sự hi sinh cao cả mà tổ quốc mãi mãi
ghi công.
Nhưng hình ảnh người quả phụ, với một nửa tâm hồn,
một nửa con tim, một nửa phần hơi thở, theo chồng lên đài tổ quốc ghi
công, và những nửa còn lại có trách nhiệm trang bị
cho các con một hành trang vào đời, phải được thừa nhận là sự hi sinh
không kém phần cao cả như người chồng dũng cảm nơi chiến
trường, r?t xứng đáng được kính trọng.
Cũng trong chiến tranh, chồng ở chiến trường, vợ ở
nhà quán xuyến công việc gia đình mà công việc gia đình nhiều đến nỗi có
những việc chưa kịp đặt tên, nhưng tất cả đều là
việc. Chăm sóc các con, chăm sóc tình thân gia đình quyến thuộc, chăm
sóc tình bạn bè bằng hữu. Ðể rồi, những giờ phút yên tĩnh về
đêm khi các con chìm trong giấc ngủ, mơ màng nghĩ đến chồng nơi chốn xa
xôi, hay đang trong chiến trường khốc liệt, với bao
khắc khoải lo âu, sầu muộn!
Rồi chiến tranh chấm dứt trong nỗi nghẹn ngào uất
hận, bởi đây là cuộc chiến mà cuối cùng “bị chấm dứt để thua trận”! Rồi
sau lời tuyên bố của vị Tổng Thống cuối cùng, h ng trăm
ngàn dân-quân-cán-chánh bỏ của chạy lấy người, tị nạn trên đất Mỹ, hơn
hai trăm ngàn dân-quân-cán-chánh lũ lượt bị lừa vào 200
trại tù trên khắp miền đất nước. Người 5 năm, 10 năm, 15 năm, thậm chí
17 năm ròng rã do lòng thù hận tột cùng của nhóm lãnh
đạo cộng sản Việt Nam. Hằng trăm ngàn gia đình di tản ngoại quốc cũng như hằng chục triệu gia đình còn lại trên quê hương,
tất cả đều hụt hẩng. Hụt hẩng vì cuộc sống trên đất người với biết bao
xa lạ trong một xã hội kỹ nghệ mà bước đầu chưa thể hội
nhập. Hụt hổng vì phút chốc, từ chế độ tự do bị đẩy vào chế độ độc tài
mà cả nước Việt Nam chẳng khác một nhà tù vĩ đại!
Trong cuộc đời tị nạn, vợ chồng con cái có cơ hội bên
nhau, cùng chia xẻ khổ đau, cùng gánh vác nhọc nhằn, cùng nhận chung
nỗi nhục! Nỗi nhục mất nước trong thân phận lưu vong!
Với những bà vợ Việt Nam, vốn sinh ra và trưởng thành trong xã hội nông
nghiệp, nay phải cùng chồng hội nhập vào xã hội kỹ
nghệ noi định cư, đã phải đêm đêm đếm bước từ bến xe công cộng về nhà trong màn tuyết lạnh sau những giờ nhọc nhằn nơi hãng
xưởng. Lạnh đến nỗi không biết giọt nước lăn trên má là nước mắt, hay
mảnh tuyết vừa tan!
Trong xã hội mà kẻ thắng trận đầy lòng thù hận, thì
gia đình ly tán, sự sống bị bóp nghẹt đến tận cùng của khổ đau, của nước
mắt! Cái chế độ mà những người lãnh đạo luôn miệng huênh
hoang là “dân chủ gấp trăm lần dân chủ tư bản”, lại bắt mọi người phải sống trong sự sợ hãi với những đôi mắt rình rập quanh
năm suốt tháng!
Riêng với những bà vợ ở lại mà chồng đã vào tù, còn
tệ hơn nhiều so với ba cảnh đời nói trên. Hằng ngày phải đối phó với bọn
cầm quyền địa phương, cái bọn mà đầu óc toàn đất sét
và rác rưởi, chỉ biết đàn áp để cướp đoạt, đồng thời phải chăm lo cuộc sống các con từng ngày, lo nuôi chồng từng tháng!
Và những bà vợ thời Việt Nam Cộng Hòa, hải ngoại hay
trong nước, thật sự là những người đàn bà Việt Nam rất can đảm khi
phải chịu đựng và vượt qua nỗi đau nỗi nhục đó! Ðau
đến nỗi không còn nước mắt để khóc, nhục đến nỗi chẳng còn lời để than!
Nếu đem so sánh giữa hai cảnh đời trong nước với
ngoài nước, thử hỏi: “Ai đau hơn ai và ai nhục hơn ai?” Xin thưa, không
ai đau hơn ai, cũng không ai nhục hơn ai! Vì nỗi đau nào
cũng có cái đau riêng của nó, nỗi nhục nào cũng có cái nhục riêng của
nó!
Xin những ông chồng diểm phúc, hãy nhìn lại đôi nét
về hình ảnh những bà vợ thời Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc sống khổ đau
thầm lặng đó: - Một bà vợ cùng con cầm giấy phép “gánh gạo” nuôi
chồng trên đất Bắc. Ba ngày đi, ba ngày về, 2 tiếng đồng hồ gặp gỡ! Khi
trở về cư xá Bắc Hải, nhà bị niêm phong với dòng chữ
“nhà vắng chủ”. Ðau đớn biết bao! Xót xa biết dường nào! Bỗng dưng
nhà bị mất! Bà gục đầu vào cửa! Bà cùng gia dình dang
định cư tại Houston , Texas .
- Một cảnh đau thương khác. Một bà vợ đã bao nhiêu
lần bị công an Phường ra lệnh đi khu kinh tế mới, nhưng bà vẫn không đi.
Chúng hành hạ bằng cách gọi bà đến văn phòng, bảo
ngồi đó từ đầu giờ đến cuối giờ, ngày nào cũng vậy, và ròng rã 6 tháng
như vậy. Một hôm chúng bảo đưa giấy tờ nhà để giải
quyết, chụp được hồ sơ, lập tức tên công an ra lệnh trong vòng 24 tiếng
đồng hồ bà phải ra khỏi nhà. “Ôi! Còn nỗi đau nào cao
hơn nỗi đau này trong cảnh đời thua trận!” Bà xiêu vẹo trên đường về nhà
cách đó mấy dãy nhà liên kế cũng trong cư xá Bắc Hải,
và gục ngã ngay trước nhà! Bà cùng gia đình định cư vùng Bắc California
.
- Một cảnh đau thương khác nữa. Một bà vợ có chồng bị
giam trên đất Bắc hằng chục năm trời, bỗng dưng mất liên lạc. Bà lặn
lội khắp các cơ quan tại Sài Gòn, Hà Nội, tốn kém,
mệt nhọc, nhưng hoàn toàn bặt tin. Nỗi buồn đến với bà quá sức chịu đựng
của người phụ nữ tuổi 50, mà có lúc bà cảm thấy như
mình đang bên bờ vực thẳm, rồi ngã dần xuống...... Bà bị tai biến mạch
máu não, nằm bất động một chổ. Nhiều tháng sau đó,
bất ngờ, người nhà của bà nhận được giấy phép thăm chồng, trại tù chỉ
cách nhà vỏn vẹn 1 cây số (khám Chí Hòa). Bạn bè
khiêng bà đến nhà tù. Cả hai -chồng đứng đó, vợ liệt toàn thân- chỉ biết
nhìn nhau, òa khóc...! Khóc cho mình! Khóc cho cuộc đời!
Phải chăng, mọi khổ đau trên cõi đời này đang bao quanh hai con người
đau khổ đó? Không. Không chỉ có vậy. Mà là tất cả
những bà vợ có chồng bị cộng sản giam giữ trong tù, tiêu biểu qua 3 cảnh
đời trên đây trong hàng vạn cảnh đời trên đất nước
Việt Nam, đều trong nỗi khổ tột cùng đó! Tình trạng bại liệt dó theo Bà
cùng chồng định cư tại Houston , nhung rồi Bà đã từ trần
năm 2004! Sài Gòn - Hà Nội 1.736 cây số, xe lửa tốc hành chạy
72 tiếng đồng hồ, tức 3 ngày 3 đêm. Mỗi người chỉ được mang theo 20 kí
lô lên xe lửa, mang nhiều hơn số đó phải hối lộ cho
một loạt nhân viên từ cổng vào cho đến nhân viên trên xe lửa. Hành lý
ngổn ngang cả trên lối đi giữa toa xe. Ban ngày cũng phải
lách từng bước chân vào chỗ trống. Còn ban đêm, thật khó mà tưởng
tượng! Hai băng ngồi đối diện, một băng 3 người. Hai
băng phía bên kia lối đi, mỗi băng 2 người ngồi. Hai đầu trên của hai
băng 6 người, máng được 3 cái võng cho 3 người, 1
người nằm co quắp trên sàn xe đen đúa nhầy nhụa giữa 2 băng đối diện,
và 2 người còn lại cũng nằm co quắp trên 2 băng ngồi.
Nếu nhìn toàn cảnh của toa xe sẽ thấy, băng ngồi đầy người nằm, những
chiếc võng bé xíu che kín trên đầu băng, cả lối đi
vốn dĩ đã nhỏ hẹp cũng đầy người nằm chen lẫn trong đống hành lý thật
hổn độn. Những bà vợ thăm chồng, mang theo hằng trăm kí lô,
biết bao là nhọc nhằn gian khổ! Giả thử, nếu những ông chồng chứng kiến
những hành khách nằm cong queo trong cái gọi là chiếc
võng kia, hay co quắp giữa những gói quà đầy ấp tình thương trên sàn
xe nhớp nhúa đó, là những bà vợ của mình, liệu có cầm
được nước mắt không? Nghe nói lại, nghe thuật lại, ông chồng nào cũng
đớn đau thương cảm cho tình cảnh những bà vợ quanh
năm gánh gạo nuôi chồng! Nhưng không có đớn đau thương cảm nào có
thể đem cân bằng nỗi đớn đau thương cảm của những bà
vợ trọn tình vẹn nghĩa như vậy được cả!
Tôi hình dung những bà vợ chúng ta qua hình ảnh trên
đây mà chính tôi trông thấy khi tôi ra trại tập trung, và từ Nam Định
về Sài Gòn bằng xe lửa.
Thưa quí vị, trên đây là một cố gắng dựng lại hình
ảnh “Những Bà Vợ Thời Việt Nam Cộng Hòa”, nếu không rõ nét thì ít ra
cũng là những nét chính của hình ảnh ấy, qua sự kết nối bốn
hợp phần sau đây: Hai hợp phần trong chiến tranh, là những bà vợ mà chồng đã hy sinh, và những bà vợ mà chồng đang chiến
đấu. Hai hợp phần sau chiến tranh, là những bà vợ cùng chồng con di tản ngoại quốc, và những bà vợ ở lại Việt Nam , vừa
nuôi con trong một xã hội đầy hận thù và kỳ thị, vừa nuôi chồng trong
những trại tập trung nghiệt ngã! Những cảnh đời bi thương,
những khổ đau sầu muộn, những nước mắt, mồ hôi, được khơi lên từ
những góc cạnh li ti trong hằng vạn hằng vạn cảnh đời
như vậy, mà những bà vợ thời Việt Nam Cộng Hòa chúng ta đã chịu đựng
trong những năm dài thật dài!
Quyển Chân Trời Dâu Bể của Giao Chỉ, kể chuyện trên
đất Mỹ, và quyển Giữa Dòng Nghịch Lũ của Duy Năng, kể chuyện trên
quê hương Việt Nam. Hai tác phẩm này trong một mức độ
nào đó, có thể xem là tiêu biểu cho rất nhiều tác phẩm dưới dạng chuyện kể thật bình thường, nhưng ôm ấp biết bao xót
xa thương cảm cho thân phận người phụ nữ Việt Nam sau ngày thua trận,
dù sống trong hai xã hội cách nhau nửa vòng trái đất.
Với tác phẩm của Duy Năng, người kể chuyện là bà Hàng phụng Hà. Bà là
một trong số hằng trăm ngàn bà vợ thăm nuôi chồng
trong tù. Ở phần kết, bà nói:
“...Các anh trong tù, khổ về vật chất và đau về tinh
thần đến vạn lần, điều đó chúng tôi biết. Nhưng, chúng tôi -những bà vợ
của các anh- đau khổ gấp ngàn cái vạn lần của các anh
nữa, các anh có biết không? Tôi không đề cao một bà vợ nào, mà tôi đề
cao tất cả những bà vợ thăm nuôi chồng trong các trại tù
cải tạo. Bởi vì: Họ, đã đứng vững trong phẩm giá Người Vợ Miền Nam . Họ,
rất xứng đáng được các anh kính trọng. Và Họ, chính
là vợ của các anh”.
Vì vậy mà các bạn trong tù đã không quá lời khi nói
với nhau rằng: “Ra tù, chúng ta phải cõng vợ chúng ta đi vòng quanh trái
đất, để đền bù đôi chút về sức chịu đựng biết bao nhọc
nhằn gian khổ đã nuôi các con và nuôi chúng mình. Bây giờ nhìn lại,
trong một ý nghĩa nào đó, những cựu tù nhân chính trị chúng ta
đã cõng vợ đi được nửa vòng trái đất rồi. Ðến ngày Việt Nam thật sự tự
do dân chủ, chúng ta sẽ cõng vợ trở về quê hương là trọn
vòng trái đất như đã tự hứa.
Với nét chân dung đó, tôi quả quyết rằng, những bà vợ
thời Việt Nam Cộng Hòa của chúng ta rất xứng đáng được vinh danh. Và
nếu quí đồng đội và quí vị đồng hương nào đồng ý với
tôi, chúng ta cùng nói to lên rằng: “Chúng tôi trân trọng vinh danh
Những Bà Vợ Thời Việt Nam Cộng Hòa, là những người đàn bà
cao cả, rất xứng đáng được kính trọng. Bởi trong hoàn cảnh nghiệt ngã
của chế độ độc tài cộng sản, nhưng đã đứng vững trong
phẩm giá Người Vợ Miền Nam, cùng lúc, chu toàn thiên chức làm Mẹ, và tròn bổn phận làm Con”.
Vinh danh bằng những tiếng nói ân tình bên tai vợ,
trao tặng vợ một bông hồng thật đẹp, hôn vợ những nụ hôn thật dài. Ðiều
đó luôn nhắc nhở ngu?i ch?ng trong cuộc sống thường
ngày, phải thể hiện lòng hiểu biết vợ mình nhiều hơn, cảm thông vợ mình
nhiều hơn, rồi quàng tay vào lưng vợ mình chặt hơn,
để cùng nhau đi suốt chiều dài cuộc sống lứa đôi thật mặn nồng, như chưa
bao giờ mặn nồng đến như vậy. Trường hợp vì lý do gì
đó mà bạn đang sống một mình, xin bạn hãy gắn bông hồng màu đỏ lên
nơi nào mà khi nằm nghỉ bạn đều trông thấy, để trao
tặng vợ khi đoàn tụ bên nhau. Hoặc sự trông thấy đó, sẽ giúp bạn có được
những giây phút sống lại những năm tháng mặn nồng
trong tình yêu vợ chồng thuở chung chăn chung gối, thuở mà hai người
dùng chung một tên.
Và thưa quí đồng hương, quí đồng đội, sau những năm
dài sống xa quê hương, tôi có nét nhìn về những bà vợ chúng ta như sau:
“trước 1975 những bà vợ là những cái bóng của chúng
ta, từ 1975 về sau những bà vợ là những người cộng tác đắc lực của
chúng ta, và trong nhiều trường hợp có những bà vợ
trở thành trụ cột của gia đình”. Phải không thưa quí vị?.
Houston , tháng 6 năm
2004
|