|
Sàig̣n không c̣n
ngày
Buổi tối,
tôi leo lên sân thượng. Trời tối đen, có một sư im lặng sâu
thẳm. Nhưng trong bóng đêm, tôi đă nghe rơ được tiếng của im
lặng. Cái im lặng của cơi đêm, của một trống rỗng, của một
hố thẳm, của một mảnh đời đang sống đă khép lại. Chỉ mới hôm
qua, những chiếc trực thăng c̣n lập ḷe trên các mái nhà và
biệt tăm ngay sau đó vào đêm tối. Rồi chốc lát đă mất hút.
Kissinger đă bá cáo với TT Ford là phái bộ quân sự Mỹ đă
hoàn thành tốt đẹp việc di tản. Đă có 4500 người Việt Nam,
trong đó có 450 người Mỹ đă có may mắn được di tản ra khơi.
C̣n những người khác? Niềm hy vọng như cạn ṃn.
Tướng Kỳ có thể là nguồn hy
vọng cuối cùng th́ đă dùng trực thăng bay từ Tân Sơn Nhất và
đă đáp xuống Hàng không mẫu hạm Midway ở ngoài khơi VN. Bà
Kỳ đă được di chuyển dời khỏi VN trước đó mấy ngày.
Trước đó, ngày 28/4/1975, dưới áp lực nặng nề của CS chung
quanh Sài g̣n, cơ hội đă đến, tờ Điện Tín do nhóm Hồ Ngọc
Nhuận, Ngô Công Đức được tái bản mà nội dung là kêu gọi nhân
dân nổi dạy làm chủ chính quyền, kêu gọi đầu hàng và làm tan
ră hàng ngũ quân đội miền Nam.
Đài phát thanh Sàig̣n, trụ sở 37 Nguyễn Bỉnh Khiêm, theo ông
Nguyễn Mạnh Tiến chỉ c̣n độ 80% nhân viên c̣n ở lại làm việc.
Họ là những Vũ Ánh, Duy Đăng, Trương Vệ Minh, Truơng Văn Bảo
và những nhóm nhân viên trẻ chưa chịu bỏ đài như Yến Tuyết,
Lê Phú Bổn, Nguyễn Thanh Nghiệm, Nguyễn Vĩnh Lộc, Hoàng Hà
vv. Người ta tưởng rằng những nhân viên đài phát thanh chắc
phải được di tản v́ tính chất công việc dính dáng đến chính
trị của họ. Nhưng không, họ c̣n ngồi ở đấy.
Trong khi đó mấy trăm nhân viên đài VOF (Tiếng nói Tự Do),
trụ sở ở số 7 Hồng Thập Tự đă được Mỹ cho di tản ra Phú Quốc
từ nhiều ngày trước.
Trong dịp này, tôi gặp một người bạn là thương gia làm ăn
với Mỹ, nhà ở góc Bùi Thị Xuân và Phạm Ngũ Lăo, anh đang đạp
xe đạp. Anh cho biết vợ anh đă dắt theo 4 con trai đi theo
một thằng bồ Mỹ.
Anh chẳng c̣n ǵ. Mất tất cả.
Tin tức viễn ấn (teletype) dồn dập cho biết 6 sư đoàn CSBV
đang thắt chặt bao vây Thủ Đô Sài g̣n.
Ngày 30 tháng 4, 1975
Sàig̣n tràn ngập chiến xa của quân Bắc Việt. Photo
AFP/Getty Images
Khoảng 15 giờ chiều hôm ấy,
đám nhân viên đài phát thanh được lệnh đi làm Trực Tiếp
Truyền Thanh tại Dinh Độc Lập trên một chiếc xe Van. Xe có
trụ ăng ten lắp ráp để để truyền tín hiệu về đài và được
phát qua FM (Biến Điện tần số), nơi tiếp nhận là Master
Control (Điều hành trung Tâm), ở trụ sở Đài, rồi từ đó lại
truyền lên Trung Tâm phát sóng Quán Tre để đưa lên các tần
số phát thanh. 16giờ 55, đó là buổi trực tiếp truyền thanh
cuối cùng của đài Sàig̣n trong buổi lễ trao nhiệm vụ giữa
Tổng Thống Trần Văn Hương và Đại tướng Dương Văn Minh. Có
mặt trong buổi lễ trao nhiệm hôm đó c̣n có khá đông các nhân
vật chính trị như: Trung Tướng Đổng Văn Khuyên, Tham mưu
trưởng bộ TTM, trung tướng Trần Văn Minh, tư lệnh không
quân. Các gương mặt chính trị quen thuộc như NS Nguyễn Văn
Huyền, Trần Văn Lắm, Vũ Văn Mẫu, Tôn Thất Đính.. Cựu chủ
tịch Hạ Viện Nguyễn Bá Lương, các dân biểu Nhan Minh Trang,
Khiếu Thiện Kế, Nguyễn Tuấn Anh, Hô Ngọc Nhuận.
Tiếp đến c̣n ba Phó Thủ tướng là Nguyễn Văn Hảo, Trần Văn
Đôn, Dương Kích Nhưỡng. Các Quốc Vụ Khanh Nguyễn Xuân Phong,
Lê Trọng Quát, Phạm Thái, Nguyễn Văn Ái, Tôn Thất Niệm, Nay
Luet và LM Cao Văn Luận.
Dù vội vă cách mấy, người của ông Mẫu, có thể là ông Lư Quư
Chung hay Đại Tá Đẩu cũng đủ th́ giờ thay thế huy hiệu Tổng
Thống của ông Thiệu với cờ bay rồng lượn ra huy hiệu Hoa Mai
Năm cánh.. Ông Minh vốn là người mê phong lan. Huy hiệu hoa
mai là phải rồi. Hoa mai ấy chỉ nở được đúng 48 giờ.
Tổng Thống VNCH Dương
văn Minh những ngày cuối chế độ. AFP/Getty Images
Ngày 29 tháng Tư, thủ tướng
Vũ Văn Mẫu lên tiếng trên đài phát thanh yêu cầu DAO, tức bộ
phận Tùy Viên quân lực Hoa Kỳ phải dời khỏi VN..Đến ngày 30
tháng tư, lúc 10 giờ sáng TT Dương Văn Minh tuyên bố đầu
hàng. Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh bị tổng thống Nguyễn Văn
Thiệu cho về vườn từ 1974, đột ngột xuất hiện. Nay mới biết
ông ta được Trung Ương Cục miền Nam móc nối, với bí số của
R, nay là phụ tá Tổng Tham Mưu Trưởng. Ông đọc nhật lệnh
ngưng bắn, yêu cầu quân đội tuân lệnh Tổng Thống Dương Văn
Minh.
Cứ như thế này th́ ông Dương Văn Minh đă được khuyến cáo của
đại diện MTGPMN là phải để chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh làm
phụ tá TTM trưởng chăng? Có sự sắp xếp trước như thế chăng?
Sau cuộc tập kích vào sân bay Tân Sơn Nhứt vào lúc buổi
chiều của sĩ quan không quân Nguyễn Thành Trung, Tướng Minh
tưởng lầm là do tướng Kỳ làm đảo chánh, ông vội ra lệnh cho
Thiếu Tá Hoa Hải Đường, tùy viên của ông, cùng với Hồ Ngọc
Nhuận chuẩn bị để “có thể phải chiếm đài phát thanh”. Nhưng
sự thể đă không xảy ra như vậy. Cũng chiều ngày 28/4, họa sĩ
Ớt, cán bộ chỉ Huy điệp vụ cách mạng nhờ Hồ Ngọc Nhuận nhắn
với tướng Dương Văn Minh rằng, theo lời yêu cầu của cách
mạng, ông Minh nên giao chính quyền lại cho cách mạng. Hồ
Ngọc Nhuận quên chưa kịp thông báo đến ông Minh th́ hai ngày
sau, Sàig̣n thất thủ.
Phần tướng Dương Văn Minh đóng đúng vai tṛ trung gian
chuyển giao quyền hành mà công việc chỉ là để kư giấy tờ đầu
hàng. Đó cũng là điều mà đại sứ Martin đă cảnh cáo tướng Kỳ:
Bất cứ điều ǵ xảy ra chống lại vai tṛ của tướng Minh trong
lúc này đều bi Washington và Hà nội không chấp nhận.
Rơ ràng là có sự sắp xếp giữa hai bên.
Ngay tại dinh Tổng Thống, suốt cả ngày, ông Minh nóng nảy
bồn chồn, đi đi lại lại trong pḥng chở đợi tin tức của hai
phái đoàn đă được phái vào Tân Sơn Nhất. Một đoàn do Nguyễn
Đ́nh Đầu, Nguyễn Văn Diệp, Tô Văn Cang và nguyễn Văn Hạnh.
Một đoàn khác do LM Chân Tín và các ông Trần Ngọc Liễng,
Châu Tâm Luân. Vẫn chưa có tin tức ǵ, chưa biết họ sống
chết ra sao. Nhiều người thân cận ông Minh khuyên ông đầu
hàng. Nhưng với bản tính do dự. Ông đă không làm như thế v́
nghĩ rằng đồng bào ông sẽ khinh ông, nếu ông đưa ra một
quyết định tương tự. Và cái quyết định duy nhất của ông Minh
là không quyết định ǵ cả sau khi gửi người vào Tân Sơn
Nhất.
Cách đó 48 ki lô mét về phía Nam, tướng Văn Tiến Dũng chuẩn
bị tấn công.
Trùm mật vụ Polgar lúc trưa ngày 30 tháng tư đang lênh đênh
trên tàu USS Denver được tin trên đài BBC là quân đội Việt
Minh đă vào Sàig̣n, ông làu bàu: Để mặc cho lịch sử sang
trang”
Một triệu, một trăm mười ngàn (1.110.000) binh sĩ VNCH đâu
rồi? Và 50 binh sĩ Hoa Kỳ c̣n sót lại? Mà Neil Sheenan trong
Innocence perdu đă từng nói: “Cette guerre que nous n’aurons
jamais gagné’’ (Trận chiến mà chúng ta đă chưa hề bao giờ
thắng). Mà nay chúng ta chuẩn bị một cuộc hành tŕnh qua sa
mạc (une traversée du désert) với khô héo cạn kiệt hy vọng,
một hành tŕnh gian khổ với đầy bất trắc đe dọa, hiểm nguy.
Trưa 30-04-1975, ngồi một ḿnh thấy tương lai vô định. Ḷng
buồn vô tả. Nước mắt tuôn trào không ngăn được. Bụng tự
nhiên nhói lên từng lời. Vui chưa thấy, lo th́ như ứa tràn.
Chẳng hiểu chính quyền mới đối xử ra sao ? Đó cũng là mối lo
của tất cả mọi nguời. Chiến tranh đă chấm dứt. Đáng nhẽ phải
vui mà hóa buồn.
Hết rồi cảnh chạy đôn chạy đáo t́m đường thoát thân. Có sự
im lặng nặng nề như một con vật chờ chết trong nỗi tuyệt
vọng. Ván bài chơi đă xong. Ngoài đường, 8 chiến xa T-54 đă
vào thành phố trên đại lộ Thống Nhất. Nhiều nhà đóng cửa rồi
từ trong nhà ngó ra xem động tĩnh. Chỉ có một thiểu số người
dám ra đường đứng thản nhiên nh́n đoàn xe cộ đi qua. Bộ đội
tỏ ra ngơ ngác và kỷ luật. Họ dơ tay vẫy chào ngượng ngập.
Măi vào lúc 16 chiều ngày 30-4-1975, ba vị thuyết khách của
ông Dương Văn Minh, thuộc thành phần thứ ba là luật sư Trần
Ngọc Liễng, giáo sư Châu Tâm Luân và Linh Mục Chân Tín mới
từ trại David Tân Sơn Nhứt ra về. Các ông là những người
được tướng DVM cử làm đại diện vào trại David chiều ngày
29-4-1975 để thuyết phục những người của Mặt trận với lời
yêu cầu họ đừng đánh phá Sài g̣n. Các tướng Nguyễn Anh Tuấn
và Đại tá Vơ Đông Giang đă hứa chỉ pháo chút ít để làm áp
lực với tướng DVM mà thôi. Quân Bắc Việt đă tiến quân vào
TSN nên các ông bị kẹt lại cho đến chiều 30 tháng tư mới ra
về được.
Trước đó, lúc 17 giờ ngày 29 tháng tư, 1975, khi được báo
tin ba người của tướng Minh là Trần Ngọc Liễng, Châu Tâm
Luân và lm Chân Tín được cử đi gặp đại diện chính phủ cách
mạng đề nghị ngưng bắn, Tướng Timmes tỏ ra thất vọng và ngao
ngán: ba người này đều là những người chống lại chính sách
của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Thật mỉa mai, số phận những người Mỹ
cuối cùng ở Sài g̣n lại nằm trong tay họ.
Timmes trước khi tạm biệt ông Minh đă hỏi Đại Tướng Minh là
Cộng Sản có đánh đến cùng bằng pháo binh không? Ông Minh vẫn
như trước, chẳng biết ǵ cả, lơ mơ hết chỗ nói. Và đó cũng
là cuộc nói chuyện cuối cùng giữa hai người.
Về phía tướng Văn Tiến Dũng th́ viết về việc này như sau:
“Vào lúc 2 giờ sáng, phái đoàn quân sự của ta ở trại David
trong Tân Sơn Nhất điện về bộ chỉ huy chiến dịch báo cáo: Có
ba người do chính quyền Sàig̣n cử đến gặp chúng tôi để thăm
ḍ việc ngưng bắn. Đồng chí Vơ Đông Giang tiếp họ và nói rơ
lập trường, quan điểm của ta trong tuyên bố của chính phủ
Cách mạng lâm thời ngày 26 tháng tư. Sau đó họ xin ra về.
Tôi nói pháo của quân ta đang bắn mạnh vào sân bay, rất nguy
hiểm, không nên về. Cuối cùng cả ba người đồng ư ở lại. Hiện
giờ, họ đang ở trong hầm với chúng tôi…’’
Có thêm Lê Đức Thọ và Phạm Hùng đă đến sở chỉ huy tiền
phương của tướng Dũng để cho tướng Dũng biết t́nh h́nh chính
trị ra sao? Trong hồi kư của tướng Dũng viết: “Lúc 15 giờ 40
phút, một biên đội năm chiếc A-37 các đồng chí ta lái do
Nguyễn Thành Trung dẫn đường, đă cất cánh từ sân banh Thanh
Sơn đi đánh Tân Sơn Nhất. Một trận phối hợp tuyệt đẹp…”
21 năm sau, vào ngày 28-1-1996, Chân Tín trả lời phỏng vấn
đài VNCR đă nói khác: “Chúng tôi ngồi yên nh́n cái ngu dốt
và cái sa lầy của một chế độ đang trên đà tan ră.’’ Nay, mới
đây nghe tin ông ra tờ báo chui. 82 tuổi đầu tưởng đă tự cho
phép ḿnh hưu tranh đấu. Ông vẫn chưa ngưng nghỉ. Điều ǵ
khiến một nguời đă tạm quay mặt với Chúa để theo Cách mạng,
nay trở thành kẻ đối đầu với chính những điều xác tín của
ḿnh?
Ngoài phố, chỉ c̣n nghe tiếng xích sắt khô khan của bánh xe
nghiến trên mặt đường nhựa. Mặt đất như rung lên bần bật.
Sàig̣n như oặn ḿnh dưới làn xích sắt đi qua. Tiếng xích sắt
như nhắc nhở gợi về tiếng xích sắt của mùa xuân Praha năm
nào. Cái mùa xuân nát úa. Cái mùa xuân hy vọng của tuổi trẻ
Prague chưa kịp nhú lên th́ đă bị xích sắt xe tăng của Hồng
quân Liên Xô đè dập nát khi tiến vào Prague, trên những
dường phố lát đá gồ ghề, thẫm màu đen thuở nào. Praha, Sài
g̣n, ngạo nghễ và tủi nhục.
Những chiến xa trên có cắm cờ của mặt trận Giải Phóng miền
Nam như niềm hy vọng nhỏ nhoi của người Sài g̣n. Niềm hy
vọng mong manh mà đằng kia là cuối đuờng.
Những chiếc chiến xa đang chạy trên đường Tự Do, Catinat cho
nguời ta có cảm tưởng đường Tự Do của miền Nam là đại lộ
Champs-Élysées của Paris hồi nào… Nhưng Champs-Élysées của
Paris vào tháng 8-1944 là cả một biển người đón tiếp De
Gaulle. Biển người đó là nỗi vui mừng giải thoát, chỉ có
tiếng cười và nước mắt hoan lạc.
Nhưng Champs Élysées th́ không phải đưởng Tự Do ở Sài g̣n.
Đường Tự Do không có nỗi vui hoan lạc mà chỉ có những ánh
mắt lo âu và sợ sệt. Ở một góc phố cạnh hotel Majestic,
người ta thấy một nhóm nhỏ người đứng nh́n chiến xa đi qua.
Bên kia đường, có một thanh niên mặc quần tây áo trắng bỏ
ngoài quần, chắp tay đứng nh́n. Không có biển ngựi mà cũng
không có tiếng vỗ tay reo ḥ. Và 125 nhà báo ngoại quốc đứng
ở đâu đó.
Một cảnh chen nhau
chạy loạn vào những ngày cuối tháng tư, 1975 tại Miền
Nam Việt Nam. Photo AFP/Getty Images
Họ c̣n ở lại để chứng kiến
cảnh tháo chạy, cái cảnh mà Bảo Ninh đă mô tả trong truyện
ngắn Ba lẻ một: chen chúc, xô lấn, giày đạp, chà xéo, đánh
nhau, giết nhau, cưỡng hiếp và cướp bóc và cảnh tiến tới ồ
ạt của những T54 và K63, như một cơn lốc bẳng thép xé mặt lộ
lướt tới với thần tốc kinh hồn, là phẳng mọi chướng ngại
trên đường, nhắm hướng Nam truy kích…
Vào ngày 30 tháng tư, đài phát thanh Sàig̣n mở đầu bằng
tiếng hát Trịnh Công Sơn. Tiếng hát một thời. Tiếng hát của
một đời ngựi.
Anh cất tiếng hát không phải khúc ca da vàng, nhưng lạc lơng
với bài: Nối Ṿng tay lớn bên cạnh đám bạn bè anh, trong đó
có Nguyễn Hữu Thái, một SV tranh đấu. Nguyễn Hữu Thái rất
hănh diện về điều này cũng như về bức h́nh đứng cạnh tướng
Minh trong việc kư kết đầu hàng. Phải chăng, đó là vốn liếng
dâng cách mạng của anh. Sau này t́m đường ra hải ngoại, sống
được mấy năm và thấy lạc lơng, anh chị đă quyết định về hẳn
VN sinh sống.
Dân Sàig̣n đă đón tiếp quân Giải Phóng như thế. Một nhúm
người người dân ngơ ngác, 125 nhà báo và TCS với Nối Ṿng
Tay Lớn. 8 chiến xa có trang bị kính nhắm hồng ngoại tuyến
dùng cho những cuộc đánh nhau ban đêm? Chả c̣n ǵ để dấu
diếm nữa. Những chiến xa Liên Xô từ ngoài Bắc chạy thẳng vào
chứ đâu phải của mặt trận giải phóng miền Nam? Trên chiến xa
có cắm cờ MTGPMN. Nhưng cắm một lá cờ th́ không lẽ đủ để
thay đổi nguồn gốc một lịch sử.
Trong khi đó, ông Minh và toàn bộ chính phủ ông đă chờ sẵn
tại dinh độc lập để trao quyền hành lại cho những người chủ
mới. Người ta không thấy có một đại diện nào của MTGPMN.
Nhiều người chê trách ông Minh hèn “bán đứng miền Nam”. Nếu
ông Minh hèn th́ những kẻ chạy vắt gị lên cổ từ những ngày
cuối tháng tư phải gọi bằng tên ǵ ? Kẻ trốn chạy và kẻ ở
lại lănh thẹo, ai hèn hơn ai? Sài g̣n lúc đó như một băi rác
với đủ thứ rác: rác Mỹ, rác quân đội với súng ống, quân
trang, quân dụng vứt bừa băi, rác chính quyền tham nhũng.
Cùng lắm, ông Minh chỉ là người không thức thời cúi ḿnh
xuống nhặt cái danh chính quyền bị người ta vứt lại từ đống
rác đó.
Có vấn đề là trao quyền hay
đầu hàng. Xin dẫn chứng một tài liệu cho thấy rơ bản viết
tay của tướng Minh là đầu hàng. Cũng theo ông Vũ Ánh, một
cấp chỉ huy đài phát thanh Sài g̣n lúc bấy giờ th́ có hai
bản hiệu triệu của tướng Minh. Bản hiệu triệu đầu tiên vào
lúc 10 giờ sáng 30/4 của tướng Minh kêu gọi quân đội, cảnh
sát “giữ vị trí buông súng để bàn giao chính quyền trong
ṿng trật tự”. Bản hiệu triệu từ lúc 11 giờ trở đi chỉ khác
cuốn băng đầu tiên ở điểm “đầu hàng vô điều kiện” thay v́
“bàn giao chính quyền trong ṿng trật tự”.
Cũng trong dịp này, ông Bùi Tín xác nhận với đài RFA rằng,
hôm 30 tháng tư, 1975.. Phó Thủ Tướng Nguyễn Văn Hảo yêu cầu
được bàn giao cho chính quyền 16 tấn vàng trữ kim của VNCH.
Tin này chấm dứt những tin đồn là ông Thiệu đă mang những
tấn vàng đó sang Đài Loan. Lại c̣n vấn đề trao cái chính
quyền đó vào tay ai? Sau này, người nói ông Bùi Tín, người
nói Chính ủy Tùng. Nhưng ở đây, một lần nữa cho thấy chính
quyền CS đă cố t́nh hất cái vai tṛ của ông Bùi Tín ra khỏi
cái trách nhiệm lịch sử là nhận bàn giao đầu hàng của ông
Dương Văn Minh.
V́ theo Stanley Karnov, trong
Viet Nam viết: “Ngồi trên một chiến xa vào dinh độc lập, Ông
Bùi Tin chuẩn bị đóng hai vai tṛ một lúc: Là nhà báo, ông
muốn là nhân chứng cho cuộc đầu hàng. Nhưng là sĩ quan cao
cấp trong đơn vị của ông, ông muốn chính ông tiếp nhận sự
đầu hàng này. Tôi chờ các ông từ sáng nay để trao quyền hành
lại cho các ông, đại tướng Minh đă nói như thế khi ông Bùi
Tín vào đến đại sảnh. Bùi Tín đáp lại, không có vấn đề trao
quyền hành. Quyền hành của các ông c̣n đâu để mà giao. Ông
không thể giao một cái mà ông không có.” (Pénétrant à bord
d’un char dans la cour du Palais, il se préparait à jouer un
double rôle: journaliste, il désirait être témoin de la
capitulation, officier le plus élevé en grade de son unité,
il avait pour devoir de la recevoir. J’attends depuis ce
matin pour vous remettre le pouvoir, annonca le général
Minh, quand Bui Tin entre dans le salon. Il n’en est pas
question, répliqua le colonel. Votre pouvoir s’est écroulé.
Vous ne pouvez donner ce que vous n’avez pas.)
Nhưng có lẽ câu nói quan trọng nhất của Bùi Tín vẫn là câu
sau đây: “Cùng là người Việt Nam cả, sẽ không có kẻ thắng
người bại. Chỉ có người Mỹ là kẻ bại trận. Nếu ông là người
yêu nước, đây là lúc để vui mừng, v́ chiến tranh đă không
c̣n nữa trên quê hương của chúng ta.” (Entre Vietnamiens, il
n’y a ni vainqeur, ni vaincus. Seul les Américains ont été
battus. Si vous êtes patriotes, c’est le moment de vous
réjouir. La guerre pour notre pays est terminée”
Từ đó đến nay, đă hơn 30 năm, người ta vẫn chờ đợi câu nói
của Bùi Tín được thực hiện. Cũng trong tháng 9 năm 1975, các
ông Lê Đức Thọ và Xuân Thủy c̣n nhắc nhở mọi người rằng: Ai
c̣n nói ngụy là nguy…
Hồi mất Điện Biên Phủ, cuộc chiến giữa Pháp và Việt Minh
phải mất 56 ngày đêm. Mất Sàig̣n nhanh hơn, chỉ có 55 ngày.
Ít hơn một ngày. Hồi ĐBP, chỉ mất một nữa. Lần này mất tất
cả.
Phía những người thua
trận
Không kể những người đă tháo
chạy, không kể những người c̣n kẹt lại trong gọng ḱm lịch
sử oan nghiệt. C̣n có những người cất lên tiếng nói cuối
cùng.
Thiếu Tá Long, Cảnh sát Quốc
Gia đă đến đứng trước tượng TQLC trước ṭa nhà Quốc Hội ở
Sàig̣n rồi rút súng tự sát. Ông đă nằm chết ngay dưới chân
pho tượng.
Trung sĩ Quân Cảnh Trần Minh, thuộc đại đội một quân cảnh
phụ trách an ninh khu vực Bộ Tổng Tham Mưu. Lúc 10giờ 30,
sau khi nghe tin đầu hàng, trung sĩ Trần Minh đă dùng súng
lục tự tử dưới chân cột cờ Bộ TTM.
Thêm vào đó là những cái chết
của Chuẩn tướng Lê Nguyên Vỹ, tư lệnh sư đoàn 5 bộ binh.
Chuẩn tướng Trần văn Hai, sư đoàn 7 bộ binh. Thiếu Tướng
Phạm văn Phú, tư lệnh quân khu 2. Thiếu tướng Lê Văn Hưng,
Tư lệnh phó quân đoàn 4. Thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, tư
lệnh quân đoàn 4. Những cái chết anh dũng. Nhưng đă thay đổi
được ǵ và có thể đại diện cho những vị khác đă bỏ chạy
không ? Đó là những cái chết bằng ngàn lời ca, bằng vạn
tiếng nói.
Và kẻ chết cuối cùng vẫn là
kẻ có lư.
Và tự sát bao giờ cũng cần được hiểu là một sự hy sinh cuối
cùng (Ultimate sacrifice) đáng được trân trọng.
Không có cái chết vô ích mà chỉ có những cái sống vô ích.
Đó là số phận những người đă tự chọn cái chết. Những cái
chết đó giá trị bằng ngàn lời ca, bằng vạn tiếng nói.
C̣n số phận những người c̣n lại?
Tôi ghi lại đây h́nh ảnh một anh lính VNCH, đi chân đất, hai
tay áo rách, đầu gối rách, chắp tay. Đằng sau anh là một bộ
dội mặc đồ đen, cầm súng lăm lăm và sau chót là đám đông dân
làng, khoảng 6, 7 chục người khoanh tay bất lực với lời ghi
chú của nhiếp ảnh viên: *Un avenir qui ne s’annonce pas
vraiment radieux pour ce soldat de Thiệu: pendant combien
d’années sera-t-il rééduqué...
Một tương lai không
mấy sáng sủa cho người lính này của Thiệu: Người
lính này sẽ bị đưa đi học tập cải tạo trong bao lâu?
Thật ra người lính lúc đó chỉ có 3 chọn lựa: di tản ra nước
ngoài, nhẫn nhục để đi học tập cải tạo hoặc t́m đến cái
chết. Cạnh đó là bức h́nh của kẻ chiến thắng. H́nh một anh
bộ đội chống nạng, cụt hẳn một gị đến háng, đi bên cạnh một
xe tăng đă bốc cháy với lời ghi:* Après les vingt- cinq
années de guerre, une photo qui résume tout (ảnh của
Leroy-Gamma). Sau 25 năm cuộc chiến, một bức h́nh nói lên
tất cả..
Cũng khoảng 2 giờ rưỡi trưa hôm ấy, những chiến xa đă từ
trong dinh Độc Lập chạy dọc theo đại lộ Catinat-Tự Do, từ
nhà thờ Đức Bà ra hướng bờ sông.. Có tới mười người rụt rè
dơ cánh tay vẫy chào. Nhiệm vụ của người chiến thắng không
phải là dễ. Chiếm được Sài g̣n rồi, nhưng làm sao thay v́
chỉ có 10 cánh tay dụt dè dơ lên, phải nhân lên bao nhiêu
triệu lần? Phải chờ xem vậy thôi.
Vào cái giờ này của ngày chiến thắng. Toàn bộ báo chí đă
ngưng xuất bản. Gần 50 chục báo hằng ngày của Sàig̣n sáng
nay vắng mặt. Họ đâu cả rồi? Tất cả liên lạc viễn thông với
thế giới bên ngoài cũng bị cắt. Họa chăng c̣n lại đại diện
của các ṭa đại sứ sau đây: Pháp, Bỉ, Nhật, Khâm sứ ṭa
thánh, Thụy Sĩ và lănh sự Ấn độ. Chế độ mới hầu như tạm thời
cắt đứt với thế giới bên ngoài. Cho măi đến ngày 23 tháng
năm, liên lạc với thế giới bên ngoài mới được nối lại và
chuyến bay đầu tiên ra nước ngoài vào ngày 24 tháng năm.
Chuyến bay này chở một số người ngoại quốc c̣n kẹt lại trong
thành phố mà phần lớn là người Pháp.
Theo Ngũ Giác Đài, có khoảng 50 ngưởi Mỹ bị kẹt lại VN sau
ngày 30 tháng tư, cộng thêm 26 người VN là vợ con của những
người Mỹ này. Sát cạnh nhà tôi, có hai vợ chồng người Việt
cũng ra đi theo diện quốc tịch Pháp. Trong t́nh huống này
mới thấy người Pháp là những người tử tế. Chị họ con ông bác
tên Diệp, làm y tá nhà thương Grall cũng được đi và sang
Pháp cũng làm y tá lại, lương bổng ngạch trật như cũ.
Chẳng bao lâu sau, có vợ chồng một đại tá, đă đến cư ngụ ờ
căn nhà đó. Sau này, suốt vài năm ở cạnh nhà như hàng xóm,
ra vào đụng mặt nhau, ông bà chưa bao giờ nói chuyện, hoặc
chào hỏi chúng tôi lấy một lần. Điều này phải được hiểu là
thế nào? Không dễ dàng ǵ để những người dại diện đó được
nh́n nhận. Họ không có trong mắt của người Sàig̣n.
Chiến thắng th́ đă xong,
nhưng chinh phục th́ chưa tới. (NVL) |