|
NHỮNG ĐỒNG MINH ANH
HÙNG
Nguyên bản Anh ngữ "Heroic Allies"
của Harry F. Noyes III được đăng trong
nguyệt san "Vietnam",
phát hành vào
tháng 8 năm 1993
Do Ngô Kỷ chuyển ngữ để kính tặng và tri
ân sự chiến đấu dũng cảm và tuyệt vời
của những Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam
Cộng Ḥa
***
Họ dáng người th́ nhỏ nhắn, nói chuyện
bằng những âm ngữ líu lo, thường chan
nước mắm vào thức ăn và hay cầm lấy tay
nhau.
Chẳng ai ngạc nhiên lắm khi thấy những
quân nhân Mỹ gởi qua Đông Nam Á - phần
lớn họ c̣n rất trẻ, có một kiến thức
nông cạn, được đào tạo trong một xă hội
vị kỷ và hiểu rất ít về những nền văn
hóa khác - họ không cảm thông được tâm
trạng của các binh sĩ Việt Nam Cộng Ḥa
(VNCH).
Thật đau ḷng khi có nhiều cựu chiến
binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam lại
đi cấu kết với cái đám phản chiến cấp
tiến, những tên trốn quân dịch và bọn
chính khách hoạt đầu xúm nhau bôi nhọ
danh dự của một Quân Lực đă chẳng c̣n có
cơ hội để được tự bào chữa. Nhục mạ một
quân đội đă sa cơ trên chiến trường v́
bị Hoa Kỳ phản bội là một hành động đê
tiện và bất xứng của những người Hoa Kỳ.
Có thể một số quư vị sẽ ngạc nhiên về lư
luận của tôi. Làm sao tôi có thể biện hộ
cho quân lực VNCH được? Phải chăng tất
cả binh sĩ VNCH đều thuộc loại bất tài,
xảo trá và hèn nhát? Không, không phải
vậỵ Trong bài này tôi sẽ vạch ra một số
bằng chứng xác đáng để phản bác lại cái
luận điệu đê hèn đó và phân tích lư do
tại sao cái luận điệu đó phát sinh. Dĩ
nhiên, quân đội VNCH không toàn hảo. Họ
cũng có một số lănh đạo tồi tệ, một số
lính tráng hèn nhát, vài ba lần hoảng
hốt bỏ chạy, xằng bậy và hung bạo. Tuy
nhiên, các điều này cũng đă từng xảy ra
đối với quân đội Hoa Kỳ tham chiến tại
Đông Nam Á. Trong một số lănh vực như:
tổ chức, tiếp vận, tham mưu và chỉ huy,
quân đội VNCH thua kém quân đội Hoa Kỳ
thật. Nhưng họ làm ǵ khác hơn được khi
đất nước họ là đất nước đang phát triển,
họ mới giành độc lập từ tay chế độ thuộc
địa và bất ngờ lao vào một trận chiến
khốc liệt, đối đầu với kẻ thù hung hăng
được vũ trang hùng hậu từ cả khối Cộng
Sản? Thật ra, các khuyết điểm của quân
đội VNCH có cũng giống như các khuyết
điểm mà quân đội Hoa Kỳ mắc phải trong
Trận Chiến Dành Độc Lập, dù rằng Hoa Kỳ
vào thời cuối thế kỷ 18 đó có nhiều lợi
điểm hơn, như: - Tầm vóc của Cuộc Cách
Mạng Dành Độc Lập hạn hẹp hơn và dễ điều
khiển hơn. - Khác với sự bị trị của Việt
Nam, Hoa Kỳ qua kinh nghiệm bị trị đă
nuôi dưỡng tinh thần tự trị địa phương
và tạo thuận lợi cho quốc gia đào tạo
nên những nhà lănh đạo ưu tú. - Quân đội
Hoàng Gia Anh không bền bỉ như quân đội
Bắc Việt. -
Có phải các binh sĩ Hoa Kỳ giỏi giang
hơn các chiến hữu đồng minh của họ đến
độ người Mỹ đối xử miền Nam Việt Nam với
một thái độ khinh rẻ như vậy.Câu trả lời
cho cả hai câu hỏi trên là: "Không!"
Bằng chứng cho câu trả lời đó thật rơ
ràng. Ư đồ Tổng Công Kích Tết Mậu Thân
của Cộng quân là bẻ gẫy ư chí pḥ̣ng thủ
của miền Nam Việt Nam. Nhưng chúng đă
thất bại, binh sĩ VNCH đă chống trả một
cách quyết liệt và hữu hiệu: không một
đơn vị nào bị tan ră hay tháo chạỵ Thậm
chí cảnh sát cũng đă chiến đấu, họ dùng
cả súng lục để bắn lại bộ đội chính quy
của Bắc Việt trong khi những người bộ
đội CS này th́ lại được vơ trang với vũ
khí hạng nặng. Theo báo cáo cho thấy là
vào thời điểm đó, số người t́nh nguyện
nhập ngũ lên quá cao, đến nỗi chính phủ
phải ngưng tuyển mộ lính trong một thời
gian.
Trong trận chiến Mùa Hè Đỏ Lửa 1972, các
binh sĩ VNCH bị vây hăm tại An Lộc đă
anh dũng tử thủ chống trả lại lực lượng
hùng hậu của địch, cùng với những trận
mưa pháo bất tận, và cuối cùng họ đă đè
bẹp được những trận tấn công liên tục
của các chiến xa địch quân. Sau đó, tôi
được một cố vấn Mỹ kể lại chuyện một
tiểu đội bộ binh VNCH được lệnh phải phá
hủy 3 chiếc xe tăng của địch. Ông kể: -
Các binh sĩ của tiểu đội này phá hủy
được một chiếc xe tăng, rồi sau đó họ
lại tự quyết định bắt sống hai chiếc xe
tăng kia. Họ rượt bộ và bắt được thêm
một chiếc nữa, c̣n chiếc kia th́ chạy
thoát. Khi trở về pḥ̣ng tuyến, họ bị
khiển trách nặng nề.. v́ đă để chiếc xe
tăng kia tẩu thoát."Tuy hành động của
tiểu đội lính này không đúng với quân kỷ
lắm, nhưng cái hành động đó đă nói lên
tinh thần chiến đấu cao độ và sáng kiến
tác chiến của rất nhiều binh sĩ VNCH.
Chắc chắn sự kiện trên không thể hổ trợ
luận điệu cáo buộc họ hèn nhát được.
Một chứng cớ điển h́nh hơn, trong những
giờ phút cuối cùng của miền Nam Việt Nam
năm 1975, khi mà nỗi tuyệt vọng bao trùm
lên cả đất nước họ, khi mà biết rơ rằng
Hoa Kỳ sẽ không yểm trợ ǵ nữa (ngay cả
nhiên liệu và đạn dược); ấy thế mà một
sư đoàn VNCH đă anh dũng cầm cự chiến
đấu với bốn sư đoàn quân Bắc Việt trong
suốt hai tuần lễ tại Xuân Lộc. Trên mọi
b́nh diện, trận chiến Xuân Lộc đó cũng
hào hùng như bất cứ trận chiến nào trong
quân sử Hoa Kỳ. Các binh sĩ VNCH cuối
cùng đă phải rút lui v́ không lực của họ
không c̣n bom cluster để yểm trợ cho lực
lượng bộ binh đụng trận dưới đất.
Có lần tôi được coi một phim tài liệu
truyền h́nh nói về một người phóng viên
Úc đặc trách quay phim chiến trường.
Khác với các phóng viên Mỹ, ông ta dành
nhiều th́ giờ theo sát binh sĩ VNCH. Ông
ta công nhận tinh thần chiến đấu anh
dũng của họ, và để minh chứng điều đó,
ông đă cho tŕnh chiếu cả cuốn phim. Ông
ta nhớ lại rằng, trong chuyến thăm viếng
một khu làng do địch quân kiểm soát, ông
được nghe kể rằng Cộng Sản sợ binh sĩ
VNCH hơn là sợ binh sĩ Mỹ. Cái lư do
chính là binh sĩ Mỹ quá ồn ào, do đó
địch quân luôn nghe trước được đường
tiến quân của họ. Làm sao có được điều
so sánh này nếu trên thực tế các binh sĩ
VNCH không thuộc loại lính thiện chiến.
Tuy nhiên, cái chứng cớ quan trọng nhất
để chứng minh tinh thần chiến đấu cao độ
của binh sĩ VNCH nằm trong hai sự kiện
thật đơn giản và rơ ràng sau đây, dù
rằng các sự kiện này thường bị làm ngơ
hoặc giả vờ không biết nhằm che đậy sự
thất bại của Hoa Kỳ tại Việt Nam.
Sự kiện thứ nhất: Chiến tranh đă bắt đầu
từ 7 năm trước khi quân đội tác chiến
Hoa Kỳ bước chân vào Việt Nam, và trận
chiến đó vẫn tiếp tục kéo dài suốt 5 năm
sau khi Hoa Kỳ rút quân. Phải có những
người đứng ra chiến đấu trong thời gian
đó, và không ai khác hơn là các binh sĩ
VNCH.
Sự kiện thứ hai: Có độ 1/4 triệu binh sĩ
VNCH hy sinh trong cuộc chiến. Nếu đem
so sánh tỷ lệ dân số hai nước, th́ con
số này phải tương đương với khoảng hai
triệu người Mỹ chết (gấp đôi tổng số
thương vong của tất cả cuộc chiến Hoa Kỳ
cộng lại). Bạn không thể tổn thất lớn
lao như vậy nếu bạn không thực sự chiến
đấu. Thế th́ tại sao thanh danh quân đội
VNCH lại bị xúc phạm nặng nề như vậy ?
Dĩ nhiên quân đội VNCH cũng có một số
lần chiến đấu kém hiệu năng hoặc bị
khủng hoảng, nhưng các trường hợp này
cũng từng xảy ra trong quân đội Hoa Kỳ.
Tôi biết một vị chỉ huy đơn vị pháo binh
Hoa Kỳ đă có lần ra lệnh trực xạ vào
địch quân v́ lực lượng bộ binh Mỹ "bảo
vệ" cho căn cứ pháo binh đă hốt hoảng
tháo chạy trước hỏa lực hùng hậu của
địch. Sự kiện trên không có nghĩa là
toàn thể quân đội Hoa Kỳ hèn nhát, và
đôi lần thất bại của binh sĩ VNCH cũng
không có nghĩa là toàn thể quân đội VNCH
hèn nhát. Dù vậy, người ta lại rất dễ
tin như thế khi được nghe kể lại từ
chính miệng các cựu chiến binh Hoa Kỳ
hoặc từ các chính trị gia nhằm chạy tội
cho chính phủ Hoa Kỳ về việc bỏ rơi miền
Nam Việt Nam trong cơn hấp hối.
Sự thật của vấn đề được diễn tả khéo
nhất qua mẩu đối thoại cách đây gần hai
thế kỷ khi một mệnh phụ Anh hỏi Quận
Công Wellington rằng: "Có bao giờ quân
Anh tháo chạy trên chiến trường không?"
Vị Thiết Quận Công này trả lời: "Thưa
bà, tất cả binh sĩ đều bỏ chạy trên
chiến trường." Chỉ cần lướt qua quân sử
cũng đủ để xác nhận điều này.
Trong suốt cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ, chúng
ta đă thấy rất nhiều tấm gương can đảm
nhưng cũng không thiếu ǵ các hành động
khiếp nhược. Trên mặt trận, lúc đầu binh
sĩ của hai phe Nam Bắc đều chiến đấu rất
dũng cảm, rồi pḥ̣ng tuyến vỡ, rồi bỏ
chạy, rồi tái phối trí và chiến đấu trở
lại. Không có quân đội nào được xem là
có ḷng hy sinh anh hùng hơn họ, nhưng
những binh sĩ tham dự trận nội chiến này
cũng không tránh khỏi những lúc thất
điên bát đảo, và đó cũng là chuyện
thường t́nh trên chiến trường.. Tác giả
S.L.Ạ Marshall đă tường thuật chuyện một
đại đội lính Mỹ trong Đệ Nhị Thế Chiến
đă tháo chạy tán loạn trước tiếng la ré
xung phong của một toán lính Nhật. Nhưng
đại đội lính Mỹ khác th́ lại tiếp tục
chiến đấu, giết sạch hết toán lính Nhật
(độ 10 người), và khám phá ra rằng hầu
hết những tên lính Nhật này không vơ
trang ǵ cả. Nếu chuyện trên xảy ra cho
một đơn vị quân đội VNCH, th́ chắc chắn
những kẻ muốn bôi nhọ quân đội này sẽ
lợi dụng đó như là một "cơ hội bằng
vàng" để mạ lị rằng toàn thể quân lực
VNCH là hèn nhát. Tại sao vậy ? Tôi đă
nêu ra câu trả lời rồi. Tất cả tùy thuộc
vào màu da và ngôn ngữ của các binh sĩ
liên hệ. Sự thật bỉ ổi là việc mạ lị
quân đội VNCH lại xuất phát từ tinh thần
kỳ thị chủng tộc và bồng bột của nền văn
hóa Hoa Kỳ.
Tôi có thể làm chứng cho việc xuyên tạc
đầy ác ư và phổ quát này.
Khi vừa đến Việt Nam vào tháng 6 năm
1969, tôi đă chứng kiến ngay sự ngu ngơ
và thái độ khinh bỉ của một số người Mỹ
đối với nhân dân và quân đội VNCH. Cái
thái độ đó nằm trong mọi tập thể quân
nhân da trắng lẫn da đen, trong các giới
dân sự cũng như kư giả Hoa Kỳ. Phong
trào thù ghét đất nước và nhân dân Việt
Nam bị lan tràn như một thứ bệnh dịch
truyền nhiễm đáng ngạc nhiên. Tôi quen
một viên đại úy Hoa Kỳ tốt nghiệp về môn
điện ảnh từ một viện đại học danh tiếng
(một ngành chuyên môn được dùng để giúp
nâng cao tŕnh độ nhận thức quan sát).
Khi viên đại úy này trở lại đơn vị sau
một chuyến công tác ngắn tại Thái Lan,
anh ta ca ngợi đáo để dân tộc Thái Lan.
Anh nói rằng: "Dân Thái Lan cho con cái
đi học khác hẳn với dân Việt Nam". Anh
ta ngạc nhiên nhưng lại không lộ vẻ hối
hận khi tôi chỉ cho anh thấy một ngôi
trường Việt Nam sát nách doanh trại
chúng tôi. Bất cứ ai có mắt cũng đều
thấy hàng trăm em học sinh mặc đồng phục
quần xanh áo trắng qua lại mỗi ngày, chỉ
trừ anh chàng phim ảnh này không nh́n
thấy các em mà thôi.Thật là mỉa mai khi
người Việt Nam có tiếng hiếu học hơn
người Mỹ, và miền Nam Việt Nam đă nâng
cao được mức biết đọc biết viết từ 20%
lên 80% trong khi đất nước chiến tranh
triền miên (và mặc dù Cộng Sản chủ
trương giết hại các giáo chức), thế mà
lại bị anh chàng phim ảnh này cho rằng
Việt Nam không có trường học. V́ bị gởi
đi chinh chiến xa xôi và bị cách biệt
gia đ́nh, nên anh Mỹ này nảy sinh ḷng
oán ghét Việt Nam, và tạo nên thành kiến
rằng mọi người Việt Nam đều đáng khinh.
Do đó, trong đầu anh cứ ám ảnh là Việt
Nam không có trường học, dần rồi cái tâm
lư bệnh hoạn đó đă làm hư đi cái khả
năng nhận thức và đánh lừa cả thị giác
của anh. Hăy tưởng tượng cái tâm trạng
của một tập thể lính Mỹ ít học, sống
giữa một nền văn hóa xa lạ và thần kinh
lúc nào cũng bị căng thẳng ra sao ?! Có
lẽ chúng ta không nên trách cứ những
người lính thiếu học này, lỗi là do nơi
các cấp chỉ huy Hoa Kỳ đă huấn luyện họ
hiểu một cách mơ hồ về đất nước Việt Nam
cũng như về thực chất của cuộc chiến.
Tuy nhiên, đó không phải là cái cớ để
các cựu chiến binh Mỹ huênh hoang rằng
họ hiểu những cái mà họ đă thấy tại Việt
Nam. Các cựu chiến binh Mỹ từng tham
chiến tại Việt Nam cần được vinh danh về
các đức tính can đảm, hy sinh, ái quốc
của họ. Nhưng can đảm và hy sinh không
đồng nghĩa với kiến thức. Đánh giặc tại
Việt Nam không làm cho những người lính
này trở thành những chuyên viên thông
thạo về đất nước hoặc cuộc chiến Việt
Nam, cũng như việc mang nặng đẻ đau
không thể biến người đàn bà trở thành
một chuyên gia về thai nhi học được.
Giới truyền thông Mỹ cũng chẳng khá ǵ
hơn. Trong một phóng sự đầy thành kiến,
tôi nghe một phóng viên lên án Không Lực
VNCH - dù đă được tân trang qua chương
tŕnh Việt Nam Hóa Chiến Tranh - thế mà
lại "đẩy cho Không Quân Hoa Kỳ" thực
hiện những phi vụ nguy hiểm ngoài Bắc
Việt. Trên thực tế Hoa Kỳ không muốn
Không Quân VNCH bay ra Bắc (chỉ trừ vài
phi vụ oanh tạc ban đầu). Các nhà lănh
đạo Hoa Kỳ muốn kiểm soát kế hoạch oanh
tạc để dùng nó như một lá bài thương
thuyết. V́ không muốn miền Nam Việt Nam
có bất cứ quyền kiểm soát nào trong
chính sách oanh tạc, Hoa Kỳ đă trang bị
cho Không Quân VNCH những vật dụng không
thích hợp cho các phi vụ ra Bắc. Miền
Nam Việt Nam không được cung cấp oanh
tạc chiến đấu cơ, phi cơ tiếp liệu trên
không, vũ khí hay các dụng cụ điện tử
cần thiết cho các phi vụ này. Đó là
quyết định của người Mỹ. Câu hỏi đặt ra
là có phải người phóng viên truyền h́nh
nêu trên dốt đặc về sự kiện đó hay giả
vờ không biết nhằm đi hạ nhục những đồng
minh của Hoa Kỳ. Dựa vào các lời lẽ lố
bịch, chói tai và thanh âm của anh ta,
tôi kết luận rằng anh ta chủ mưu làm như
vậỵ. Một thí dụ khác nói lên cái thành
kiến của giới truyền thông, đó là trận
chiến vây hăm Khe Sanh. Nếu bạn đi hỏi
một ngàn người Mỹ từng nghe biết về trận
đánh này rằng đơn vị nào chiến đấu tại
Khe Sanh, th́ có lẽ hầu hết đều trả lời
là Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ. Nhưng sẽ
làm họ ngạc nhiên nếu có một người trong
số ngàn người đó nói rằng có một tiểu
đoàn Biệt Động Quân VNCH đă cùng chia sẻ
nỗi gian lao với các đồng minh Thủy Quân
Lực Chiến Hoa Kỳ trong trận chiến ngặt
nghèo đó. Có nhiều đơn vị VNCH khác cũng
đă hổ trợ chiến đấu bên ngoài ṿng đai
căn cứ Khe Sanh.. Giới truyền thông Mỹ
không đếm xỉa đề cập đến các chiến hữu
đồng minh của Hoa Kỳ, mà họ chỉ để ư đến
những điều bê bối thôi, bởi vậy những
binh sĩ VNCH chiến đấu cam khổ này đă bị
trở thành những chiến sĩ "vô h́nh" của
Khe Sanh. Tất cả thành kiến - trong quân
đội cũng như trong truyền thông - được
thể hiện rơ ràng qua các bản tin chiến
sự về cuộc hành quân Hạ Lào năm 1972.
Trong cuốn phim tài liệu truyền h́nh
mười năm trước đây, có một đoạn phỏng
vấn lính Mỹ trong lúc chiến trường Hạ
Lào đang tiếp diễn. Các lính Mỹ được
phỏng vấn này đang sống an toàn tại hậu
cứ Nam Việt Nam. Họ "giải thích" về sự
chiến đấu của quân đội VNCH với những
lời lẽ khinh bỉ và kỳ thị. Thế mà sau đó
người phóng viên này đă ca ngợi khen mấy
người lính G.I Mỹ đó am tường về t́nh
h́nh chiến sự hơn là các nhà tướng lănh
Hoa Kỳ. Trận Hạ Lào đă trở thành đề tài
v́ nó có liên quan đến một tấm h́nh có
cảnh người lính VNCH bám vào cái càng
máy bay trực thăng để trốn chạy khỏi
chiến trường. Tấm h́nh này bị bêu riếu
khắp nước Mỹ ngày này qua tháng nọ như
là một "bằng chứng" về sự khiếp nhược
của quân lực VNCH. Thực tế, đây là một
tṛ cổ điển nói lên mănh lực của sự
xuyên tạc h́nh ảnh. Thật ra th́ sự việc
nó diễn tiến như sau : Binh sĩ VNCH bị
tấn công bởi một lực lượng Cộng quân
hùng hậu. Quân đội Hoa Kỳ đă thất bại
trong việc yểm trợ như đă hứa v́ hỏa lực
pḥng không của địch quá mạnh. Những báo
cáo cho biết là lính trên trực thăng đă
đạp những thùng đạn đại bác từ cao độ
5,000 feet xuống với hy vọng chúng sẽ
rơi vào ṿng đai của quân đội VNCH. Các
trực thăng đó đă không thể nào bay thấp
hơn được. Đại tá Robert Monelli, một sĩ
quan Hoa Kỳ có mặt trong mặt trận đó đă
kể lại trên báo Armed Forces Journal số
19 tháng 4 năm 1972 như sau: "Một tiểu
đoàn VNCH với 420 binh sĩ bi bao vây
liên tiếp trong ba ngày bởi một trung
đoàn Cộng Sản độ 2,500 đến 3,000 tên.
Quân đội Hoa Kỳ không thể tiếp tế cho họ
được. Họ phải chiến đấu cho tới khi gần
hết đạn, rồi mở đường máu bằng khí giới
tịch thu của địch. Họ đă mang theo tất
cả binh sĩ bị thương và cả một số xác
chết. Không ảnh thám sát chụp được rơ
ràng có 637 xác địch rải rác chung quanh
căn cứ. Về phía quân đội VNCH, tiểu đoàn
trên chỉ c̣n lại có 253 binh sĩ sau khi
đến được ṿng đai bạn. Chừng 17 người
trong số binh sĩ này bị khủng hoảng và
đă bám vào càng trực thăng để chạy trốn,
số binh sĩ c̣n lại th́ không làm như
vậỵ" Bây giờ, có thể một số người cho
rằng hành động bám vào càng trực thăng
đang bay và dễ làm mồi cho hỏa lực pḥng
không địch là một hành động gan dạ. Hăy
xếp đề tài đó qua một bên, tôi muốn đề
cập đến việc là tại sao chỉ có một
trường hợp riêng lẻ như vậy - xáp lá cà
mở đường máu rút lui (được coi là một
chiến thuật khó khăn nhất trong binh
thư) lại bị thổi phồng để đi lên án cả
một quân lực, cả một quốc gia, cả một
dân tộc? Câu trả lời là tại v́ kỳ thị
chủng tộc. Các người lính VNCH bám lủng
lẳng vào trực thăng bị coi là những tên
ngoại quốc hợm hĩnh. Nhưng nếu là lính
Mỹ, hay cả lính Anh, th́ hành động này
đă gây được ḷng trắc ẩn v́ được biện
minh rằng họ vừa trải qua một cuộc thử
thách đầy cam go. Bằng cớ cho lập luận
này có thể thấy được qua cái phản ứng
của người Mỹ đối với cuộc rút lui của
binh sĩ Hoàng Gia Anh trong những ngày
đầu của trận Đệ Nhị Thế Chiến. Từng có
một số lần nhục nhă đă xảy ra trong quân
đội Hoàng Gia Anh tại Dunkirk và nhiều
nơi khác. Tại Dunkirk, một trung sĩ trên
một chiếc tàu cấp cứu đă chĩa súng tiểu
liên vào các binh sĩ khủng hoảng để duy
tŕ trật tự. Trên một con thuyền khác,
binh sĩ phải dùng báng súng đánh vào đầu
một viên sĩ quan để ông ta khỏi leo qua
mép thuyền làm nước tràn vào. Tại Crete,
một lữ đoàn Tân Tây Lan phải lập ṿng
đai an toàn quanh biển bằng dao găm để
ngăn chặn binh sĩ Hoàng Gia Anh tràn
ngập lên thuyền. Cái h́nh ảnh quân đội
Hoàng Gia Anh đơn thân độc mă chống lại
Hitler năm 1940 th́ ca ngợi là một biểu
tượng đầy đủ dữ kiện, c̣n những trường
hợp riêng lẻ như các trường hợp kể trên
không được phép làm hoen ố cái bức tranh
toàn cảnh dũng cảm và tận tụy của những
người lính chiến. Thành thật mà nói th́
quân đội VNCH đă chiến đấu một cách tầm
thường trong những ngày cuối cùng của
cuộc chiến, ngoại trừ trận đánh hào hùng
và tuyệt cú tại mặt trận Xuân Lộc.
Nói vậy chứ nó cũng có những nguyên do
của nó. Và cũng có nhiều yếu tố để ta
tin rằng nếu nhận được sự yểm trợ chân
thành từ phía Hoa Kỳ, quân đội VNCH đă
có thể tạo được những trận thư hùng như
kiểu Xuân Lộc, và không chừng ngay cả
việc họ đă cứu văn được đất nước. Vấn đề
đặt ra đây một lần nữa không phải đề bàn
đến cách ứng xử của miền Nam Việt Nam,
nhưng chính là đem so sánh cách ứng xử
của họ với Hoa Kỳ để xem liệu Hoa Kỳ ứng
xử ra sao nếu Hoa Kỳ bị nằm trong một
hoàn cảnh, t́nh huống tương tự. Và thật
sự - nếu binh sĩ Hoa Kỳ bị bỏ rơi giống
như Hoa Kỳ đă cắt viện trợ Miền Nam Việt
Nam một cách nặng nề trong năm 1974,
nhiều tháng trước khi địch quân mở những
trận tổng công kích lần chót. Hậu quả là
chỉ có rất ít nhiên liệu và đạn dược
cung cấp cho miền Nam Việt Nam. Phi cơ
và quân xa của VNCH bị nằm ụ v́ thiếu
phụ tùng. Binh sĩ phải ra trận với máy
truyền tin mà không có batteries, và các
toán cứu thương thiếu cả các loại thuốc
thang căn bản. Pháo binh th́ bị giới hạn
bắn được ba trái đạn mỗi ngày trong ngày
cuối cùng của cuộc chiến. T́nh trạng bi
đát đến nỗi tư lệnh quân đội Bắc Việt
xâm lăng miền Nam Việt Nam, tướng Văn
Tiến Dũng cũng thừa nhận rằng khả năng
di động và hỏa lực của quân đội VNCH đă
sút giảm phân nửa. Bên cạnh những ảnh
hưởng trực tiếp về vật chất, chúng ta
cũng phải để ư đến những tác hại tinh
thần đối với các binh sĩ VNCH. Lợi dụng
t́nh thế bi thảm này, quân đội Bắc Việt
đă ào ạt tấn công với đầy đủ vũ khí tối
tân, chiến xa và đại bác di động. Vâng,
quân đội VNCH đă bại vong. Họ đă vất bỏ
các chiến cụ (phần lớn đă không c̣n dùng
được v́ thiếu phụ tùng) và một số đạn
dược (số đạn mà họ đă dành dụm tối đa
cho đến khi nó trở thành quá muộn để
bắn, bởi v́ họ biết rằng sẽ không bao
giờ nhận được tiếp tế nữa). Vậy th́ lỗi
của ai ? Của họ... .hay của Hoa Kỳ ?
Vâng, miền Nam Việt Nam rút quân khỏi
các tỉnh cao nguyên e có phần trễ và
vụng về, đưa đến sự khủng hoảng và sụp
đổ. Nhưng làm sao chính phủ miền Nam
Việt Nam lại cam tâm bỏ rơi đồng bào họ
sớm hơn trước được, khi mà địch quân
chưa tung ra một áp lực nào ? Đă có lúc
miền Nam Việt Nam hy vọng oanh tạc cơ
B52 Hoa Kỳ sẽ trở lại giúp họ ngăn chặn
làn sóng tiến quân của Cộng Sản. Nhưng
khi rơ ràng là việc này sẽ không xảy ra,
binh sĩ trở nên hoang mang là một điều
dễ hiểu thôi. Tinh thần chiến đấu suy
sụp, nhiều binh sĩ bị bỏ ngũ - không
phải họ hèn nhát hay không muốn chiến
đấu bảo vệ tổ quốc, nhưng bởi v́ họ
không muốn chết một cách vô ích trong
khi gia đ́nh đang cần.Liệu Hoa Kỳ đă có
thể làm ǵ khá hơn nếu ở trong t́nh
trạng y hệt miền Nam Việt Nam thời 1975
? Liệu các đơn vị Hoa Kỳ có tiếp tục
hăng say chiến đấu trong lúc quân xa và
hệ thống truyền tin th́ hư hỏng, y tế
th́ què quặt, nhiên liệu và đạn dược th́
thiếu thốn, không được máy bay yểm trợ -
lại phải đương đầu trước một địch quân
hùng hậu hỏa lực, đầy đủ tiếp liệu và
tinh thần phấn khởi ? Tôi không tin như
vậy. Liệu miền Nam Việt Nam có thể chiến
thắng vào năm 1975 nếu chính phủ Hoa Kỳ
tiếp tục viện trợ cho họ một số lượng
tương đương với số tiếp liệu mà khối
Cộng Sản đổ vào Bắc Việt ? Câu trả lời
không ai biết được. Nhưng chắc chắn một
điều là họ cũng có được cơ hội chiến đấu
b́nh đẳng, thế mà Hoa Kỳ đă phản bội
tước đi cái cơ hội này của họ. Chắc chắn
họ đă có thể chiến đấu một cách hiệu quả
hơn. Rồi dù có thua, họ cũng thua một
cách hào hùng trong một trận chiến để
đời, và biết đâu đă chẳng tạo được một
cuộc kháng chiến thần thánh như A Phú
Hăn. Ví dù miền Nam Việt Nam có bị đại
bại hoàn toàn, cái yểm trợ tận lực của
Hoa Kỳ sẽ cho phép người Mỹ nhún vai và
nói rằng họ đă cố gắng hết sức. Nhưng,
Hoa Kỳ đă không tận lực, mà trái lại
người Mỹ lại c̣n cố gắng che đậy sự thật
bằng cách bôi nhọ miền Nam Việt Nam và
nhục mạ quân lực VNCH đă sai lầm. Bây
giờ đă quá trễ để Hoa Kỳ chuộc lại tội
ác tầy trời khi bỏ rơi nhân dân miền Nam
Việt Nam vào tay Cộng Sản. Nhưng nó chưa
quá trễ để Hoa Kỳ thú nhận lỗi lầm trong
việc nhục mạ họ. Và cũng chưa quá trễ để
bắt đầu vinh danh các thành quả và ḷng
dũng cảm của những binh sĩ VNCH đă chiến
đấu bảo vệ lư tưởng tự do. Ngô Kỷ chuyển
ngữ
HEROIC ALLIES by Harry F. Noyes
III"Vietnam" - August 1993
--------------------------------------------------------------------------------
They were small, talked in sing-song
squeaks, put a smelly fish sauce on
their food, and often held hands with
each other.
It is not surprising that American
troops sent to Southeast Asia -- mostly
young, indifferently educated, and
molded by a society with too much
self-esteem and too little understanding
of other cultures -- found it hard to
empathize with South Vietnam's soldiers.
Still, it is a pity that many veterans
of the Vietnam War have joined radical
agitators, draft dodgers and
smoke-screen politicians to besmirch the
honor of an army that can no longer
defend itself. To slander an army that
died in battle because America abandoned
it is a contemptible deed, unworthy of
American soldiers.
Perhaps some find my assertion
incredible. How can I possibly defend
the armed forces of South Vietnam?
Everybody "knows" they were incompetent,
treacherous and cowardly, isn't that so?
No, it is not. This article will outline
some of the more compelling evidence
against this scurrilous mythology and
also examine why such a mythology arose
to begin with.
Of course, the South Vietnamese forces
were imperfect. They had their share of
bad leaders, cowardly troops, and
incidents of panic, blundering and
brutality. So did the American forces in
Southeast Asia.
In some respects -- organization,
logistics, staff work and leadership --
South Vietnam's armed forces did lag
behind U.S. forces. But how could one
expect otherwise in a developing nation
that had just emerged from colonialism
and was suddenly plunged into a war to
the death against a powerful enemy
supplied by the Communist bloc?
In fact, many of the weaknesses
exhibited by the South Vietnamese forces
were identical to the ones displayed by
the U.S. armed forces during the
American War of Independence, even
though late 18th-century America had
several advantages: the whole scale of
the Revolutionary War was smaller and
easier to manage; America's colonial
experience, unlike Vietnam's, had
fostered local self-government and
permitted the country to develop some
truly outstanding leaders; the British
were less persistent than the North
Vietnamese; and the French allies did
not abandon young America the way the
U.S. government abandoned South Vietnam.
But in any case, organization,
logistics, staff work and even
leadership are not the qualities at
issue in the slandering of the South
Vietnamese forces.
Two questions touch on the real issue.
Were South Vietnamese fighting men so
lacking in character, courage, toughness
and patriotism that Americans are
justified in slandering them and
assigning them all blame for the defeat
of freedom in Southeast Asia? Were U.S.
soldiers so much better than their
allies that Americans can afford to
treat the South Vietnamese with
contempt? The answer to both questions,
I submit, is a resounding "No!"
The objective "big-picture" evidence is
clear. The Tet Offensive of 1968 was
supposed to crack South Vietnam's will
to resist. Instead, South Vietnamese
forces fought ferociously and
effectively: no unit collapsed or ran.
Even the police fought, turning their
pistols against heavily armed enemy
regulars. Afterward the number of South
Vietnamese enlistments rose so high,
according to reports at the time, that
the country's government suspended the
draft call for a while.
In the 1972 Easter tide Offensive,
isolated South Vietnamese troops at An
Loc held out against overwhelming enemy
forces and artillery/rocket fire for
days, defeating repeated tank assaults.
I later met a U.S. adviser who described
how a South Vietnamese infantry squad in
his area was sent to destroy three enemy
tanks. The members of the squad
dutifully destroyed one tank, then
decided to capture the other two. As I
remember, they got one, but the other
made its escape, with the South
Vietnamese chasing it down a road on
foot. The soldiers got chewed out upon
returning...for letting one tank get
away. The squad's performance may not be
the best demonstration of military
discipline, but the incident
demonstrates the high morale and
initiative that many South Vietnamese
soldiers possessed. Certainly it does
not support charges of cowardice.
As further evidence, consider South
Vietnam's final moments as an
independent nation in 1975, when
justifiable despair gripped the country
because it became clear that the United
States would provide no help (not even
fuel and ammunition). Yet one
division-sized South Vietnamese unit
held off four North Vietnamese divisions
for some two weeks in fierce fighting at
Xuan Loc. By all accounts, that battle
was as heroic as anything in the annals
of U.S. military history. The South
Vietnamese finally had to withdraw when
their air force ran out of cluster bombs
for supporting the ground troops.
Once I saw a television documentary
about an Australian cameraman who had
covered the war. Unlike U.S. reporters,
he spent much of his time with the South
Vietnamese forces. He attested to their
fighting spirit and showed film footage
to prove it. He also recalled visiting
an enemy-controlled village and being
told that the Communists feared South
Vietnamese troops more than Americans.
The principal reason was that Americans
were noisy, so the enemy always heard
them coming. But that would have been
immaterial if the South Vietnamese had
not also been dangerous fighters.
However, the most important evidence of
South Vietnamese soldiers' willingness
to fight comes from two simple,
undeniable, "big-picture" facts -- facts
that are often ignored or disguised to
cover up American failure in Vietnam.
Fact One: The war began some seven years
before major American combat forces
arrived and continued for some five
years after the U.S. began withdrawing.
Somebody was doing the fighting, and
that somebody was the South Vietnamese.
Fact Two: The South Vietnamese armed
forces lost about a quarter-million
dead. In proportion to population, that
was equivalent to some 2 million
American dead (double the actual U.S.
losses in all wars combined). You don't
suffer that way if you're not fighting.
How, then, did the South Vietnamese get
their bad reputation?
Certainly there were occasional displays
of incompetence and panic by South
Vietnamese forces. The same can be said
of U.S. forces. I knew an American
artillery commander whose gunners once
had to defend their firebase by firing
canister point-bank into enemy ranks
because the U.S. infantry company
"protecting" them had broken in the face
of the enemy assault and was huddling,
panic-stricken, in the midst of the
guns.
That incident does not mean the whole
U.S. Army was cowardly, and occasional
breakdowns among America's allies did
not mean all South Vietnamese soldiers
were cowards. Yet one would think so,
the way the story gets told by some
veterans -- and by the political
apologists for a U.S. government that
left South Vietnam in the lurch.
The truth of the matter was best stated
nearly two centuries ago when a British
woman asked the Duke of Wellington if
British soldiers were ever known to run
in battle. "Madam," replied the Iron
Duke, "All soldiers run in battle."
Even a cursory study of military history
confirms this. Civil War battles reveal
a continuous ebb and flow of bravery and
fear, as Confederate and Union units
alike first attacked bravely, then
crumbled and fled under horrendous fire,
before regrouping and charging again. No
armies ever laid more justified claim to
sheer self-sacrificing heroism than
those two, yet they were subject to
panic as a routine price for doing
bloody business on the battlefield.
Author S.L.A. Marshall describes how one
American rifle company in World War II
fled in panic from a screaming Japanese
banzai charge: a second unit fought on,
quickly killing every Japanese soldier
involved (about 10), and discovered that
most of them were not even armed.
If the same thing had happened to a
South Vietnamese unit, it undoubtedly
would have been cited repeatedly by
self-appointed pundits as
incontrovertible proof of the cowardice
of all South Vietnamese troops.
Why? We've already hinted at the answer.
It all depends on the color and native
tongue of the troops involved. The ugly
truth is that the South Vietnamese
forces' false reputation is rooted in
American racism and cultural chauvinism.
I can personally attest to the
pervading, massive and truth-distorting
reality of the phenomenon. When I
arrived in Vietnam in June 1969, I
immediately began to witness continuous
displays of ignorance and contempt by
some Americans toward the Vietnamese
people and their armed forces.
White troops, black troops, and civilian
Americans such as journalists -- all
were equally afflicted. This passionate
hatred of Vietnam and its people had an
astonishing power to become contagious.
I knew an American captain with a
graduate degree from a prestigious
university in cinematography (presumably
a specialty that improves visual
perceptiveness). He once returned from
temporary duty in Thailand singing the
praises of the Thai.
"They send their kids to school," he
said, contrasting them with the South
Vietnamese. He was surprised, but not
repentant, when I pointed out that there
was a Vietnamese school right next door
to our compound! Hundreds of little kids
in bright blue-and-white school uniforms
could be seen there daily -- by anyone
whose eyes were open. But this filmmaker
apparently could not see them.
It is ironic that the Vietnamese -- who
by reputation honor learning more than
Americans do and who raised South
Vietnam's literacy rate from about 20
percent to 80 percent even as war raged
around them (and despite the enemy's
habit of murdering teachers) -- were
accused by the filmmaker of having no
schools.
Because he was fighting in a foreign
country and was separated from his
family, this American had built up a
hatred for Vietnam, and he wanted to
believe the Vietnamese people were
contemptible. Therefore, it was
important to him to believe that they
had no schools; and his emotions
literally interdicted his optic nerves.
Imagine the feelings of the
undereducated masses of American troops
faced with a strange culture in a
high-stress environment! Perhaps one
cannot blame the troops for their
ignorance. Heaven knows the U.S. command
made only the most perfunctory effort to
educate them about Vietnam and the
nature of the war.
However, that is no excuse for veterans
to pretend that they understand what
they saw in Vietnam. America's Vietnam
veterans must be honored for their
courage, sacrifice and loyalty to their
country. But courage and sacrifice are
not the same as knowledge. Fighting in
Vietnam didn't make soldiers into
experts on the country or the war, any
more than having a baby makes a woman an
expert on embryology.
What most U.S. soldiers did there taught
them little or nothing about South
Vietnam's culture, society, politics,
etc. Few Americans spoke more than a
half-dozen words of Vietnamese; even
fewer read Vietnamese books and
newspapers; and not many more read books
about Vietnam in English.
Except for advisers, few Americans
worked with any Vietnamese other than
(perhaps) the clerks, laundresses and
waitresses employed by U.S. forces.
Most important for our purpose, few U.S.
troops ever observed South Vietnamese
forces in combat. Even the ones who did
rarely considered the attitude
differences that must have existed
between soldiers like the Americans, who
only had to get through one year and
knew their families were safe at home,
and troops like the South Vietnamese,
who had to worry about their families'
safety every day and who knew that only
death or grievous wounds would release
them from the army. The Vietnamese
naturally used a different measuring
stick to determine what was important in
fighting the war.
Journalists were no better. Consider a
biased TV report I heard in which a
reporter denounced South Vietnam's air
force because -- despite Vietnamization
-- it "let the Americans" fly the tough
missions against North Vietnam.
In fact, it was the United States that
would not let the South Vietnamese fly
into North Vietnam (except for a few
missions in the early days of the
bombing). The American leaders wanted to
control the bombing so that the United
States could use it as a negotiating
tool.
Not wanting the South Vietnamese to have
any control over bombing policy, the
U.S. forces deliberately gave them
equipment unsuited for missions up
North. South Vietnam did not get the
fighter-bombers, weapons, refueling
aircraft or electronic-warfare equipment
necessary for such missions. It was an
American decision.
The TV reporter in question either was
ignorant of that fact or chose to ignore
it in order to do a hatchet job on the
American allies. Considering his
blatantly biased words and tone of
voice, I concluded that any ignorance he
suffered from was deliberate.
Another example of media bias came
during the Khe Sanh siege. If you asked
a thousand Americans which units fought
at Khe Sanh, most of those who had heard
of the battle would probably know that
U.S. Marines did. But it would be
surprising if more than one out of the
thousand knew that a South Vietnamese
Ranger battalion had shared the rigors
of the siege with American Marines.
Other South Vietnamese units took part
in supporting operations outside the
besieged area. The U.S. media just did
not consider the American allies worthy
of coverage unless they were doing
something shameful, so these
hard-fighting soldiers became quite
literally the invisible heroes of Khe
Sanh.
All this -- soldier and media bias --
came together clearly during news
reports of the 1972 incursion into Laos.
Consider a TV documentary a decade ago.
It included film of some American GIs
being interviewed during the Laotian
fighting. These guys, themselves safely
inside South Vietnam, were "explaining"
the South Vietnamese army's struggle in
contemptuous, racist remarks. The
reporter then suggested that these
American GIs understood the situation
better than the American generals.
The incursion, of course, is the source
of the infamous photo of a South
Vietnamese soldier escaping from Laos by
clinging to a helicopter skid. This
image was and is held up to Americans
again and again as "proof" of South
Vietnamese unworthiness.
In fact, it is a classic example of
photography's power to lie. What
happened was this: The South Vietnamese
were struck by overwhelming Communist
forces. The U.S.military failed to
provide the support that had been
promised because enemy anti-aircraft
fire was too strong. There were reports
of U.S. helicopter crews kicking boxes
of howitzer ammunition out the doors
from 5,000 feet up, hoping the stuff
would land inside South Vietnamese
perimeters. The helicopters simply
couldn't get any closer.
Given that context, consider the way
Colonel Robert Molinelli, an American
officer who witnessed the action,
described it in the Armed Forces Journal
of April 19, 1971: "A South Vietnamese
battalion of 420 men was surrounded by
an enemy regiment of 2,500-3,300 men for
three days. The U.S. could not get
supplies to the unit. It fought till it
ran low on ammunition, then battled its
way out of the encirclement using
captured enemy weapons and ammunition.
It carried all of its wounded and some
of its dead with it. Reconnaissance
photos showed 637 visible enemy dead
around its position.
The unit was down to 253 effectives when
it reached another South Vietnamese
perimeter. Some 17 of those men did
panic and rode helicopter skids to
escape. The rest did not.
Now, some might consider dangling from a
high-flying, fast-moving helicopter for
many miles, subject to anti-aircraft
fire, to be a pretty gutsy move. But,
aside from that, how can such an
isolated incident -- during a
hard-fought withdrawal-while-in-contact
(universally acknowledged to be just
about the toughest maneuver in the
military inventory) -- be inflated into
condemnation of an entire army, nation
and population?
The answer is racism. The guys hanging
from the helicopter skids were
funny-looking foreigners. If they had
been Americans, or even British, the
reaction undoubtedly would have been one
of compassion for the ordeal they had
been through..
Evidence for this is found in how
Americans responded to the British
retreats early in World War II.
There were some disgraceful displays
among British forces at Dunkirk and
elsewhere. At Dunkirk a sergeant in one
evacuation boat had to aim a submachine
gun at his panicky charges to keep order
on board. On another boat soldiers had
to pummel an officer with their weapons
to keep him from climbing over the
gunwale and swamping the boat. In Crete,
a New Zealand brigade had to ring its
assigned embarkation beach with a cordon
of bayonets to keep fear-stricken
English troops from swarming over the
boats.
Yet the image of Britain's lonely stand
against Hitler in 1940 is one of
heroism. That's perfectly justified by
the facts, and isolated incidents like
the ones described above should not
detract from the overall picture of
courage and devotion.
It is certainly true that South
Vietnamese forces gave an
undistinguished performance in the final
days, with the exception of the
incredibly heroic defense of Xuan Loc.
Yet there are reasons for that. And
there are reasons to believe that, with
more loyal support from the Americans,
the South Vietnamese could have turned
in more Xuan Loc-style performances and
perhaps even have saved their country.
The real issue again is not just how the
South Vietnamese performed, however; it
is how their performance compared with
the way Americans might have performed
under similar circumstances..
And the truth is that American troops --
if they were abandoned by the U.S. the
way South Vietnamese were -- probably
would perform no better than the South
Vietnamese did.
Remember: the United States had cut aid
to South Vietnam drastically in 1974,
months before the final enemy offensive.
As a result, only a little fuel and
ammunition were being sent to South
Vietnam. South Vietnamese air and ground
vehicles were immobilized by lack of
spare parts. Troops went into battle
without batteries for their radios, and
their medics lacked basic supplies.
South Vietnamese rifles and artillery
pieces were rationed to three rounds of
ammunition per day in the last months of
the war.
The situation was so bad that even the
North Vietnamese commander who conquered
South Vietnam, General Van Tien Dung,
admitted his enemy's mobility and
firepower had been cut in half.. Aside
from the direct physical effect, we must
take into account the impact this
impoverishment had on South Vietnamese
soldiers' morale.
Into this miserable state of affairs the
North Vietnamese slashed, with a
well-equipped, well-supplied
tank-and-motorized-infantry blitzkrieg..
Yes, the South Vietnamese folded. Yes,
they abandoned some equipment (much of
which would not work anyway for lack of
spare parts) and some ammunition (which
they had hoarded until it was too late
to shoot it or move it, because they
knew they would never get any more). So
whose fault was that? Theirs... or
America's?
Yes, South Vietnam's withdrawal from the
vulnerable northern provinces was
belated and clumsy, leading to panic and
collapse. But how could the South
Vietnamese government have abandoned its
people any earlier, before the enemy
literally forced it to?
For a while the South Vietnamese hoped
the American B-52s would return and help
stem the Communist tide. When it became
clear they would not, understandable
demoralization set in.
The fighting spirit of the forces was
sapped, and many South Vietnamese
soldiers deserted -- not because they
were cowards or were not willing to
fight for their country, but because
they were unwilling to die for a lost
cause when their families desperately
needed them.
Would Americans do any better under the
conditions that faced the South
Vietnamese in 1975? Would U.S. units
fight well with broken vehicles and
communications, a crippled medical
system, inadequate fuel and ammunition,
and little or no air support -- against
a powerful, well-supplied and confident
foe? I doubt it.
Would the South Vietnamese have won in
1975 if the U.S. government had kept up
its side of the bargain and continued
matching the aid poured into North
Vietnamese by the Communists?
The answer is unknowable. Certainly they
would have had a fighting chance,
something the U.S. betrayal denied them.
Certainly they could have fought more
effectively. Even if defeated, they
might have gone down heroically in a
fight that could have formed the basis
for a nation-building legend and for
continued resistance against Communism
on the Afghan model.
Even if the South Vietnamese had been
totally defeated, wholehearted U.S.
support would have enabled Americans to
shrug and say they had done their best.
However, the U.S. did not do its best,
and for Americans to try to disguise
that fact by slandering the memory of
South Vietnam and its army is wrong.
It is too late now for Americans to make
good the terrible crime committed in
abandoning the South Vietnamese people
to Communism. But it is not too late to
acknowledge the error of American
insults to their memory. It is not too
late to begin paying proper honor to
their achievements and their heroic
attempt to defend their liberty.
TƯỞNG NIỆM THÁNG TƯ ĐEN
"30 tháng 4 năm 1975, ngày định mệnh đă
đưa dân tộc Việt Nam rẽ qua một khúc
quanh lịch sử bi thảm nhất. Là người tỵ
nạn Cộng sản, chúng ta xót xa cho thân
phận quê hương và thao thức về những
tang thương của đất nước.
Hồi tưởng về quá khứ, chúng ta thành tâm
biết ơn và nguyện cầu cho vong linh các
Chiến Sĩ Việt Nam Cộng Ḥa đă vị quốc
vong thân được siêu thoát. Chúng ta vinh
danh những Tướng Lănh và hàng ngàn Chiến
Sĩ Vô Danh đă chấp nhận cái chết hào
hùng không hàng phục giặc để giữ vẹn khí
tiết bất khuất của con cháu Hoàng Diệu,
Nguyễn Tri Phương, Trần B́nh Trọng.
Chúng ta cảm phục và chia sẻ những khốn
khổ tủi nhục của hàng trăm ngàn cựu Tù
Nhân Chính Trị đă chịu đựng tại các lao
tù khắc nghiệt Cộng sản. Chúng ta ngậm
ngùi tưởng niệm những đồng bào thân yêu
xấu số đă vùi thây nơi biển cả mênh
mông, hay bỏ xác nơi núi rừng hoang vu
trên đường đi t́m ánh sáng tự do.
Chúng ta cầu xin Ơn Trên đoái thương đến
84 triệu đồng bào ruột thịt đang sống
lầm than cơ cực nơi quê nhà sớm hưởng
được một đời sống tự do,dân chủ, ấm no,
hạnh phúc và nhân bản."
(Ngô Kỷ)
Chú thích h́nh ảnh:
Ba bức tượng chiến sĩ Việt Nam Cộng Ḥa,
Hoa Kỳ và Nữ Cứu Thương do Ngô Kỷ thực
hiện một cách gọn nhẹ và "dă chiến" vào
năm 2000 để dễ dàng và thuện tiện di
chuyển đến hầu hết tiểu bang nước Mỹ
trong các năm qua. Ba bức tượng này đă
được trưng bày tại các tiểu bang lớn như
New York, Philadelphia, Hoa Thịnh Đốn
v.v…để vinh danh sự chiến đấu anh dũng
hào hùng của Quân Lực Việt Nam Cộng Ḥa
và Đồng Minh Hoa Kỳ trong công cuộc
chiến đấu bảo vệ tự do cho miền Nam Việt
Nam trước 1975. Ba bức tượng này hiện
nay được đặt tại Khu Hội Cựu Tù Nhân
Chính Trị Việt Nam vùng Bắc California.
|
|
|
|
|