Anh Thư Đất Việt

Ba mươi năm nh́n lại cuộc chiến Việt nam trước năm 1975 người ta phải nhận ra một điều là cuộc chiến ấy đối với người dân miền nam là một cuộc chiến bảo vệ cho sự an vui, cho cuộc sống của chính ḿnh. Cho dù ngày nay người ta có khoác cho nó những ư nghĩa nào, chẳng hạn như cuộc chiến Quốc Cộng, cuộc chiến huynh đệ tương tàn, cuộc chiến tranh Ủy Nhiệm... th́ cũng không thể xóa đi được ư nghĩa bảo vệ một vùng đất tự do của dân tộc VN. Trong cuộc bảo vệ ấy, cả một thế hệ thanh niên nam nữ miền nam VN đă phải hy sinh tuổi trẻ của ḿnh để hy vọng một tương lai độc lập tự do ấm no hạnh phúc cho dân tộc và đất nước. Ngay cả khi cuộc chiến chấm dứt, thế hệ thanh niên ấy cũng c̣n phải tiếp tục chịu

NỮ QUÂN NHÂN QLVNCH

Thành lập vào năm 1965 (Trước đó có tên là Nữ Phụ Tá Xă Hội- LTS), văn pḥng trưởng đoàn Nữ Quân Nhân và Trung Tâm Huấn Luyện đặt tại đường Nguyễn Văn Thoại, trước gọi là vùng rừng cao su, trước đài Phát Tuyến ngay trên ranh giới quận 10 và quận 11 Saigon, nay là đường Lư Thường Kiệt. Ranh giới thiên nhiên nguyên là một hồ dài và hẹp từ trước ra cuối Trung Tâm sau này được Công Binh Hoa Kỳ cho lấp bằng tráng nhựa làm mặt sân thêm rộng răi.

Trưởng đoàn Nữ Quân Nhân kiêm Chỉ Huy trưởng TTHL/NQN đầu tiên là Thiếu Tá Trần Cẩm Hương cho đến ngày 1 tháng 4 năm 1975 nghỉ hưu đáo hạn tuổi, cấp bậc chị mang là Đại Tá.

Trưởng Đoàn thứ hai và cuối cùng là chị Lưu Thị Huỳnh Mai, nguyên Thiếu Tá, Phân Đoàn Trưởng Nữ Quân Nhân Cơ Quan Trung Ương thuộc Bộ TTM được thuyên chuyển về văn pḥng Trưởng Đoàn NQN thăng cấp Trung Tá từ ngày 1 tháng 1 năm 1975 thay thế Đại Tá Trần Cẩm Hương từ ngày 1 tháng 4 năm 1975.

Trung Tâm Huấn Luyện Nữ Quân Nhân đảm nhận việc tuyển mộ phụ nữ từ 18 tuổi trở lên, t́nh nguyện gia nhập quân đội và huấn luyện căn bản quân sự như về tổ chức quân đội, cơ bản thao diễn v.v... Nhiệm vụ Nữ Quân Nhân là không tác chiến nên chỉ được học ít giờ làm quen với vũ khí do Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung đảm nhận.

Sau phần căn bản quân sự, tùy nhu cầu quân số do bộ TTM ấn định, khóa sinh tốt nghiệp sẽ được thụ huấn chuyên môn tại các trường Tổng Quản Trị, trường Quân Y, trường Hành Chánh Tài Chánh, trường Quân Nhu, trường Xă Hội v.v...

Đến năm 1966, việc tuyển mộ Nữ Quân Nhân do các Trung Tâm Tuyển Mộ phụ trách và chuyển nữ tân binh đến Trung Tâm Huấn Luyện Nữ Quân Nhân để trang bị và thụ huấn căn bản quân sự.

Nữ Quân Nhân được tuyển theo bằng cấp. Trung học đệ nhất cấp và Tú Tài I được huấn luyện trở thành Hạ sĩ quan trong quân đội(Trung Sĩ) cho đến năm sau mới có khóa sĩ quan đầu tiên từ những Hạ sĩ quan có bằng Tú tài hoặc tuyển mộ mới.

Cũng tùy theo nhu cầu quân số do Bộ TTM ấn định, việc tuyển mộ và huấn luyện NQN được tiếp tục phát triển hàng năm. Đến năm 1968, lệnh tăng quân số cho phép tuyển mộ thêm NQN hàng binh sĩ, chỉ cần biết đọc biết viết và đầy đủ sức khỏe là được nhận tại các Trung tâm tuyển mộ và sau đó được chuyển đến trường Nữ Quân Nhân.

Thời gian huấn luyện căn bản quân sự cũng được rút ngắn c̣n trong ṿng một tháng thay v́ sáu tuần lễ như trước. Số binh sĩ này được sung vào ngành Kiểm Soát An Ninh và Tài Xế (Ưu tiên nhận các quả phụ tử sĩ).

Năm 1967, Văn Pḥng Trưởng Đoàn NQN được chuyển về Bộ TTM, trực thuộc Văn Pḥng Tham Mưu Phó Nhân Viên, c̣n TTHL/NQN trở thành trường Nữ Quân Nhân trực thuộc Tổng Cục Quân Huấn như các trường và các Trung tâm Huấn Luyện khác của QLVNCH.

Trường NQN huấn luyện trong 10 năm các khóa Căn Bản Quân Sự cho binh sĩ, hạ sĩ quan (không nhớ được mấy khóa tất ca)Ư. Riêng về Sĩ Quan NQN th́ được 7 khóa tốt nghiệp và đến nửa chừng khóa 8 th́ biến cố 30.4.75 xẩy ra.

Ngoài ra trường NQN cũng huấn luyện thêm các khóa sau

Một khóa cho HSQ nguyên là Nữ Phụ Tá trước vốn chưa qua khóa căn bản quân sự nào từ ngày nhập ngũ.
Bốn khóa Căn Bản Sĩ Quan cho Nữ Điều Dưỡng Không Quân do Bộ Tư Lệnh Không Quân gửi đến.

Hai khóa Căn Bản Sĩ Quan cho Nữ Sĩ Quan cảnh Sát do Bộ Tư Lệnh Cảnh Sát yêu cầu

Về quân phục của Nữ Quân Nhân th́ từ năm 1969 về sau quân phục của NQN là mầu xanh da trời, lễ phục mầu trắng đồng kiểu với quân phục mầu xanh làm việc nhưng tay dài 3/4.

Quân phục nỉ mầu xanh thẫm cho các vùng lạnh. Lễ phục khi xuất ngoại vẫn là Worsted Kaki.

Tất cả NQN đều được phát một áo len đen dài tay để dùng khi trời trở lạnh, mặc ngoài quân phục xanh làm việc. Mũ NQN không c̣n mẫu Calo mà có kiểu như Nữ Chiêu Đăi Viên hàng không, màu xanh thẫm. Nữ Quân Nhân mang giầy đen có gót cao 5 phân khi mặc quân phục làm việc hay lễ phục.

Nữ Quân Nhân để tóc ngắn, không dài quá cổ áo.

Thời gian thụ huấn tại trường NQN, khóa sinh phải mặc quân phục tác chiến, mũ vải, giầy vải đen có cổ. Cuối tuần xuất trại chị em được mặc thường phục.

Mỗi khóa sinh ngoài hai bộ quân phục tác chiến mặc khi thụ huấn, được may đo hai bộ quân phục xanh làm việc. Tại trường NQN, chị em được trang bị mũ, ví cầm tay mầu đen, huy hiệu đoàn NQN và một đôi giầy đen gót cao 5 phân trước khi măn khóa.

Đoàn Nữ Quân Nhân cũng được huấn luyện ở hải ngoại. Một số sĩ quan đă được đưa sang Hoa Kỳ để được thụ huấn trong các quân trường như Khóa Sĩ Quan Căn Bản Nữ Quân Nhân Lục Quân Hoa Kỳ tại Fort Mc Clellen, Alabama, Khóa Sĩ Quan cao cấp Nữ Quân Nhân Lục Quân Hoa Kỳ cũng tại Fort Mc Clellen, Alabama, khóa Dân Sự Vụ tại Fort Gordon, Georgia, khóa Sĩ Quan Chiến Tranh Chính Trị tại Fort Bragg, North Carolina, các khóa về nhân viên, tuyển mộ, tổng quản trị tại Fort Benjamin Harrison, Indiana.

Riêng bốn khóa Nữ Điều dưỡng Không Quân sau khi tốt nghiệp Căn Bản Sĩ Quan tại trường NQN th́ được Bộ Tư Lệnh Không Quân gửi đi thụ huấn nghiệp vụ tại Texas, Hoa Kỳ.

Cuối cùng th́ trong đoàn đă có 5 Hạ Sĩ Quan nguyên làm thông dịch viên quân đội được đưa sang trường Nữ Quân Nhân Lục Quân Hoa Kỳ tại Fort Mc Clellen, Alabama để thụ huấn khóa sĩ quan căn bản. Khi về nước được thăng cấp Chuẩn Úy trước khi khóa 1 Sĩ Quan NQN măn khóa.

Về tổ chức của Đoàn NQN gồm có:

Một văn Pḥng Trưởng Đoàn trực thuộc Văn Pḥng Tham Mưu Phó Nhân Viên của bộ TTM.
Trường Nữ Quân Nhân trực thuộc Tổng Cục Quân huấn bộ TTM
Các văn pḥng Phân Đoàn trưởng NQN Quân Đoàn/ Vùng Chiến thuật trực thuộc các Bộ Tư Lệnh QĐ/VCT
Các Văn Pḥng Phân Đoàn Trưởng NQN Không Quân Hải quân trực thuộc các Bộ Tư lệnh Quân Chủng.
Các Văn Pḥng Chi Đoàn Trưởng NQN trực thuộc Bộ Tư Lệnh Tiểu Khu và Quân Chủng.
Nữ Quân Nhân phục vụ tại các đơn vị Quân Binh Chủng thuộc quân số các đơn vị ấy và chịu sự giám sát về quân phong quân kỷ của Chi Đoàn Trưởng, Phân Đoàn trưởng liên hệ.

Trước ngày 30.4.1975, quân số NQN trên lư thuyết là 10,000 người và đă thực hiện được trên 6,000. Riêng về Sĩ Quan th́ có khoảng 600 kể cả cấp Chuẩn Úy.

Trên đây là những ǵ tôi nhớ và viết lại trong khoảng thời gian từ 1965 cho đến 30.4.1975 tôi phục vụ liên tục tại trường NQN. Tất nhiên là c̣n rất nhiều thiếu sót nên mong được sự bổ túc của chị em NQN ở hải ngoại. Xin liên lạc với chúng tôi ở số điện thoại (405) 691-0235.

Hồ Thị Vẻ

PHỤ NỮ TRONG QUÂN ĐỘI

Với tinh thần trách nhiệm cao và óc sáng tạo nên bất cứ ở ngành nào, quân binh chủng nào, người NQN/ QLVNCH cũng đem hết khả năng để phục vụ nên đă có nhiều kinh nghiệm và đạt được nhiều thành quả tốt đẹp. Chúng tôi đă vươn lên sau 10 năm, 20 năm để có thể ngang bằng với các cấp chỉ huy nam quân nhân mà nhận lănh nhiều trọng trách ở hậu phương.

Nữ Quân Nhân chúng tôi đă có những chiến sĩ nhẩy dù gan dạ, những chiến sĩ trong các ngành truyền tin, tham mưu hay trong những nghề chuyên môn như y tá, nha tá, dược tá, chuyên viên thí nghiệm, tiếp huyết và các nữ điều dưỡng trong quân đội cũng như những người mang đến t́nh thương giáo dục cho các cô nhi của Tử Sĩ. Chúng tôi chỉ thua nam giới trong lănh vực tác chiến v́ qui chế của chúng tôi không ấn định.

Cuộc đời binh nghiệp của chúng tôi đang b́nh yên, đang cùng nam giới xây dựng một quân đội hùng mạnh, hậu phương và tiền tuyến cùng hoạt động nhịp nhàng th́ có ai ngờ một ngày cuối tháng Tư đen đă làm sụp đổ tất cả những ǵ đă gầy dựng, làm dở dang mọi chương tŕnh và kế hoạch đang trên đà thăng tiến của QLVNCH nói riêng và cả một chính thể VNCH nói chung.

Sau khi CS cưỡng chiếm miền nam, ngoài một số ít các chị may mắn thoát được, di tản sang Hoa Kỳ, c̣n phần đông chị em bị kẹt lại đă bị Cộng Sản lùa hết vào các “Trại Tập Trung Cải Tạo”. Kể sao cho hết những nỗi ê chề, đau khổ về tinh thần cũng như vật chất trong lao tù của CS. Chị em chúng tôi chịu đựng, người 2,3 năm kẻ 4,5 năm, chỉ tội một ḿnh chị Cẩm Hương, người chị cả trong gia đ́nh NQN, tuy tháng 4/75 đă nghỉ hưu mà vẫn bị CS cầm tù đến 10 năm trời. Khi được tha về một năm sau th́ chị mất sau một cơn bạo bệnh.

Chị em chúng tôi lần lượt được thả về, đau đớn và chua xót làm sao khi nhà ḿnh ở từ nhỏ đến giờ lại chỉ được ở với tư cách tạm trú và sau đó đều bị buộc phải đi vùng kinh tế mới của CS. Tuy nhiên nhiều chị em vẫn ĺ bám lấy ngôi nhà cũ, mưu sinh nơi các chợ trời v́ tên bị xóa trong sổ hộ khẩu. Thỉnh thoảng lại thấy một chị vắng mặt, vài tuần sau lại nhận được tin từ Mă Lai, Nam Dương, Phi Luật tân, Thái Lan của các chị ấy báo tin lành... Tuy nhiên cũng có nhiều chị em không được may mắn như vậy. Có chị ra đi năm lần bẩy lượt lại cũng về chốn cũ, có khi im hơi lặng tiếng luôn trong ḷng Đại dương, có khi bị bắt lại mắc ṿng lao lư dăm ba năm nữa. Nhưng chúng tôi vẫn không hề nản, cứ tiếp tục t́m cách ra đi cho đến ngày được tin chính phủ Hoa Kỳ can thiệp sẽ được ra đi trong các chương tŕnh H.O.

Nay th́ gần ba mươi năm trôi qua, chị em chúng tôi những kẻ c̣n lại hầu hết đă sang được bến bờ tự do nhưng vẫn không thể nào quên được một chặng đường lịch sử hăi hùng...

Huỳnh Mai