|
Góc Chiến Trường Xưa:
Vài mẩu chuyện trong tù
Monday, December 28, 2009
Phạm Bá Hoa
Ngày 30 Tháng Tư, 1975, cộng sản Việt Nam
(CSVN) đánh chiếm Việt Nam Cộng Ḥa, tôi cùng các bạn
cấp đại tá bị đưa đến trại tập trung Long Giao,
tỉnh Long Khánh, do Đoàn 263 giam giữ. Ngày 23
tháng Mười, 1975, CSVN chuyển chúng tôi đến trại
tập trung Tam Hiệp, tỉnh Biên Ḥa, do Đoàn 775
giam giữ. Ngày 16 Tháng Sáu, 1976, hầu hết chúng
tôi bị chuyển ra Yên Bái do Đoàn 776 giam giữ.
Cả ba đoàn này thuộc Bộ Quốc Pḥng Cộng Sản Việt
Nam (CSVN). Tháng Tư, 1978, chúng tôi bị chuyển
xuống trại Nam Hà A, tỉnh Hà Nam Ninh, do Công
An CSVN giam giữ.
Sự kiện kể lại trong bài này lúc tôi bị giam tại
Trại Nam Hà A.
1. Cộng sản nuôi tù.
Bo bo
Trại tập trung này thường xuyên ăn độn, nhưng
độn theo lương thực th́ từng đợt vài ba tuần hay
vài ba tháng. Chẳng hạn như bo-bo th́ thời gian
dài hơn, khoai ḿ xắc từng cọng phơi khô th́ vài
tuần, khoai tây tươi nguyên củ th́ theo mùa, bột
ḿ luộc th́ tùy theo viện trợ từ ngoại quốc. Nói
là độn nhưng thật sự ăn 100% chớ không phải một
phần gạo một phần độn đâu. Bo-bo là thức ăn dành
cho ngựa ngoại quốc, cọng khoai ḿ phơi khô là
thức ăn dành cho heo trong nước, cả hai loại
thực phẩm này nếu văn chương một chút gọi là
“thức ăn dành cho gia súc.”
V́ là thức ăn dành cho những động vật không phải
con người, nên người ta không cần giữ vệ sinh từ
lúc sản xuất, đóng gói, tồn trữ, chuyển vận, đến
cung cấp cho bếp trại tập trung, tức là trong
t́nh trạng không sạch sẽ chút nào, v́ khi đổ ra
sân người ta dùng bàn cào hay chổi để trải ra
phơi hoặc gom lại cho vào bao. Hăy h́nh dung bữa
ăn với cọng khoai ḿ khô đă nấu chín. Mỗi khẩu
phần từ 10 đến 12 cọng, nhỏ th́ bằng ngón tay út
c̣n lớn th́ bằng ngón tay cái, và dài nhất cũng
khoảng 12 phân tây (0.12 thước). Bên cạnh những
cọng khoai ḿ nhơn nhớt, là muỗng nước muối với
khoảng mười cọng rau mùa Hè
(rau muống) hay lát
rau mùa Đông
(bắp cải, su hào). Đấy là một phần
ăn.
Trong số những thứ lương thực thay gạo đó, bo-bo
là tai hại nhất, v́ cái vỏ lụa của nó không tiêu
được, nên nó phải “cào” những ǵ vướng mắc trên
đường đi từ cái bao tử ra đến cái thùng gỗ đựng
nó, chờ khiêng xuống khu vực trồng rau để “chăm
bón.” Cuối cùng, nó quay ṿng trở lại để vào bao
tử chúng tôi dưới dạng rau. Có bạn dùng cây tăm
xỉa răng, ghim từng hột bo bo cho vào miệng.
Cách ăn này vừa nhai thật kỹ, vừa đánh lừa cái
bao tử làm cho “nó” tưởng là được ăn nhiều!
Năm 1978-1979, tôi với anh Nguyễn Tài Lâm
(đại
tá Truyền Tin) ăn chung. Tuy bo-bo “nó hung
hăng” như vậy, nhưng hai chúng tôi cứ trông đến
ngày thứ bảy nhờ anh Sét
(trung tá Cảnh Sát) ở
buồng giam khác, mua giùm một phần bo-bo với giá
một đồng. Hai đứa chia nhau mỗi người một nửa,
giúp cái bao tử đỡ phần lỏng lẻo! Theo lời anh
Sét th́ người bạn của anh muốn có một phần bo-bo
bán cho chúng tôi, mỗi chiều anh ấy để lại một
muỗng. Ngày thứ hai để lại hai muỗng từ phần
bo-bo mới lănh và gộp muỗng bo-bo của ngày thứ
nhất vào phần ăn lúc ấy. Ngày thứ ba để lại ba
muỗng và gộp hai muỗng của ngày thứ hai vào phần
ăn lúc ấy. Và cứ như thế cho đến ngày thứ bảy là
đủ một phần, anh ấy bán cho chúng tôi lấy tiền
lén gởi mua thuốc lào hút.
Bây giờ quí vị quí bạn hăy h́nh dung thời gian
tại trại tập trung Nam Hà A vào chiều Ba Mươi
Tết Nguyên Đán đầu năm 1979. Nhà bếp phát cho
mỗi người tù chúng tôi một cái bánh chưng, mỗi
cạnh 15 phân tây kể cả lớp lá dong thật dầy bên
ngoài. Tôi với anh Lâm phác thảo “kế hoạch” ăn
hai cái bánh chưng đó. Chiều Ba Mươi ăn cái bánh
của tôi, và sáng Mồng Một ăn cái bánh chưng của
anh Lâm. Chúng tôi nhẹ nhàng cắt dây, rồi từ từ
gỡ từng miếng lá nhỏ cứ như sợ nó văng mất từng
hột nếp hay miếng thịt nhỏ xíu bên trong ấy.
Trời đất ơi, một nửa cái bánh c̣n nguyên hột
nếp!
Nếu có bạn nào trông thấy hai cái mặt của chúng
tôi lúc ấy, cũng không thể nào tưởng tượng cái
bao tử của chúng tôi nó thất vọng đến như vậy!
Và trong cái hoàn cảnh cần có thức ăn ǵ đó giúp
cái bao tử bớt kêu ca, sau một lúc hai đứa
nghiêng qua nghiêng lại ngắm nghía cái bánh
chưng, chúng tôi quyết định “sống chín như
nhau.” Thế là nhẹ tay cắt làm hai chớ không dám
mạnh tay sợ văng hột nếp sống, mỗi đứa có một
nửa sống với một nửa chín.
Theo “kế hoạch” th́ sáng Mồng Một mới ăn cái
bánh chưn của anh Lâm, nhưng chúng tôi không thể
chờ đợi được v́ thức đêm chờ Giờ Giao Thừa mà
bụng th́ đói! Thôi th́ mang cái bánh ra, lại từ
từ cắt làm hai vẫn là nửa chín nửa sống, nhưng
cứ xem như cái bánh có đủ phẩm chất của nó th́ y
như rằng nó vẫn cứ ngon miệng lúc đêm khuya!
Sáng Mồng Một có ǵ ăn đâu. Bữa ăn trưa, tù
chính trị được ăn cơm bằng gạo hẳn ḥi, nhưng
đây là bữa ăn duy nhất của 365 ngày để rồi sau
đó vẫn là bo-bo. Chiều Mồng Một Tết, một bạn trẻ
ngay trong buồng giam chúng tôi, mang cái bánh
duy nhất của anh ta bán cho chúng tôi giá 1 đồng
rưỡi. Tôi với anh Lâm, mỗi đứa có thêm nửa cái
bánh chưng, trong khi anh bạn trẻ có thêm thuốc
lào hút. Không biết có nên nói là “hai bên cùng
có lợi” hay không, v́ xem ra sự thể chẳng hay ho
ǵ!
Thật ḷng mà thưa với quí vị quí bạn rằng, cái
bánh chưng thứ 3 này cho tôi cảm nhận chút hạnh
phúc! Nếu quí vị hỏi tôi: “Tại sao là một chút
hạnh phúc?” Tôi xin trả lời:
“Thứ nhất, v́ chiều hôm qua và hôm nay, chúng
tôi mới được ăn cơm thật sự cộng với cái bánh
chưng cho dẫu là cái bánh chưng vừa sống lại vừa
chín. Đó là hạnh phúc của người tù chính trị, v́
đă lâu lắm rồi anh em chúng tôi mới trông thấy
những hột gạo hột nếp như vậy từ cái bếp của
trại tù này. Thứ hai, chỉ một chút thôi, v́ từ
ngày mai -Mồng Hai Tết - cái hạnh phúc đó sẽ tan
biến theo chén bo bo lưng lửng mỗi lúc chia khẩu
phần! Cái hạnh phúc của chúng tôi nó mong manh
như vậy đó quí vị à!
Muối hột
Trong trại tập trung Nam Hà A này, muối hột
thuộc loại thực phẩm quí! Bởi v́ chúng nó chỉ
chúng tôi ăn toàn nước muối, rất ư là khó nuốt.
Trong đội nhà bếp mà tù chính trị chúng tôi đă
thay thế tù h́nh sự, có anh Mẫn. Trong năm
1962-1963, anh Mẫn cùng làm trong văn pḥng Tham
Mưu Trưởng Liên Quân với tôi. Sáng Mồng Một Tết
năm 1979, anh Mẫn đến buồng giam số 1 gặp tôi,
anh kề tai nói nhỏ:
Tôi nghĩ chắc anh ấy có tin tức ǵ liên quan đến
tù chính trị nên thận trọng như vậy. Tôi theo
sau anh vào hành lang nhỏ hẹp của buồng giam 15
và 16. Đến giữa hành lang anh dừng lại, cho tay
vào túi áo bên trong moi ra một gói bằng nắm tay
con nít nhét vội vào tay tôi:
“Anh xuống đây với em một chút. Anh cất gói muối
này để dành ăn. Muối hột đó. Em đi nghe.”
“Cám ơn nhiều nghe Mẫn.”
Tặng xong là anh nhanh chân về nhà bếp v́ sợ có
người trông thấy, v́ khoảng thời gian ấy nếu bị
“cai tù” bắt là họ phạt, hay ít ra cũng bị chúng
nó chửi cho một trận.
Âm thanh ba tiếng “muối hột đó” đủ nói lên “giá
trị” của hột muối đối với chúng tôi như thế nào
rồi. Bởi, ngoài cái chất mặn của nó ra, tôi nghĩ
là quí vị quí bạn không cảm nhận điều ǵ khác,
nhưng với chúng tôi th́ âm thanh đó gợi lên sự
thèm khát cái chất ngọt lạ kỳ của hột muối. Và
tôi không thể tưởng tượng được khi cho một hột
muối vào miệng - ngậm chớ chưa dám nhai - tôi
cảm nhận chất ngọt kỳ diệu trong chất mặn của
muối! Đang mơ màng thưởng thức “chất ngọt của
hột muối,” có tiếng anh Lâm:
“Này, anh làm ǵ mà vui thế?”
Tôi giật ḿnh. Hơi ngượng, v́ “bị bắt gặp” thái
độ sung sướng một cách kỳ lạ, nhưng tỉnh lại
ngay:
“Anh có tin là tôi đang sung sướng v́ được ngậm
một hột muối không?”
“Tôi cũng tù như anh mà.”
Câu trả lời mang theo âm hưởng một lời than ngắn
ngủi của anh Lâm. Vậy là quí vị cảm nhận được
mức độ thèm khát “muối hột” của chúng tôi như
thế nào rồi chớ!
Ở “những xóm nhà lá” trong xă hội lớn của đất
nước, người ta thường bày tỏ t́nh tương thân
tương trợ lẫn nhau khi trái gió trở trời qua câu
nói “hột muối cắn làm hai,” được hiểu theo nghĩa
bóng hơn là nghĩa đen. Nhưng trong xă hội nhỏ
của nhà tù, hột muối không chỉ cắn làm hai mà là
làm ba làm bốn hoàn toàn theo nghĩa đen của nó.
Sự chia sẻ nhỏ nhoi mà anh Mẫn dành cho tôi là
một trong những cách biểu hiện rơ nét về ư nghĩa
“hột muối cắn làm hai,” hiểu được cả nghĩa đen
lẫn nghĩa bóng!
Bo-bo mà chan nước muối vào thật vô duyên, nhưng
ăn với muối hột th́ dễ ăn hơn. Tôi nói “dễ ăn”
là so sánh khi ăn nó với nước muối, chớ tôi
không nói nó dễ ăn so với các món ăn khác, với
lại nó cũng không hề thân thiện chút nào với cái
bao tử khi nó vào đó.
“Cao lương mỹ vị”
Sau đợt ăn những cọng khoai ḿ phơi khô là khoai
tây tươi. Cũng là ăn 100% chớ không phải độn với
gạo. Từng xe vận tải Molotova chở khoai tây vào
trại, thứ khoai tây hạng bét v́ củ nào lớn nhất
cũng chỉ bằng cườm tay con nít vài tuổi là cùng.
Mỗi khẩu phần diễn biến từ 12 đến 16 củ c̣n
nguyên vỏ. Anh nào có bơ thực vật hoặc đường hay
sữa do gia đ́nh gởi qua đường bưu điện 3 tháng 1
gói 5 kí lô, sau khi lột vỏ một cách cẩn thận để
tránh chất bột bị mất tí ti v́ dính theo vỏ, rồi
cho chút bơ hay sữa hoặc đường vào củ khoai, vừa
ăn vừa cảm nhận niềm thương nỗi nhớ mà người Vợ
từ ngàn dặm xa xôi đă âm thầm “gói ghém tâm hồn
của nàng vào trong những gói đường, hộp bơ, hộp
sữa...” gởi đến người Chồng trong trại tập
trung, để mà nhớ mà thương...!
V́ thiếu ăn, một số bạn trong số chúng tôi những
khi cuốc đất hay làm ǵ dưới cánh đồng, bất cứ
con ǵ nhúc nhích cũng ăn được cả. Từ con cua,
con cá bằng ngón tay hay bằng đầu đũa, con nhái,
con lươn, cào cào, châu chấu,v.v... cứ bắt bỏ
vào bếp lửa, một lúc khều ra phủi tro phủi bụi
là cho vào miệng.
Thậm chí, ngay cả con trùn cũng ăn nữa! “Con
trùn hổ” lớn bằng ngón tay út, dưới nắng trưa
làm ánh lên những màu sắc trên lớp da nhơn nhớt
của nó, rạch một đường theo chiều dài con trùn,
cạo bỏ tất cả bên trong chỉ c̣n lại lớp da bầy
nhầy đem rửa sạch phơi khô, cho vào bếp nướng.
Các bạn ấy gọi là “long đất nướng” và xem chừng
ăn ngon lắm! Trong “bản ghi nhớ” của tôi có ghi
tên của hai bạn ấy, nhưng tôi nghĩ không nên ghi
vào đây!
Theo qui định mà tên công an “quản giáo” đội nhà
bếp cho biết, “tiêu chuẩn mỗi người tù là 15 kí
lô gạo một tháng,” nhưng khi họ cho tù ăn những
thứ không phải gạo th́ họ vẫn tính theo trọng
lượng của gạo mà thật ra cũng chính họ cho biết,
cứ 2.5 kí lô khoai ḿ hay khoai tây mới bằng 1
kí lô gạo. Chúng tôi đâu có kêu với ai được, bởi
v́ họ chia chác với nhau và cùng che chắn cho
nhau mà!
Họ cấm nấu nướng, nếu bị bắt, có thể bị họ đưa
vào khu biệt giam trong trại Nam Hà B mà chung
quanh toàn núi rừng bao bọc. Nếu bị biệt giam
th́ khẩu phần hằng ngày giảm xuống c̣n một nửa,
khi hết hạn biệt giam sẽ bị cấm thăm nuôi và có
thể họ cấm luôn nhận quà thông thường là từ 3
đến 6 tháng. Cứ mỗi 3 tháng vợ tôi gởi cho 1 gói
quà mà những món chánh là bơ thực vật, đường
cát, sữa bột, và lạp xưởng.
Tôi kể quí vị quí bạn nghe về cách tôi nướng lạp
xưởng và sử dụng lon sữa bột. Mỗi lần nướng một
cái lạp xưởng, tôi dùng chiếc đũa lùa vào trong
để dễ cầm và dùng 3 tờ giấy báo kích thước của
tạp chí, cuộn lại theo chiều dài, mượn cái quẹt
máy
(bật lửa) cho vào túi.
Ra cửa buồng giam, nh́n qua nh́n lại không thấy
tên công an nào là tôi ba chân bốn cẳng chạy ra
đằng sau buồng giam và chui vào cầu tiêu. Nói
cái cầu tiêu mà không mô tả nó là sự thiếu sót.
Từ mặt đất xây lên khoảng 3 tấc làm chỗ ngồi,
tấm vách hai bên và phía sau cao đến vai, phải
cúi đầu “chào cái cầu tiêu” mới vào được. Phía
trước trống trơn, gió nóng mùa Hè hay gió lạnh
mùa Đông “tự do thổi vào” lạnh hay nóng tùy theo
mùa quí vị à!
Ngồi quay lưng ra để chắn gió, bấm quẹt máy,
châm lửa vào giấy. Tay cầm tờ giấy đang cháy để
phía dưới chiếc đũa lạp xưởng. “Năng lượng” của
3 tờ giấy đủ chín cái lạp xưởng, thế là tôi có
bữa ăn ngon miệng và cơ thế tiếp nhận được một
lượng ca-lô-ri nhỏ nhoi mà người tù rất cần.
Có lần vợ tôi gởi cho một xâu lạp xưởng 12 cặp,
phải cho vào hai cái lon guigoze để dành ăn,
nhưng nó dài quá phải cắt một đoạn mới đậy nắp
được. Tôi mời anh Cao Văn Phước
(đại tá Quân
Vận, nằm sát cạnh tôi) ăn chung nhưng không biết
nó chín hay sống, v́ thư của vợ tôi c̣n bị công
an trực trại giữ để kiểm soát. Lúc ấy chúng tôi
bị nhốt vào buồng giam rồi đâu làm sao nướng
được. Hai đứa tôi cứ ngắm nghía suy già đoán
non, lúc th́ đă hấp rồi lúc th́ chưa.
Cuối cùng chúng tôi xem như nó đă chín rồi và cứ
thế mà ăn hết 24 đoạn cắt ngắn đó. Ngày hôm sau
nhóm trực trại trả thư. Xem thư mới biết là lạp
xưởng sống, thế nhưng cái bụng tôi rất hiền lành
nên không gây khó khăn hay hoạnh hẹ ǵ tôi, mặc
dù nó “bị bắt buộc” phải tiếp nhận và thanh toán
hơn mười khúc lạp xưởng sống nhăn! Kể cũng lạ.
Đến hộp sữa bột. Đó là sữa bột sản xuất từ nước
Nga cộng sản lúc ấy có tên là Liên Xô, chung
quanh bằng giấy cứng, màu vàng, cái nắp của nó
là miếng kim khí mỏng cũng màu vàng, chỉ bằng
một phần ba đường kính cái hộp, v́ mặt trên có
miếng kim khí mỏng khác phủ kín hai phần ba
miệng hộp. Tôi nh́n cái hộp và nghĩ rằng có thể
sử dụng được nó dù chưa biết sử dụng vào việc
ǵ.
Thế là tôi “nghiên cứu” cái hộp mà “cái lợi”
trên miệng sẽ che kín cái ǵ đó có thể giấu bên
trong. Măi một lúc là tôi biết cách sử dụng nó.
Đó là viết thư, quấn một ṿng tṛn cho nhỏ lại
rồi lùa vào trong hộp, ém dần cho những trang
thư sát vào vách hộp. Nghĩ được là thực hiện
được. Sau khi nhận thấy những trang thư nằm “kín
đáo” bên trong, tôi cho sữa bột vào hộp, đậy nắp
cẩn thận, trông không khác những cái hộp sữa
mang từ nhà thăm nuôi vào trại.
Tôi phải trả 2 đồng Việt Nam cộng sản cho chú tù
h́nh sự phụ trách dọn dẹp nhà thăm nuôi, đem ra
gởi cho mấy chị bạn của vợ tôi đến thăm chồng
nhờ mang về Sài G̣n trao lại vợ tôi. Có khi gởi
cho anh bạn ra nhà thăm nuôi gặp vợ và gởi chị
ấy mang về giùm. Có lần bị hạch hỏi trước khi họ
hướng dẫn ra nhà thăm nuôi, anh bạn trả lời là
đem sữa ra đó uống. Thế là thoát.
Đến cái cảnh đổi áo quần lấy thức ăn mà tôi là
trường hợp điển h́nh. Công an “cai tù” thừa biết
tù chính trị chúng tôi có nhiều áo quần dân sự
bằng hàng vải ngoại quốc rất tốt, trong khi
chúng tôi rất cần chất bột, chất béo, chất ngọt.
Thế là đám “cai tù tóc ngắn lẫn cai tù tóc dài”
đầu cho vào trại
(bất hợp pháp) các món hàng sữa
đặc có đường, sữa bột, đường cát, để gạ chúng
tôi đổi lấy áo quần, rồi mang ra trại
(cũng bất
hợp pháp) đem lên Hà Nội bán.
Cái nghề “khốn nạn” này đă giúp họ phát lên khá
nhanh, bởi v́ như cái quần tây của tôi bằng vài
nhập cảng từ Australia chỉ đổi được có 1 hộp sữa
đặc và 1 kí lô sữa bột. Lần khác một cái quần
tây chỉ đổi được 1 hộp sữa đặc và thêm 1 đồng
bạc. Chính cái t́nh trạng thiếu ăn này làm cho
anh em chúng tôi đến mức không c̣n cái áo cái
quần dân sự nào coi được cả!
Một hôm, khi đổi được hộp sữa đặc trong tay và
khi âm thanh ống khóa cửa buồng giam crắc một
tiếng, tôi khui hộp sữa, mời anh Bùi Quang Hiền
(đại tá Bộ Binh) với anh Cao Văn Phước nằm cạnh
tôi, cả 3 chúng tôi luân phiên “tu” một lúc là
hết sạch. Thoạt nghe có vẻ ly kỳ rồi, nhưng chưa
thấm thía ǵ so với anh bạn trẻ Nguyễn Kim Tiếng
(thiếu úy Cảnh Sát, sau 1975 tham gia Nhóm Phục
Quốc bị bắt).
Sau giờ lam lũ dưới cánh đồng ngập nước, về đến
cổng chờ kiểm soát vào trại. Cả đội ngồi chồm
hổm, đám công an trực trại lục soát từng người
từ trước ra sau. Anh Tiếng có mua hộp sữa đặc
đang giấu trong người, khi thấy khó thoát khỏi
v́ chúng nó xét kỹ quá, anh ta bèn moi cục đá
ngay chỗ ngồi rồi ngoáy măi cũng được hai lỗ
trên miệng hộp, thế là anh “tu” hết sữa và liệng
cái hộp vào sát vách trại, lúc ấy Thịnh khuỳnh
trực trại
(khi đi, hai cùi chỏ hắn khuỳnh ra),
tên công an cai tù khét tiếng xét đến anh:
“Cái hộp này của ai?” Hắn quát với vẻ tức tối.
Ai dại ǵ mà lên tiếng. Hắn lại quát gay gắt
hơn:
“Tôi hỏi cái hộp này của ai ném ra đây?”
Cả 3 đội “xếp hàng như bầy vịt” đều nh́n vào
cổng trại, cứ như không nghe không thấy không
biết việc ǵ kể cả lời quát của hắn. Hắn càu
nhàu một lúc mới cho vào.
Những đội làm ruộng dưới đầm lầy mà họ gọi là
“vụ chiêm,” thường có những toán trẻ con lẫn
người lớn, lén lút giấu gói đường với vài hộp
sữa trong người rồi giả dạng như đi bắt cá để
đến gần chúng tôi bán vài món lặt vặt ấy. Do vậy
mà anh Tiếng mới có hộp sữa trong người, và thật
tài t́nh khi “tu” trọn hộp sữa trong nháy mắt.
2. Những màn kịch cỡm.
Đầu năm 1985, hơn 100 anh được ra về. Trước ngày
chánh thức có lệnh tha ra trại, nhiều tin đồn
vào trại là người này có tên người kia có tên,
bắt nguồn từ những công an “tóc dài” có liên lạc
buôn bán chui hoặc thường nhờ vả thuốc men của
tù chính trị. Anh Huỳnh Văn Châu
(Không Quân) đang trong tổ thợ điện của trại, chạy t́m tôi
đang chăm sóc luống rau “mini”:
“Anh ơi! Em có tên về rồi. Con “Hoa điện” vừa
cho em hay và em đă hỏi lại th́ đúng rồi.” “Hoa
điện” là tổ trưởng điện, cán bộ quản giáo của
anh Châu.
“Hay quá. Vậy th́ anh có th́ giờ thu xếp chuyện
gia đ́nh cho ổn, chớ t́nh trạng của anh c̣n kéo
dài, tôi e găy gánh thiệt đó Châu.”
“Em cũng lo lắm anh.”
“Hăy cố lên. Đă có được thời gian, anh đừng để
vấn đề vuột khỏi tầm tay nghe Châu.”
Anh Ngợi cũng t́m tôi: “Anh ơi! Em cũng có tên
về rồi anh. Anh Châu có nói với anh chưa?”
“Có. Châu mới nói với tôi đây. Anh về là nhanh
tay lẹ chân tổ chức đám cưới cô bạn gái chờ anh
hơn chục năm rồi. T́nh yêu như vậy tôi cho là
đẹp lắm, v́ thời gian thử thách quá dài với lại
trong hoàn cảnh nghiệt ngă nữa.”
“Em sẽ cố gắng nhưng phải về mới biết rơ sự việc
được anh.”
Phải nhận rằng, anh em tù chính trị chúng tôi
xôn xao trong ư nghĩa tốt, có thể nói vui vẻ là
khác. Sau khi cửa buồng giam đóng lại, anh Châu
với tôi ngồi đối diện hai bên sàn gác. Châu nói:
“Anh ơi! Một trăm mấy anh em mà tụi nó chia làm
hai chuyến đi, cách nhau vài ngày, và nghe đâu
chuyến thứ nh́ có quay phim nữa.”
“Liệu về kịp Tết hông Châu?”
“Con Hoa nó nói em về đến Sài G̣n trước giờ Giao
Thừa. Thôi th́ miễn về là được rồi anh, sớm muộn
cũng không sao.”
Quả thật khi công an đọc danh sách th́ những anh
được đồn đoán đều đúng, và về Sài G̣n trong hai
chuyến cũng đúng luôn. Ngay sau khi họ đọc danh
sách ra trại, tổ văn hóa chúng tôi bận tíu tít,
v́ họ bảo viết đến mấy bản danh sách, cùng lúc
gọi các anh đến hội trường làm thủ tục. Anh
Khiêm trong tổ văn hóa được về trong đợt này.
Anh em có tên ra về cùng với khá đông anh em
không có tên cũng có mặt trong khuôn viên buồng
10
(buồng này trống), về th́ vui đă đành nhưng
chưa về cũng vui, v́ nhắn gởi về gia đ́nh. Tụm
năm tụm ba tṛ chuyện khá ồn ào, pha lẫn trong
tiếng của đám công an gọi từng anh vào làm thủ
tục. Chuyến thứ nhất lên xe trại ra Phủ Lư để
lên Hà Nội, các bạn trong chuyến thứ nh́ chuẩn
bị cho đoàn quay phim dường như của Thụy Điển
đang thu h́nh các đội trồng rau gánh rau về
trại.
Cứ mỗi lần có phái đoàn đến thăm trại cho dù là
cộng sản hay tư bản thân cộng, Bộ Công An từ Hà
Nội cũng xuống hướng dẫn trại trưởng tổ chức
những màn kịch để phô trương. Muốn phô trương
phải che giấu cái tồi tệ của họ, mà chính v́ che
giấu lại làm cho màn kịch của họ trở nên tồi tệ
hơn. Mời quí vị quí bạn theo dơi 3 màn kịch tồi
tệ đó.
Màn kịch thứ nhất
Thật là vô duyên khi hai đội banh tạp nham bị
bắt buộc vào sân đá với nhau để phái đoàn quay
phim. Theo lời của đám trực trại th́ Bộ Công An
muốn đoàn quay phim ngoại quốc thấy cảnh sinh
hoạt của tù chính trị, nhưng theo chúng tôi nhận
xét th́ nhóm quay phim chú trọng thu h́nh những
lối ra vào khu vực các buồng giam, v́ họ đặt hai
máy thu h́nh ở hai đầu sân thu h́nh sự đi lại
của anh em chúng tôi ra vào các hành lang đó.
Không hiểu họ khai thác góc cạnh nào trong sự đi
lại của anh em chúng tôi, nhưng rơ ràng là họ
chú trọng những h́nh ảnh đó hơn là trận banh
trên sân đá dăm
(chớ hổng phải sân cỏ).
Đến tổ dịch tài liệu do anh Lại Đức Chuẩn
(đại
tá Bộ Tổng Tham Mưu) phụ trách, được chọn lọc
hẳn ḥi trong lớp học Lịch Sử chớ không phải
toàn tổ đều tham dự tŕnh diễn tại hội trường,
trong khi tổ văn nghệ do anh Phạm Kim Qui
(đại
tá Cảnh Sát) phụ trách tŕnh diễn “nhạc ḥa
tấu.” Trong màn này có lẽ họ muốn phô trương
“sinh hoạt của tù chính trị trí thức” là như vậy
đó.
Màn kịch thứ hai
Sau đoạn phim về trận banh tạp nham với hai tổ
dịch thuật và văn nghệ, đến đoạn phim tù chính
trị ăn cơm chiều với “thực đơn” đặc biệt. Đám
trực trại cho dọn cái gọi là nhà ăn của buồng
giam số 1, để ở đó một cái bàn với sáu ghế ngồi.
Cả mấy trăm tù chính trị mà chỉ có một bàn ăn
duy nhất, làm sao che giấu cái bản chất dối trá
trước phái đoàn truyền thông quốc tế? Vậy mà họ
vẫn cứ thực hiện. Sáu anh tù chính trị được chỉ
định ngồi vào bàn ăn “kịch cỡm” này, họ bắt phải
mặc áo quần mà họ nói là đẹp nhất. Tôi với cụ
Hoàng Văn Úy
(đảng Việt Quốc)
đến từng anh
thuyết phục nên mặc đồ thường thôi, v́ hy vọng
đoàn quay phim này sẽ có tác dụng thuận lợi cho
ḿnh khi họ phổ biến trên hệ thống truyền thông
thế giới. Các bạn đồng ư, nhưng cũng cố gắng một
chút tươm tất, nếu không sẽ không yên với đám an
ninh của trại.
Tôi và anh Đặng Hoàng Long đứng nh́n nhóm Thụy
Điển thu h́nh. Anh chàng chuyên viên chỉ đưa ống
kính quét một lượt phần trên bàn, rồi anh ta
ngồi bệt trên sàn xi-măng, đưa ống kính vào các
ống chân bàn chân của “thực khách” và thu thật
chậm nên không sót bàn chân anh nào cả. Đó là
những bàn chân nứt nẻ bị bùn đen bám vào, cộng
với nước phèn ngấm vào da, làm cho những bàn
chân trở nên sàm sỡ, và người quay phim khai
thác một cách rất nghệ thuật về những chứng tích
không thể chối căi trong trại tập trung của
CSVN, trong khi chúng nó dàn dựng những màn kịch
như là tù chính trị trong trại tập trung chỉ học
về lịch sử, cùng với vui chơi giải trí văn nghệ.
Màn kịch thứ ba
Lúc ấy trời tối hẳn, v́ mùa Đông nên th́ giờ ban
ngày ngắn lại so với th́ giờ ban đêm. Họ hoàn
toàn thu h́nh mà không hỏi bất cứ ai về bất cứ
điều ǵ. Nhóm quay phim Thụy Điển yêu cầu công
an cho mở các phên cửa sổ để có chút ánh sáng
thu h́nh vài sinh hoạt trong buồng giam số 1.
Nghe thông dịch xong, tên công an từ Hà Nội
xuống ra lệnh cho công an trại:
“Không được. Nói với chúng nó nếu mở tấm phên
th́ mấy anh này chịu lạnh không nổi.”
Thật ra không phải đám công an Hà Nội sợ tù
chính trị chúng tôi lạnh đâu quí vị à, và đây là
bằng chứng vẫn do tên công an Hà nội nói:
“Bọn này ghê lắm! Chúng nó quay toàn những cảnh
không như bộ đă hướng dẫn chúng nó trước khi vào
trại. Không cho chúng nó quay nữa.”
Không thấy tên công an thông dịch cái lệnh đó.
Sau cái lệnh không cho mở tấm phên cửa sổ, anh
chàng chuyên viên thu h́nh Thụy Điển cao lêu
nghêu, lặng lẽ ra chỗ xe của anh ta ngoài sân
đem vào cái ống trắng giống ống đèn néon nhưng
lớn một chút, dài khoảng 6 hay 7 tấc ǵ đó. Hóa
ra cái ống ấy là đèn điện tử, tỏa một vùng ánh
sáng thật dịu nhưng thật mạnh trong khoảng chừng
một thước vuông, đủ để họ lần lượt thu h́nh 3
quang cảnh.
Cảnh 1, anh Đặng Hoàng Long
(họa sĩ và trước đây
là thông dịch viên)
cùng với một bạn nữa
(dường
như là anh Bửu Uy) đang đánh cờ tướng.
Cảnh 2 là anh Nguyễn Hữu Vị
(trung tá, Phủ Đặc
Ủy Trung Ương T́nh Báo)
có hàm râu dài trắng
phếu, đang ngồi vá chiếc áo mùa Đông, trông thật
là buồn!
(Vài tháng sau đó, con gái của anh Vị
từ Paris gởi về anh Vị tấm ảnh “anh ngồi vá áo”
do chụp lại từ trong tivi mà cuộn phim đó tŕnh
chiếu trên hệ thống tivi nước Pháp).
Và cảnh 3 là anh Phạm Văn Thuần
(đại tá, Phủ Thủ
Tướng) dưới ánh đèn leo lét đang cắm cúi viết
“thư t́nh già” gởi về cho “má bầy trẻ.” Cái gọi
là bàn viết của anh Thuần chỉ là cái mền chồng
lên cái gối do mấy bộ quần áo tù cuộn lại.
Trưa hôm sau và trước khi rời trại, một anh
chàng trong nhóm quay phim của Thụy Điển cầm cái
micro dài, đứng giữa sân áng chừng 5 phút trong
khi anh chàng quay phim thu h́nh anh ta. Tên Bùi
Dênh - trại trưởng - nói với đám công an trực
trại đang đứng nh́n:
“Cứ để nó thu, cho nó thấy sự yên tĩnh trong
trại. Điều đó tốt thôi.”
Hôm sau, các đội xuất trại xong, tên Niệm - phụ
trách giáo dục của toàn trại - vào tổ văn hóa:
“Anh Hoa. Anh Vũ Tiến Phúc có đi lao động
không?”
“Tôi không biết cán bộ.”
Hắn quay sang tên Lực trực trại: “Đồng chí Lực,
cho người xuống đồng t́m anh Phúc ngay.”
Nửa giờ sau, hắn nói với anh Phúc đang đứng
trước mặt:
“Anh đă có tiến bộ về tư tưởng thông qua phóng
sự do đài truyền h́nh Cần Thơ thực hiện hai
tháng trước. Ông bộ trưởng
(Công An) xem xong
đoạn phim đó ra lệnh thả anh về. Anh tiến hành
thủ tục ra trại ngay hôm nay để cùng về với toán
kia.”
Về đoạn phim mà tên Niệm gọi là “phóng sự,” thật
ra anh em tù chính trị chúng tôi không ai biết
về cuộc phỏng vấn của đài truyền h́nh Cần Thơ
tại trại Nam Hà A này cả. Chỉ biết là họ có thu
h́nh anh Vũ Tiến Phúc và anh Lâm Chánh Ngôn
(đại
tá, Sư Đoàn 21 Bộ Binh). Hôm đó là buổi chiều,
họ thu h́nh hai anh đứng cuốc đất trên khoảng
đất nhỏ xíu ngay góc cái giếng lớn cạnh cổng
chánh của trại.
Khoảng đất “đầu thừa đuôi thẹo” chút xíu x́u xiu
này chưa bao giờ trồng trọt ǵ cả. C̣n phỏng vấn
lúc nào và ở đâu, chúng tôi hoàn toàn không
biết. Nếu cho rằng đài truyền h́nh Cần Thơ muốn
phỏng vấn những cựu sĩ quan Việt Nam Cộng Ḥa
từng phục vụ vùng đồng bằng Cửu Long mà đài
truyền h́nh này xem là địa phương, th́ đâu phải
chỉ có anh Phúc với anh Ngôn, mà có các anh
Nguyễn Văn Của
(đại tá Thiết Giáp), Nguyễn Văn
May
(đại tá Hải Quân), Huỳnh Thanh Sơn (đại tá
Bộ Binh), và nhiều nữa.
Phải chăng đó chỉ là cách nói của trại như là lư
do ra về của anh Phúc do ông bộ trưởng Bộ Công
An “tử tế và rộng lượng quá,” chỉ cần lúc nhàn
hạ ngồi xem một đoạn phim là đủ yếu tố để quyết
định thả tù, loại tù mà Thủ Tướng CSVN Phạm Văn
Đồng đă tuyên bố là tội ác tày trời không thể
tha thứ.
Buổi trưa, tất cả các anh rời trại chuyến thứ
hai, cộng thêm anh Vũ Tiến Phúc, tập trung ở
khuôn viên buồng 10 chờ lên xe ra Phủ Lư. Đám
trực trại không cho tiếp xúc với anh em c̣n ở
lại. Lệnh là như vậy, nhưng giờ trưa chẳng có
tên nào vào trại, thế là anh em chúng tôi tha hồ
nhắn gởi về nhà.
Khi tập trung để đám trực trại điểm số, cũng là
lúc nhóm quay phim Thụy Điển làm công việc thu
h́nh. Nhóm này thu h́nh khi anh em ra cổng trại
đi bộ lên chỗ xe buưt đậu trước nhà tên Lưu Văn
Hán, trại trưởng toàn trại Nam Hà. Nghe đám trực
trại nói chuyện, mới biết là nhóm quay phim Thụy
Điển thu h́nh tại nhà ga Hà Nội, sau đó lên phi
cơ vào Sài G̣n để thu h́nh các anh tại nhà ga
Ḥa Hưng.
Khoảng hai tháng sau đó, tên Lực trực trại, vào
buồng giam số 1 chúng tôi nói chuyện linh tinh.
Sau khi uống tách cà phê, hắn nói:
“Mấy thằng Thụy Điển đểu lắm. Nó quay phim các
anh ở đây nó không hỏi ai điều ǵ, nhưng khi về
bên đó nó thuyết minh ngược lại làm cho Bộ Công
An bị phê b́nh dữ dội.”
“Họ thuyết minh thế nào vậy cán bộ?”
“Khi thu h́nh đội trồng rau trên đường về trại,
ban giám thị bảo bó cuốc xẻng lại và vác về cho
nó thấy là cẩn thận, nhưng lời thuyết minh trong
phim cho rằng trại bắt các anh vác củi về sau
giờ lao động. Nó nói như vậy là v́ nó chỉ thu
h́nh từ phía trước, mà phía trước chỉ là những
cán cuốc cán xẻng chớ đâu thấy lưỡi cuốc lưỡi
xẻng. C̣n lúc nó đứng thu âm thanh ở giữa sân,
nó thuyết minh là sự khắc nghiệt đến mức mà hằng
ngàn tù nhân cũng không dám phát ra một âm thanh
nào cả, nghĩa là một không khí im lặng đến nghẹt
thở! Đểu đến thế!”
“Đúng là chúng nó đểu quá.”
Đó là lời của cụ Hoàng Văn Úy (đảng Việt Quốc) nói theo kiểu vuốt đuôi tên Lực, nhưng trong
ḷng anh em chúng tôi thầm cười “cái đểu rất
nghệ thuật của đoàn quay phim với bọn cộng sản
quá đểu.” Thế là những màn kịch tồi đă bị nhóm
thu h́nh Thụy Điển vạch trần một cách nghệ
thuật. Xin cám ơn các bạn Thụy Điển trong nhóm
quay phim ấy.
(Trích trong quyển “Kư Sự Trong Tù”
do nhà xuất bản Ngày Nay ấn loát
và nhà sách Tú Quỳnh tổng phát hành hồi Tháng
Bảy, năm 2008) |