Hướng về lễ kỷ
niệm 40 năm biến cố Mậu Thân
Cuộc thảm
sát tại KHE ĐÁ MÀI
+++++ Lm Nguyễn Hữu Giải + Lm Phan Văn Lợi +++++
Vài lời mở đầu
Biến cố tết Mậu Thân sắp được hầu hết toàn thể dân tộc VN,
đặc biệt nhân dân miền Nam, kỷ niệm lần thứ 40 với trái tim vẫn
c̣n rỉ máu, v́ hàng trăm ngàn nạn nhân của cuộc thảm sát này –măi
cho tới hôm nay- chưa bao giờ nghe được một lời tạ lỗi và thấy
được một cử chỉ sám hối từ phía các tay đồ tể là đảng CSVN, đồng
bào ruột thịt của họ. Chúng tôi nói là hàng trăm ngàn người, v́
ngoài con số 14.300 nạn nhân vô tội gồm tu sĩ, công chức, giáo
sư, giáo viên, sinh viên, học sinh, dân thường ở miền Nam (riêng
Huế chiếm gần một nửa), c̣n phải kể đến 100.000 bộ đội miền Bắc
(con số do chính CS đưa ra) đă bị nướng vào cuộc tàn sát dân tộc
này, cuộc tàn sát man rợ nhất lịch sử đất nước mà người chủ
xướng là Hồ Chí Minh và các lănh đạo cao cấp trong đảng CS thời
đó.
Chúng tôi viết lên bài này như nén hương ḷng tưởng nhớ
các ân sư, thân nhân, bằng hữu, đồng nghiệp của chúng tôi đă bị
CS tàn sát trong biến cố ấy như 3 linh mục người Huế là Hoàng
Ngọc Bang, Lê Văn Hộ, Nguyễn Phúc Bửu Đồng, ba linh mục người
Pháp là Guy, Cressonnier và..., 3 tu sĩ ḍng Thánh Tâm là Héc-man,
Bá Long, Mai Thịnh, ba chủng sinh là Nguyễn Văn Thứ, Phạm Văn Vụ
và Nguyễn Lương, hai sư huynh ḍng La San là Agribert và
Sylvestre cùng nhiều người khác… Chúng tôi cũng viết lên bài này
như lời kêu gọi đảng và nhà cầm quyền CSVN phải biết thừa nhận
sự thật, lănh nhận trách nhiệm, công nhận tội ác tầy trời mà
chính họ đă gây ra cho dân tộc VN trong những ngày xuân năm
1968, phải chấm dứt ngay việc tŕnh bày biến cố Mậu Thân như một
chiến thắng lừng lẫy, phải phục hồi danh dự cho các oan hồn bằng
cách chính thức tạ tội và để tự do cho bất cứ cá nhân hay tập
thể nào tưởng nhớ các nạn nhân này, phải tôn tạo ít nhất ngôi mộ
tập thể chôn cất di hài của họ tại núi Ba Tầng (núi Bân), phía
Nam thành phố Huế. Ngôi mộ này lưu giữ hơn 400 bộ hài cốt chủ
yếu bốc từ Khe Đá Mài nhưng đă bị chính CS phá đổ trụ bia và để
cho hoang phế suốt 32 năm trời.
Đây cũng là điều mà mới đây, trong Thỉnh nguyện thư viết
ngày 29-09-2007 cùng 124 Kitô hữu VN khác, chúng tôi đă đề nghị
với Hội đồng Giám mục Việt Nam: “Việc tưởng nhớ, cầu nguyện,
minh oan cho họ (các nạn nhân biến cố Mậu Thân) để linh hồn họ
được giải thoát, gia đ́nh họ được an ủi là căn cốt trong truyền
thống của mọi tôn giáo và nhất là của Kitô giáo. Đây cũng là cơ
hội để các đao phủ thảm sát đồng bào bày tỏ thành tâm thiện chí,
thống hối lỗi lầm, dọn đường cho việc ḥa giải dân tộc cách đích
thực. Nhớ lại năm 2002, nhân kỷ niệm 30 năm biến cố Đại lộ kinh
hoàng Quảng Trị (1972), Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất
đă làm lễ cầu siêu cho các nạn nhân. Chúng con thiết tưởng Công
giáo chúng ta cũng nên nhân cơ hội tưởng niệm 40 năm biến cố Tết
Mậu Thân để làm nghĩa cử đối với các oan hồn uổng tử đồng bào
đồng đạo. Vậy chúng con kính xin Quư Đức Cha và Hội đồng Giám
mục can đảm tổ chức lễ cầu nguyện khắp nơi cho các nạn nhân vô
tội, đặt ra một ngày tạm gọi là “ngày nhớ Mậu thân”. Đồng thời
yêu cầu nhà cầm quyền cộng sản dựng một tấm bia mới tại nghĩa
trang Ba Tầng (thành phố Huế), nơi chôn cất hài cốt của hơn 400
nạn nhân, v́ tấm bia cũ đă bị phá hủy ngay sau năm 1975”.
Trong toàn bộ biến cố Tết Mậu Thân, có lẽ những ǵ xảy ra
tại Huế là đau thương và đánh động hơn cả. Nhưng trong những ǵ
xảy ra tại Huế, th́ có lẽ cuộc thảm sát tại Khe Đá Mài là rùng
rợn, dă man và thê thảm nhất. Tiếc thay, theo sự am hiểu của
chúng tôi, h́nh như người ta chỉ biết đến kết cục của nó là hàng
trăm bộ hài cốt dồn lại một đống dưới khe sau khi thịt thối rữa
bị nước cuốn đi lâu ngày, từ đó suy diễn ra sự việc hơn là biết
rơ diễn tiến của toàn bộ sự việc kể từ lúc các nạn nhân bắt đầu
bị dẫn đi đến chỗ hành quyết. Lư do là v́ chỉ có hai con người
duy nhất trong đoàn tử tội đă chạy thoát được trước khi thảm
kịch xảy đến, họ nắm được một ít chi tiết nhưng lại chẳng biết
rơ địa điểm, do vụ việc xảy ra giữa đêm khuya trong rừng già; họ
lại c̣n quá trẻ rồi sau đó đăng lính, mất hút vào cơn băo chiến
tranh, khiến măi tới ngày 19-09-1969, tức gần hai năm sau, nhờ
khai thác tù binh Việt cộng, chính phủ VNCH mới biết đó là Khe
Đá mài trong vùng núi Đ́nh Môn, Kim Ngọc, thuộc quận Nam Ḥa,
tỉnh Thừa Thiên (xă Dương Ḥa, huyện Hương Thủy ngày nay) và mới
tiến hành việc t́m kiếm hài cốt các nạn nhân xấu số. Thời gian
sau, một trong hai người đă chết trận, đem theo bí mật xuống đáy
mồ. Chúng tôi may mắn gặp được chứng nhân duy nhất c̣n lại, nay
gần lục tuần. Ông đă tường thuật mọi việc cho chúng tôi khá tỉ
mỉ. Nhưng v́ lư do an ninh của đương sự, chúng tôi viết theo
dạng tự thuật để khỏi nêu tên ông. Chúng tôi cũng xin phép bỏ đi
nhiều chi tiết có thể giúp CS lần hồi dấu vết của ông để báo thù.
Lm Phêrô Nguyễn Hữu Giải
Lm Phêrô Phan Văn Lợi
********************************
Hồi ấy tôi mới 17 tuổi, đang là học sinh trung học đệ nhị
cấp. V́ t́nh h́nh bất an, gia đ́nh tôi đă từ quê chạy về thành
phố, cư ngụ tại giáo xứ Phủ Cam, thôn Phước Quả, xă Thủy Phước,
tỉnh Thừa Thiên (nay gọi là phường Phước Vĩnh, thành phố Huế) từ
mấy năm trước.
Sáng sớm mồng một tết Mậu Thân, tôi cùng gia đ́nh đi thăm
bà con thân thuộc và du xuân với các bạn đồng trang lứa, trong
một khung cảnh tạm an b́nh, vắng tiếng súng, nhờ cuộc hưu chiến
mà hai miền Nam Bắc đă cam kết tuân giữ.
Bỗng nhiên, khuya mồng một rạng mồng hai tết, nhiều tiếng
đại bác và súng lớn súng nhỏ vang rền khắp xứ đạo của chúng tôi.
Sáng hôm sau, tôi nghe nói Việt Cộng đang tấn công vào toàn bộ
thành phố Huế và đă chiếm nhiều nơi rồi. Hoảng hốt, cả gia đ́nh
tôi cũng như rất nhiều giáo dân chạy đến nhà thờ (lúc ấy mới
hoàn thành phần cung thánh và hai cánh tả hữu) để ẩn trú, v́ đó
là nơi an toàn về mặt thể lư (xây vững chắc, tường vách dày,
trần xi măng rất cao) cũng như về mặt tâm lư (có thể trông cậy
vào ơn phù hộ của Chúa và đông đảo người bên nhau th́ bớt hăi
sợ…). Tôi thấy đủ hạng: nữ nam già trẻ, linh mục tu sĩ, ngồi
chen chúc nhau cả mấy ngàn người (giáo xứ Phủ Cam lúc đó lên tới
10.000 giáo dân). Đang khi ấy, ở bên ngoài, lực lượng địa phương
quân, nhân dân tự vệ cùng các quân nhân chính quy về nghỉ phép
hợp đồng tác chiến, chống giữ không cho Cộng quân tiến vào giáo
xứ từ hướng An Cựu, Bến Ngự, Nam Giao, Ngự B́nh... Cuộc chiến
đấu xem ra rất ác liệt!
Thế nhưng, đến chiều mồng 6 Tết, do lực lượng quá nhỏ, lại
không có tiếp viện (v́ mặt trận lan khắp cả thành phố Huế và
tỉnh Thừa Thiên), các chiến sĩ đang bảo vệ giáo xứ đành phải rút
lui, bỏ chạy. Thế là VC tràn vào! Khuya hôm đó, lúc 1g sáng,
chúng mang AK và đèn đuốc xông vào nhà thờ Phủ Cam để gọi là
“bắt đầu hàng” và lục soát mọi ngơ ngách. Sau này tôi mới biết
chúng có ư lùng bắt cha xứ mà chúng nghi là người chỉ huy cuộc
kháng cự, lùng bắt tất cả những ai mà chúng nghĩ đă chống cự lại
chúng trong 5 ngày qua, cùng mọi cán bộ viên chức chính phủ Việt
Nam Cộng Ḥa, như xảy ra tại nhiều nơi khác trong thành phố Huế
lúc ấy.
Thấy chúng vừa xuất hiện, tôi liền lợi dụng bóng tối,
nhanh chân chạy đến cầu thang sắt phía cánh trái nhà thờ (gần mộ
Đức Cố Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền hiện nay), leo lên trần xi
măng, sát mái ngói. Từ trên đó, qua mấy lỗ trổ sẵn để gắn đèn
cao áp (nhưng chưa gắn), tôi mục kích khá rơ sự việc diễn ra bên
dưới. Tôi thấy lố nhố VC địa phương (du kích nằm vùng) lẫn bộ
đội chính quy miền Bắc. Chúng lật mặt từng người, chỉ chỏ bên
này bên kia. Một câu nói được lặp đi lặp lại:
- Đồng bào yên tâm! Cách mạng đến là để giải phóng! Các
mẹ, các chị, các em có thể ra về. C̣n các anh được mời đi học
tập, chỉ 3 ngày thôi! Không sao đâu!!!
Thế là mọi tráng niên và thanh niên từ 15 đến 50 tuổi đều
bị lôi đứng dậy và dẫn đi, dù là học sinh, thường dân hay công
chức…. Tiếng kêu khóc thảm thiết vang động cả nhà thờ. Con khóc
cha, vợ khóc chồng, cha mẹ khóc con. Ai nấy linh cảm chuyến đi
“học tập” này sẽ chẳng có ngày đoàn tụ. Sau này tôi biết thêm là
linh mục quản xứ chúng tôi, cha Nguyễn Phùng Tuệ, nhờ ngồi giữa
đám nữ tu ḍng Mến Thánh Giá với lúp đội trên đầu, nên may mắn
chẳng bị VC nhận diện. Bằng không th́ bây giờ ngài đă xanh cỏ.
VC ở lại trong nhà thờ suốt đêm hôm đó vài tên, c̣n những tên
khác đi lùng khắp giáo xứ để bắt thêm một số người nữa, cũng từ
15 đến 50, thành thử có nhiều thanh niên hay học sinh gặp nạn.
Sáng hôm sau, lúc 8 giờ, bỗng có hai tên VC theo thang sắt
trèo lên trần và khám phá ra tôi. Một đứa tên Hồ Sự, du kích gốc
Long Hồ, vừa được đồng bọn giải thoát khỏi nhà lao Thừa Phủ (là
nhà lao nằm giữa ḷng thành phố Huế, ngay sau lưng ṭa hành
chánh tỉnh). Tên kia là Đỗ Vinh, sinh viên, người gốc làng Sịa.
Sau khi lôi tôi xuống, chúng hỏi tôi tại sao lại trèo lên núp
(nấp). Tôi trả lời là v́ nghe con nít khóc ồn ào, chịu không
nổi, phải trèo lên đấy để nghỉ.
Chúng dẫn một ḿnh tôi -lúc ấy chẳng c̣n hồn vía ǵ nữa-
đi xuống dốc nhà thờ, nhưng đến chắn xe lửa th́ quẹo trái, men
theo đường xe lửa tới chắn Bến Ngự. Từ đây, chúng dẫn tôi lên
chùa Từ Đàm là nơi VC đang đặt bản doanh. Chúng rất đông đảo,
vừa sắc phục vừa thường phục, vừa bộ đội miền Bắc vừa du kích
nằm vùng miền Nam. Vào trong khuôn viên chùa, tôi nhận thấy ngôi
nhà tăng 5 gian th́ 4 gian đă đầy người bị bắt, đa số là giáo
dân giáo xứ Phủ Cam của tôi. Gian thứ 5 (đối diện với cây bồ đề)
c̣n khá trống, để nhốt những người bị bắt trong ngày mồng 7 Tết.
Tôi cũng trông thấy ông Tin, chủ hiệu ảnh Mỹ Vân, người rất đẹp
trai, đang bị trói nơi cây mít. Một tên VC nói:
- Thằng ni trắng trẻo chắc là cảnh sát, bắn quách nó đi
cho rồi!
May thay, có một người trong nhóm bị bắt đă vội lên tiếng:
- Tội quá mấy anh ơi, đây là ông Tin chụp ảnh tại Bến Ngự,
cảnh sát mô mà cảnh sát!
Nhờ thế ông Tin thoát nạn, được cho về. Tiếp đó, VC đưa
cho tôi một tờ giấy để làm bản lư lịch. Chúng bảo phải khai rơ
tên cha, tên mẹ, tên ḿnh, nguyên quán ở đâu, cha mẹ làm chi,
bản thân bây giờ làm chi. Khai rơ ràng chính xác, Cách mạng sẽ
khoan hồng. Khai tơ lơ mơ, khai dối láo là bắn ngay tại chỗ. Lúc
ấy không hiểu sao Chúa cho tôi đủ sự thông minh và điềm tĩnh nên
đă khai hoàn toàn giả, giả từ tên cha mẹ đến tên ḿnh, và giả
mọi chi tiết khác, như nghề của cha là kéo xe ba gác, nghề của
mẹ bán rau hành ở chợ Xép, bản thân th́ đang học trường Kỹ
thuật!?! May mà bọn VC chẳng kiểm tra chéo bằng cách hỏi những
người cùng giáo xứ bị bắt đêm hôm trước. Bằng không th́ tôi cũng
rồi đời tại chỗ!
Chúng tôi ngồi tại chùa Từ Đàm suốt cả ngày mồng 7 Tết,
không được cho ăn ǵ cả. Lâu lâu tôi lại thấy VC dẫn về thêm một
số tù nhân, trong đó tôi nhớ có cậu Long, 16 tuổi, học sinh, con
ông Nguyện ở xóm Đường Đá giáo xứ Phủ Cam. Thỉnh thoảng chúng
lại trói ai đó vào gốc cây bồ đề, bắn chết rồi chôn ngay trong
sân chùa. Sau này người ta đếm được có 20 xác, trong đó có anh
Hoàng Sự, vốn là cảnh sát gác lao Thừa Phủ, bị đám VC khi được
thoát tù đă bắt đem theo lên đây.
VC cũng cho một vài kẻ về nhắn thân nhân bới cơm nước lên
cho người nhà, nhưng với điều kiện: nhắn xong phải đến lại trong
ngày, bằng không bạn bè sẽ bị chết thế. Thế là một số anh em Phủ
Cam lên tiếng xin thả ông Hồ (khá lớn tuổi, làm nghề hớt tóc,
nhà ở gần cabin điện đường Hàm Nghi) để ông về lo chuyện tiếp tế
thực phẩm. Tay VC liền hỏi: “Ai tên Hồ?” th́ có một cậu thanh
niên nào đó nhảy ra nói: “Hồ đây! Hồ đây!” Thế là nó được thả về
và rồi trốn luôn, thoát chết. Một vài bạn trẻ cùng tuổi với tôi
cũng được cho về nhắn chuyện bới xách rồi quyết không lui, nhờ
vậy thoát khỏi cơn thảm tử. C̣n ai v́ hăi sợ hay thương bạn mà
lên lại Từ Đàm th́ cuối cùng bị mất mạng như tôi sẽ kể. Các “sứ
giả” về thông báo với bà con là ai có thân nhân “đi học tập” hăy
bới lương thực lên chùa Từ Đàm. Vậy là vài hôm sau, người ta ùn
ùn gánh gồng lên đó gạo cơm, cá thịt, muối mắm, bánh trái ê hề
(Tết mà!)… Họ chẳng thấy thân nhân đâu mà chỉ gặp mấy tên cán bộ
VC bảo họ hăy an tâm trở về nhưng để đồ ăn lại. Nhờ mưu mô thâm
độc này mà VC tạo được một kho lương thực khổng lồ để ăn mà đi
giết người tiếp!!
Lân la ḍ hỏi và nh́n quanh, tôi thấy trong số thanh niên
Phủ Cam bị bắt có rất nhiều người bạn của tôi: anh Trị tây lai
con ông Ngọc đàn ở nhà thờ, con trai ông Hoàng lương y thuốc Bắc
ở chợ Xép, hai con trai ông Thắng nấu rượu, hai con trai ông
Vang thổi kèn, anh Thịnh con ông Năm, hai anh em B́nh và Minh
con ông Thục mà một là bạn học với cha Phan Văn Lợi… Tôi cũng
nghe nói có hai thầy đại chủng viện mà sau này tôi mới biết là
thầy Nguyễn Văn Thứ, nghĩa tử của cha Nguyễn Kim Bính và bạn
cùng lớp với cha Nguyễn Hữu Giải, rồi thầy Phạm Văn Vụ, đồng
nghĩa phụ với cha Lợi…
Khi trời bắt đầu sẫm tối, VC bắt chúng tôi ra sân xếp hàng
và một tên tuyên bố:
- Anh em yên tâm! Như đă nói, Cách mạng đưa anh em đi học
tập 3 ngày cho thấm nhuần đường lối rồi sẽ về thôi! Bây giờ
chúng ta lên đường!
Rồi chúng bắt đầu dùng dây điện thoại trói thúc ké từng
người một chúng tôi, trói xong chúng xâu lại thành chùm bằng một
sợi dây kẽm gai, 20 người làm một chùm. Tôi nhớ là đếm được trên
25 chùm, tức hơn 500 người.
Khi chúng tôi bị lôi ra đường (đường Phan Bội Châu hiện
giờ), chừng 7g tối, tôi thấy có một đoàn cố vấn dân sự Hoa Kỳ
khoảng 14 người cũng bị trói nhưng sau đó được dẫn đi theo ngă
khác hẳn. Áp giải chúng tôi lúc này không phải là VC nằm vùng,
địa phương, nhưng là bộ đội miền Bắc, khoảng 30 tên. Bọn nằm
vùng ở lại để đi bắt người tiếp. Bỗng một kẻ mặc áo thầy chùa
xuất hiện, đến cạnh chúng tôi mà nói:
- Mô Phật! Dân Phủ Cam bị bắt cũng nhiều đây! Chỉ thiếu
Trọng Hê và Phú rỗ!
Trọng (con ông Hê) và Phú (mặt rỗ) là hai thanh niên công
giáo, nhưng lại là “tay anh chị” khét tiếng cả thành phố. Về sau
tôi được biết đa phần những thanh niên bị bắt đêm mồng 6 Tết tại
nhà thờ Phủ Cam và sau đó bị giết chết đều là học sinh, sinh
viên, thanh niên nhút nhát hiền lành. C̣n hạng can đảm, có máu
mạo hiểm hay hạng “du dăng, anh chị” đều đă đi theo binh lính,
dân quân để chiến đấu tự vệ hoặc nhanh chân trốn chạy, không tới
nhà thờ trú ẩn, nên đều thoát chết. Sự đời thật oái oăm!
Hết đường Phan Bội Châu, chúng tôi đi vào đường Tam Thai
(bên trái đàn Nam Giao), sau đó men theo đường ṿng đan viện
Thiên An, xuôi về lăng Khải Định (xin xem bản đồ). Từ con đường
trước lăng Khải Định, VC dẫn chúng tôi bọc phía sau trụ sở quận
Nam Ḥa (lúc đó chưa bị chiếm), ra đến bờ sông Tả Trạch (thượng
nguồn sông Hương). Chúng tôi lầm lũi bước đi trong bóng tối,
giữa trời mờ sương và giá lạnh, vừa buồn bă vừa hoang mang, tự
hỏi chẳng biết số phận ḿnh rồi ra thế nào, tại sao VC lại tấn
công vào đúng ngày Xuân, giữa kỳ hưu chiến!?!
Tới bờ sông, VC cho chặt lồ ô (nứa) làm bè để tất cả đoàn
người vượt qua phía bên kia mà sau này tôi mới biết là khu vực
lăng Gia Long, thuộc vùng núi Tranh hay c̣n gọi là vùng núi Đ́nh
Môn Kim Ngọc. Lúc ấy vào khoảng 9g tối. Từ đó, chúng tôi bắt đầu
đi sâu vào rừng, lúc lên đồi, lúc xuống lũng, lúc lội qua khe,
lần theo con đường ṃn mà thỉnh thoảng lại được soi chiếu bằng
những cây đèn pin hay vài ngọn đuốc của 30 tên bộ đội. Tôi
thoáng thấy tre nứa và cây cổ thụ dày đặc. Trời mưa lâm râm. Đến
khoảng 11g rưỡi đêm, chúng tôi được cho dừng lại để tạm nghỉ ăn
uống. Tôi đoán chừng đă đi được hơn chục cây số. Mỗi người được
phát 1 vắt cơm muối mè, đựng trên lá ráy. Hai cánh tay vẫn bị
trói. Ít người ăn nổi. Riêng tôi làm 2 vắt.
Ăn xong th́ được cho ngủ. Chúng tôi ngồi gục đầu dưới cơn
mưa, cố gắng chợp mắt để lấy lại sức. Bỗng nhiên như có linh
tính, tôi chợt choàng dậy và thấy rung động toàn thân hết sức dữ
dội. Máu tôi sôi sùng sục trong đầu. Có chuyện chẳng lành rồi
đây! Quả thế, tôi thoáng nghe hai tên VC gần kề nói nhỏ với
nhau: “Trong ṿng 15–20 phút nữa sẽ thủ tiêu hết bọn này!” Tôi
nghe mà bủn rủn cả người! Nghĩ ḿnh đang là học sinh vô tội, lại
c̣n trẻ trung, thế mà 15 phút nữa sẽ bị giết chết, tôi như muốn
điên lên. Dù thế tôi vẫn cầu nguyện: “Lạy Chúa, từ lâu Chúa dạy
con phải hiền lành thật thà, không được làm hại ai, vậy mà giờ
đây lại có người muốn giết con và các bạn của con nữa. Xin Chúa
ban cho con mưu trí, can đảm và sức mạnh để tự giải thoát
ḿnh…”. Tôi ghé miệng vào tai thằng bạn bị trói ngay trước mặt:
“Tụi ḿnh rán mở dây mà trốn đi! Mười lăm phút nữa là bọn hắn
bắn chết hết đó!”. Chúng tôi quặt ra tay sau, âm thầm lần múi
dây trói. Nhờ trời vừa mưa vừa tối, dây điện thoại lại trơn nên
chỉ ít phút sau là nút buộc lỏng, vung mạnh cánh tay là sẽ bung
ra. Chúng tôi cũng mở múi buộc dây thép gai đang nối ḿnh với
những người khác. Tuy nhiên, chúng tôi vẫn giữ vị thế bị trói
thúc ké, để bọn VC khỏi nghi ngờ. Tôi dặn thằng bạn tiếp: “Hễ
tao vỗ nhẹ sau lưng là tụi ḿnh chạy nghe!”
Đánh thức chúng tôi dậy xong, một tên lên tiếng nói lớn
cho cả đoàn:
- Chúng ta sắp đến trại học tập rồi. Vậy trong anh em ai
có một là vàng, hai là tiền, ba là đồng hồ, bốn là bật lửa th́
nộp lại để Cách mạng giữ cho, học xong 3 ngày sẽ trả. Kẻo vào
trại, ăn cắp lẫn nhau rồi lại đổ lỗi cho Cách mạng, nói xấu cán
bộ!
Thế là mọi người riu ríu và khổ sở móc ra những thứ quư
giá c̣n giữ trong người. Ai chậm chạp hoặc ngần ngừ th́ mấy tên
bộ đội tới “giúp” cho. Bọn chúng lột sạch và cho tất cả vào mấy
cái ba lô vải. Lúc đó tôi mới để ư thấy tay bộ đội áp giải chùm
của tôi đang mang trên hai vai và cột quanh lưng ít nhất cả chục
cái radio lớn nhỏ mà chắc hắn đă cướp được của dân dưới thành
phố. Với khẩu AK trên tay lại thêm từng ấy máy móc trên người,
hắn bước đi lặc lè, chậm chạp, khá cách quăng mấy tên khác.
Chúng tôi lại bắt đầu đi xuống dốc. Tôi nghe có tiếng nước
róc rách gần kề. Lại một khe nữa! Được vài bước, tôi vỗ nhẹ vào
lưng thằng bạn. Cả hai chúng tôi vung tay, dây tuột, và nhanh
nhẹn phóng ra khỏi hàng. Lấy hết sức b́nh sinh, tôi đá mạnh vào
gót rồi vào dưới cằm tên bộ đội áp giải (tên mang cả chùm radio
ấy!). Hắn ngă nhào. Hai chúng tôi lao vào rừng lồ ô. Bọn VC tri
hô lên: “Bắt! Bắt! Có mấy thằng trốn” rồi nổ súng đuổi theo
chúng tôi. Chạy khoảng mấy chục mét, thoáng thấy có một lèn đá
-v́ trời không đến nỗi tối đen như mực- tôi kéo thằng bạn ḷn
vào trong mất dạng. Tôi dặn hắn: “VC nó kêu, nó dụ, tuyệt đối
không bao giờ ra nghe! Ra là chết!” Một lúc sau, tôi nghe có
tiếng nói trong bóng đêm: “Bọn chúng chạy mất rồi, nhưng rừng
sâu thế này khó mà thoát chết nổi! Thôi đi tiếp!!!”.
Khi nghe tiếng đoàn người đi khá xa, chúng tôi mới ḅ ra
khỏi lèn, đi ngược lên theo hướng đối nghịch. Chừng 15-20 phút
sau, tôi bỗng nghe từ phía dưới vọng lên tiếng súng AK nổ vang
rền và lựu đạn nổ tới tấp, phải mấy chục băng và mấy chục quả.
Một góc rừng rực sáng! Chen vào đó là tiếng khóc la khủng khiếp
–chẳng hiểu sao vọng tới tai chúng tôi rơ ràng- khiến tôi dựng
tóc gáy, nổi da gà và chẳng bao giờ quên được. Hai chúng tôi
đồng nấc lên: “Rứa là chết cả rồi! Rứa là chết cả rồi! Trời
ơi!!!” Lúc đó khoảng 12 đến 12g30 khuya đêm mồng 7 rạng ngày
mồng 8 Tết. Tôi bàng hoàng bủn rủn. Sao lại như thế? Các bạn tôi
dưới ấy đều là những người hiền lành, chưa lúc nào cầm súng,
chưa một ngày ra trận, chẳng hề làm hại ai, họ có tội t́nh ǵ?
Bọn chúng có c̣n là người Việt Nam nữa không? Có c̣n là người
nữa không? Sau này tôi mới biết đấy là vụ thảm sát khủng khiếp
nhất trong cuộc chiến Quốc-Cộng. Địa danh Khe Đá Mài –mà lúc ấy
tôi chưa rơ- in hằn vào lịch sử nhân loại và cứa vào da thịt dân
tộc như một lưỡi dao sắc không bao giờ cùn và một thỏi sắt nung
đỏ chẳng bao giờ nguội.
Chúng tôi tiếp tục chạy, chạy măi, bất chấp lau lách, gai
góc, bụi bờ, vừa chạy vừa thầm cảm tạ Chúa đă cho ḿnh thoát
chết trong gang tấc nhưng cũng thầm cầu nguyện cho những người
bạn xấu số vừa mới bị hành quyết quá oan ức, đau đớn, thê thảm.
Sáng ra th́ chúng tôi gặp lại con sông. Biết rằng bơi qua ngay
có thể gặp bọn VC ŕnh chờ bắt lại, chúng tôi men theo sông,
ngược lên thượng nguồn cả mấy cây số, đến vùng Lương Miêu
thượng. Tới chỗ vắng, tôi hỏi thằng bạn:
- Mày biết bơi không?
- Không!
- Tao th́ biết. Thôi th́ hai đứa ḿnh kiếm hai cây chuối.
Mày ôm một cây xuống nước trước, tao ôm một cây bơi sau, đẩy mầy
qua sông. Rán ôm thật chặt, thả tay là ch́m, là chết đó. Trời
này lạnh tao không lặn xuống cứu mày được mô!
Đúng là hôm đó trời mù sương và lạnh buốt. Thời tiết ấy
kéo dài cả tháng Tết tại Huế. Có vẻ như Ông Trời bày tỏ niềm sầu
khổ xót thương bao nạn nhân vô tội ở đất Thần Kinh này. Vừa bơi
tôi vừa miên man nghĩ tới các bạn tôi. Máu của họ có xuôi theo
triền dốc, ḥa vào gịng nước sông Tả trạch này chăng? Oan hồn
họ giờ đây lảng vảng nơi nào? Có ai c̣n sống không nhỉ?
Chúng tôi cập gần bến đ̣ Lương Miêu. Từ đây, xuôi ḍng sẽ
về trụ sở quận Nam Ḥa, hy vọng gặp binh lính quốc gia, nhưng
cũng có nguy cơ gặp bọn VC chặn đường bắt lại. Thành thử chúng
tôi nhắm hướng bắc, t́m đường về Phú Bài. Thằng bạn tôi, do suốt
đêm bị gai góc trầy xước, đề nghị đi trên đường quang cho thoải
mái. Tôi gạt ngay:
- Ban đêm th́ được, chớ ban ngày th́ nguy lắm. Chịu khó
lần theo đường ṃn!
Chúng tôi thấy máu và bông băng rơi văi nhiều nơi, chứng
tỏ có trận đánh gần đâu đó. Đang đi, tôi đột nhiên hỏi thằng
bạn:
- Chừ gặp dân th́ mày trả lời ra răng, nói tao nghe.
- Nhờ anh chứ tôi th́ chịu!
Lúc khoảng 9g, chúng tôi gặp 3 thằng bé chăn trâu. Tôi lên
tiếng nói:
- Hai anh là học sinh ở đường Trần Hưng Đạo dưới phố (con
đường chính của khu buôn bán, không nói là Phủ Cam). Cách mạng
(không gọi là Việt cộng) số về đánh dưới, số c̣n trên ni. Hai
anh vừa mang gạo lên chiến khu hôm qua cho họ. Nay họ cho hai
anh về, nhưng ướt cả áo quần lại đói nữa. Mấy em biết Cách mạng
có ở gần đây không, chỉ cho hai anh, để hai anh kiếm chút cơm
ăn, kẻo đói lạnh quá!
- Hai anh qua khỏi đường này th́ sẽ thấy mấy ông Cách mạng
đang hạ trâu ăn mừng!
Thế là chúng tôi hoảng hốt tuôn vào rừng lại. Chạy và
chạy, chạy tốc lực, chạy như điên, không dừng lại để nghỉ. Một
đỗi xa, chúng tôi mới hướng ra lại đồng bằng. Bỗng một đồn lính
xuất hiện đằng xa, đến gần thấy bên trong lố nhố mũ sắt. Phe ta
rồi! Lần này th́ vô đây chứ không đi mô nữa cả. Nhất định vô!
Lúc đó khoảng 10 giờ trưa. Đây là đồn biên pḥng của một đơn vị
quân lực VN Cộng Ḥa. Chúng tôi nghe từ trong đồn có tiếng dơng
dạc vang vọng:
- Hai thằng VC muốn về hồi chánh hả? Vào đi! Nhớ để tay
lên đầu. Thả tay xuống là bắn đó!
Chúng tôi nhất nhất tuân theo. Vào được bên trong, hoàn
hồn, chúng tôi mới nói:
- Hai đứa em là học sinh ở dưới Phủ Cam, Phước Quả, bị VC
bắt lên rừng từ tối hôm qua với mấy trăm người khác. Nghe tụi nó
định giết hết, hai đứa em đă liều mở dây trói, đánh thằng VC rồi
bỏ chạy. C̣n mấy người kia chắc là chết hết cả rồi! Giờ tụi em
chỉ có một nguyện vọng : xin đồn phát súng cho bọn em đánh giặc
với, chớ không thể đi ra khỏi đồn nữa.
Viên sĩ quan chỉ huy cất tiếng:
- Tổ quốc đang lâm nguy! Đứa con nào trung, đứa con nào
hiếu lúc này là biết liền. Thôi, mấy em thay áo quần, xức thuốc
xức men, ăn uống thoải mái rồi ở lại với mấy anh. Tội nghiệp!!!
Họ hỏi chúng tôi về chỗ xảy ra cuộc hành h́nh nhưng chúng
tôi hoàn toàn không thể trả lời được. Giữa rừng rậm lại đêm
khuya, biết đâu mà lần. Gần nửa tháng sau tôi mới gặp lại gia
đ́nh họ hàng, bằng hữu thuộc giáo xứ Phủ Cam đang chạy về lánh
nạn tại Phú Lương và Phú Bài. Hai chúng tôi quyết định bỏ học để
đăng lính. Phải cầm súng bảo vệ tổ quốc thôi. Phải báo thù cho
anh em bạn bè bị VC giết quá ư dă man, tàn ác, vô nhân đạo. Tôi
nhập bộ binh. Thằng bạn tôi đi nhảy dù. Nhưng vài năm sau, tôi
nghe tin nó chết trận! Tội nghiệp thật, nhưng đó là cái chết ư
nghĩa!
Đến gần tháng mười năm 1969, nhờ bắt được và khai thác mấy
tù binh VC, chính phủ VNCH mới biết địa điểm tội ác chính là Khe
Đá Mài, nằm trong rừng Đ́nh Môn Kim Ngọc thuộc quận Nam Ḥa (nay
là xă Dương Ḥa, quận Hương Thủy). Nơi đây không thể vào được
bằng xe v́ đường đi không có hoặc không thể đi lọt, mà chỉ vào
được bằng lội bộ. Cây cối chỗ này rất cao, lá dày và mọc theo
kiểu hai tầng, tầng thấp gồm những bụi tre và cây nhỏ, tầng cao
gồm những cây cổ thụ, với những nhánh lớn xoè ra như lọng dù che
khuất đi những ǵ bên dưới. Bên dưới hai tầng lá này, ánh sánh
mặt trời không chiếu sáng nổi. Đúng là nơi có thể giết người mà
không cần phải chôn cất. Công binh đă phải bỏ hai ngày, dùng ḿn
phá ngă các cây cổ thụ để tạo ra một khoảng trống lớn đủ cho máy
bay trực thăng đáp xuống, và tiểu đoàn 101 Nhảy Dù Quân lực VNCH
đă phụ trách việc bốc các di hài nạn nhân. Các binh sĩ đă t́m
thấy cuối một khe nước chảy trong veo (về sau mang thêm tên Suối
Máu, Phủ Cam Tử lộ), cả một núi hài cốt, nào sọ, nào xương sườn,
nào xương tay xương chân trắng hếu, nằm rời rạc, nhưng cũng có
những bộ c̣n khá nguyên. Xen vào đó là dây điện thoại và dây
thép gai vốn đă trói chúng tôi thành chùm. Rồi áo quần (vải có,
da có, len có) nguyên chiếc hay từng mảnh, lỗ chỗ vết thủng. Rồi
tràng chuỗi, tượng ảnh, chứng minh thư, ống hít mũi, lọ dầu
nóng… vương văi trên bờ, giữa cỏ, dưới nước. Nhờ những di vật
này mà một số nạn nhân sẽ được nhận diện. Khi tất cả hài cốt, di
vật được chở về trường tiểu học Nam Ḥa (nay gọi là Thủy Bằng)
bên hữu ngạn sông Hương, đem phân loại, thân nhân đă ùa đến và
không ai cầm nổi nước mắt. Tất cả ̣a khóc, nghẹn ngào. Có người
cầu nguyện, có người nguyền rủa, có người lăn ra ngất xỉu khi
khám phá vật dụng của người thân. Cái chủ nghĩa nào, cái chế độ
nào, cái chính đảng nào đă chủ trương dă man như thế? đă tạo ra
những con người giết đồng bào ruột thịt cách tàn nhẫn như thế?
Cuối cùng, đa phần các hài cốt (hơn 400 bộ) được quy tập
một chỗ, mang tên nghĩa trang Ba Tầng, nằm phía Nam thành phố
Huế, khá cận kề khu vực Từ Đàm (đất của Phật giáo) và Phủ Cam
(đất của Công giáo). Nghĩa trang xây thành h́nh bán nguyệt. Hai
bên, phía trước, có hai bàn thờ che mái, cho tín đồ Phật giáo và
Công giáo đến cầu nguyện. Ở giữa, phía sau, một trụ đá dựng đứng
với gịng chữ Hán làm bia tưởng niệm. Từ đó, tại giáo xứ Phủ Cam
của tôi, hàng năm, ngày mồng 10 Tết được coi là ngày cầu nguyện
tưởng nhớ các nạn nhân Mậu Thân. Chúng tôi có thể tha thứ cho
người Cộng sản nhưng chúng tôi không bao giờ quên được tội ác
của họ, y như một câu ngạn ngữ tiếng Anh: “Forgive yes! Forget
no!”
Tiếc thay, sau khi vừa chiếm được miền Nam, Cộng sản đă
dùng ḿn phá ngay trụ bia và hai bàn thờ. Lại thêm một phát súng
vào hương hồn các nạn nhân mà nỗi oan vẫn chưa được giải. Đến
bao giờ họ mới được siêu thoát đây? Cũng phải nói thêm một điều
đáng tiếc nữa là trong Đại hội thường niên từ 8 đến 12-10-2007
năm nay tại Hà Nội, Hội đồng Giám mục Việt Nam đă hoàn toàn im
lặng trước đề nghị Giáo hội Công giáo VN hăy tưởng niệm 40 biến
cố này, theo như Thỉnh nguyện thư mà cha Giải, cha Lợi cùng
nhiều linh mục và giáo dân khác đă viết hôm 29-09-2007.
Kể lại cho hai cha Nguyễn Hữu Giải và Phan Văn Lợi
trong tháng kính các đẳng linh hồn, 11-2007