












Miếu
tưởng niệm vong hồn
những nạn nhân bị VC
thảm sát trên Đại Lộ
Kinh Hoàng được lập
nên ngay sau khi thị
trấn Quảng Trị được
giải vây bời QLVNCH
**********

----------------------------
Hốt Xác Đồng Bào Tử Nạn trên "Đại Lộ Kinh Hoàng"
Lời giới thiệu: Loạt bài bên dưới do ba người -- nhà văn Giao Chỉ, kư giả và phóng viên nhiếp ảnh NgyThanh, và cá nhân tôi, Trùng Dương -- viết từ ba góc nh́n về ba thời điểm khác nhau, song cùng một chủ đề:
Nhân chứng sống, cựu Trung sĩ Phan Văn Châu, người đă sống và chứng kiến tận mắt cảnh đồng bào bị pháo kích Cộng sản tàn sát trên cái mà phóng viên chiến trường của nhật báo Sóng Thần, NgyThanh, đă đặt tên là "Đại Lộ Kinh Hoàng" sau khi anh và đồng nghiệp Đoàn Kế Tường là hai người đầu tiên đật chân lên đọan đường này hai tháng sau cuộc tàn sát, và Chương tŕnh hốt xác đồng bào tử nạn trên ĐLKH do nhật báo Sóng Thần phát động-- (Trùng Dương).
-
Nhân chứng
qua đêm
Khi đi t́m nhân
chứng của một
chiến trường hết
sức oan nghiệt
và thê lương,
hết sức dũng
mănh và hào
hùng, tôi vẫn
không quên đoạn
đường đầy xác
người trên Quốc
Lộ số 1.
Ngay khi chiến
trường c̣n vương
khói súng, cây
bút nhẩy dù, đại
úy Phan Nhật Nam
đă viết “Mùa hè
đỏ lửa”. Tác
phẩm đem vinh
quang cho tác
giả đồng thời
cũng làm khổ ông
sau 1975. Nhưng
trước sau “Mùa
hè đỏ lửa” đă
gắn liền vào tên
tuổi Phan Nhật
Nam.
Phải chờ đến 32
năm sau, Hà Nội
mới xuất bản
cuốn “Mùa hè
cháy” của đại tá
pháo binh “quân
đội nhân dân”
viết về trận
pháo kích của
trung đoàn pháo
Bông Lau, trận
pháo dă man trên
đường di tản của
dân Quảng Trị,
giết chết hàng
ngàn người và
làm đoạn đường
trên 2 cây số
giữa con sông
Thạch Hăn và Mỹ
Chánh trở thành
“Đại Lộ Kinh
Hoàng”.
Chúng tôi vẫn đi
t́m xem ai là
người đặt tên
cho đoạn đường
của trận thảm
sát mùa hè năm
1972. Có lẽ chỉ
trong chiến
tranh Việt Nam
mới có cái đại
lộ mang tước
hiệu kinh hoàng.
Anh
phóng viên của
bộ thông tin có
mặt tại Quảng
Trị nói rằng bác
đi hỏi ông Lê
Thiệp trên
Washington, D.C.
Khi quân ta phản
công ở Mỹ Chánh,
ông nhà báo Lê
Thiệp có đi theo
trên Quốc Lộ 1
qua lối này. Năm
2005 tôi có nhân
dịp gặp ông
Thiệp tại DC,
ông nói rằng
không biết tay
nào đặt cái tên
“Đại lộ Kinh
Hoàng” thật hay.
Câu chuyện dừng
tại đó.
Một lần khác,
chúng tôi rao
lên là muốn t́m
gặp những ai đă
chạy trên con
đường ác độc vào
đúng lúc địch
pháo kích. Tôi
biết có trung tá
Lê Huy Linh Vũ
của Tổng cục
Chiến tranh
Chính trị là
người đă trải
qua và đă viết
lại thành cuốn
sách. Con gái
của Trung tá Vũ
là họa sĩ Hương,
Alaska, có cho
phép chúng tôi
in lại cuốn này
để tặng các bạn.
Nhưng ông Vũ nay
không c̣n nữa.
Đại tá Hà Mai
Việt, tỉnh
trưởng Quảng trị
thời kỳ 1972 đă
nói rằng:
“Tại ông không
lưu tâm đọc sách
của tôi. Mở
trang này ra mà
xem, nhân chứng
sống là ông Phan
văn Châu. Tôi đă
viết rơ từng
trường hợp của
trận Quảng Trị
trong tác phẩm
Thép và Máu. Ông
nhân chứng này
không những chịu
đựng trực tiếp
trận pháo trên
quốc lộ mà c̣n
nằm lại một đêm
giữa các xác
chết.”
Sau cùng nhờ ông
Hà Mai Việt,
chúng tôi đă gặp
nhân chứng sống.
Trung sĩ Phan
văn Châu, năm
nay 68 tuổi, quả
thực là một
người dân tiêu
biểu của miền
đất Quảng. Qua
máy điện thoại,
dường như cả một
trời tâm sự tuôn
tràn. Những h́nh
ảnh quê hương,
chiến tranh,
loạn lạc, pháo
kích, khói lửa,
lẫn lộn giữa
trận 1972 và
trận 1975.
Nói đến chuyện
đất nước biết
bao nhiêu địa
danh: nào là
Nhan Biều, Cầu
Ga, Ái Tử, Mai
Lĩnh, Cầu Dài.
Rồi đến biết bao
nhiêu con sông,
bao nhiêu rạch
nước. Âm thanh
đất Quảng của
người dân chân
chỉ hạt bột,
ṿng qua quay
lại để sau cùng
trở về với cái
ngày cả gia đ́nh
bỏ Nhan Biều mà
đi.
Ông Châu nói
rằng, lúc đó
dường như mọi
người đă chạy
hết. Phan văn
Châu là trung sĩ
thông dịch viên
cho ngành t́nh
báo tại Đà Nẵng
đang đi công tác
về Ái tử.
Đến khi thiên hạ
bỏ chạy hết,
thầy thông ngôn
trẻ tuổi mặc đồ
dân sự cùng một
đứa cháu, dẫn vợ
có bầu với ba
đứa con nhỏ, năm
một, 6, 7, và 8
tuổi. Tất cả vội
vàng ra đi bỏ
lại phía sau căn
nhà mới cất tại
Nhan Biều bên bờ
bắc của sông
Thạch Hăn.
Vợ con đi trước
một đoạn với gia
đ́nh bà chị.
Thằng cháu và
ông Châu đi xe
gắn máy kéo theo
một chiếc xe gỗ
hai bánh. Hành
trang chất đầy,
người kéo, người
đẩy, chiếc xe
qua khỏi cầu Ga,
đi được một đoạn
dài đến 9 giờ
sáng th́ pháo nổ
ngay trên đường.
Con đường đầy
người chạy loạn.
Cả dân cả lính
với đủ mọi thứ
xe. Đa số đi bộ
v́ đường tắc
nghẽn nên không
thể đi nhanh.
Đạn rơi chỗ nào
cũng có người
chết. Xác bắn
tung lên trời.
Khói lửa mù mịt.
Mạnh ai nấy
chạy. Vợ con
thất lạc ngay từ
lúc đó. Ông Châu
nghĩ rằng vợ con
có thể đang ở
phía trước.
Nhưng phía trước
hay phía sau th́
cũng bị pháo.
Khi pháo tạm
ngưng th́ có
người lại tràn
ra đi tới. Nhưng
phần lớn nằm yên
chịu trận. Có
nhiều người
không chết ở đợt
pháo đầu nhưng
rồi bị chết ở
các đợt pháo
sau. Nhiều xác
chết trên đường
bị pháo đi pháo
lại nhiều lần.
Bị thương rồi
lại bị pháo rồi
cũng chết. Biết
bao nhiều người
cố chạy cho
thoát bỏ lại cả
gia đ́nh vợ con.
Những đứa nhỏ
nằm khóc bên xác
mẹ. Những em bé
sơ sinh bú vú mẹ
đă lạnh khô. Có
người c̣n sống
thấy đó mà phải
bỏ đi. Ông Châu
và đứa cháu chạy
về phía đông
quốc lộ, vùi
thây xuống cát
mà chịu đựng một
ngày pháo kích.
Đủ loại pháo của
cộng sản thay
phiên bắn phá
suốt một ngày
dài. Pháo 122,
pháo 130 và pháo
155. Chỉ khi nào
có B52 đến thả
bom mới thấy
địch im tiếng
súng được một
lúc. Toàn thân
ông tê liệt dưới
trời nắng gắt.
Phải ḅ đến các
vũng nước có cả
phân trâu và máu
người để uống.
Khi trời tối
dần, tất cả đều
im lặng và ghê
sợ. Ông Châu và
đứa cháu bắt đầu
ḅ quanh lật các
xác chết đàn bà
và trẻ em lên
xem có phải vợ
con. Lật một xác
phụ nữ mà ông
nghĩ rằng người
vợ, đầu óc ông
mê muội. Thằng
cháu c̣n tỉnh
táo nói rằng
không phải mợ.
Mợ có bụng mà
cậu. Mấy người
khác c̣n sống
cũng làm như
vậy. Tất cả đi
t́m xác thân
nhân. Nhưng rồi
trời tối hẳn, bộ
đội Việt Cộng
bắt đầu xuất
hiện. Chúng t́m
đến các xe nhà
binh và t́m các
quân nhân mặc
quân phục bắt đi
hết. Cậu cháu
ông Châu khai là
dân thường nên
được lệnh phải
nằm yên tại chỗ.
Đêm hôm đó, ông
Châu thức trắng
trên băi cát đẫm
máu của Đại lộ
Kinh Hoàng. H́nh
như có đôi lúc
ông cũng thiếp
đi. Cũng chẳng
c̣n nhớ rơ.
Chung quanh toàn
xác chết. Người
chết nhiều hơn
người sống.
Những xác chết
cháy như than
củi . Ông nghĩ
rằng chắc xác vợ
con cũng quanh
đây. Sáng hôm
sau, từ sớm mai
những người c̣n
sống đành phải
bỏ lại một cánh
đồng xác ở đằng
sau để chạy về
miền Nam. Đi đến
cầu Dài gần sông
Mỹ Chánh th́ gặp
toán tiền sát
của thủy quân
lục chiến Việt
nam chận lại.
Khi biết chắc là
không phải quân
địch, ông trung
úy thủy quân lục
chiến phất tay
cho qua. Vừa đi
khỏi một đoạn
đường th́ thấy
ông sĩ quan bị
du kích phía sau
bắn sẻ chết ngay
tại chổ. Đó là
cái chết cuối
cùng ông chứng
kiến tại Quảng
Trị.
T́m xe quá giang
về Huế với tâm
trạng hết sức
năo nề. Nhưng
rồi phép lạ đầu
tiên đến với
cuộc đời ông.
Ngay tại khu vực
tạm cư Phú văn
Lâu, thuộc thành
phố Huế, ông gặp
lại đầy đủ vợ
con. Bà vợ mang
bầu đă dẫn ba
đứa con nhỏ đi
xuống đường ven
biển theo dân
địa phương. Đoàn
người đi xa quốc
lộ nên tránh
được pháo kích.
Vợ con dắt díu
nhau đi suốt một
ngày một đêm về
đến Mỹ Chánh,
rồi được xe cho
bà bầu quá giang
về Huế. Hai năm
sau người vợ đầu
tiên của ông
Châu qua đời,
sau khi sinh cho
ông thêm ba
ngưới con nữa.
Cô gái c̣n nằm
trong bụng mẹ
trên đại lộ kinh
hoàng năm nay
đúng 37 tuổi,
tốt nghiệp đại
học và đă có gia
đ́nh, hiện cư
ngụ tại miền
đông Hoa kỳ.
Những bước chân
trần ai trên băi
cát Quảng Trị
mùa hè năm 1972
của bà mẹ mang
bầu không biết
có c̣n vương vấn
chút nào trong
ḷng cô bé nghe
pháo kích từ lúc
chưa ra đời.
“Tụi nhỏ chẳng
biết ǵ đâu,”
ông Châu nói.
“Chỉ có đứa lớn
nhất năm nay
ngoài 40 tuổi là
c̣n nhớ đôi
chút.”
Hỏi rằng thế ông
có được bao
nhiêu con tất
cả. Ông tính
nhẩm rồi nói
rằng tất cả 10
con. Bà đầu tiên
sáu con. Bà thứ
hai ba con. Bà
này bỏ tôi đi
lấy chồng nên
bây giờ vẫn c̣n
ở Việt Nam. Tôi
đưa cả ba cháu
sang đoàn tụ bên
này. Bà hiện nay
ở với tôi có một
cháu, năm nay
cháu 24 tuổi
rồi. Bà sau này
có một con
riêng. Như vậy
là chúng tôi có
11 con. Thế bác
có hạnh phúc
không?
“Hạnh phúc chứ.
Tất cả là số
trời,”
ông Châu nói,
“Cái đêm nằm ở
đại lộ kinh
hoàng, uống nước
máu người và
phân trâu tôi
không bao giờ
giờ nghĩ đến có
ngày đi Mỹ như
bây giờ. Tôi
nghĩ bấy giờ vợ
con chết hết th́
ḿnh sẽ ra sao.
Làm sao t́m xác?
Rồi chôn ở đâu?
Hàng trăm xác
người chung
quanh, biết bao
nhiêu xác trẻ
con, vợ con tôi
đều trong số đó.
Không hiểu nó
bắn pháo đạn ǵ
quá ác. Tất cả
xác chết như
than củi chẳng
làm sao biết
được người nào
là người nào.”
“Năm 1973 tôi có
trở lại, đi qua
con đường thấy
có đài tưởng
niệm, rồi có các
mồ chôn tập thể,
có mồ chôn riêng
rẽ. Ḷng tôi hết
sức xúc động,” ông Châu nói.
“Cho đến bây giờ
tôi vẫn c̣n xúc
động. Con cháu
tôi th́ nhiều
nhưng mà làm sao
các con hiểu
được những ǵ
tôi đă trải qua.
Trận 72 quân ta
mới lấy lại một
nửa Quảng Trị.
Đứng bên này
ḍng Thạch Hăn,
bên kia là Nhan
Biều, nơi tôi ra
đời c̣n cả ngôi
nhà thân yêu.
Bên ta đă bị
địch chiếm bờ
Bắc, chỉ giữ
được bờ Nam, đến
75 th́ bờ Nam
cũng chẳng c̣n.”
“Vâng thưa bác,
năm nay em 67
tuổi,”
ông Châu nói
tiếp,
“Quê ở Nhan
Biều, bờ bắc
sông Thạch Hăn,
ngay dưới cầu
Ga. Nhà em thi
vào làm trung sĩ
thông dịch viên
năm 1966 khóa 11
tại Quân đoàn I
. Sau 75 em trốn
được. Nếu khai
thật chắc là bị
buộc tội CIA.
Sau đó em vượt
biên rồi đoàn
tụ. Trước sau ba
vợ, 11 người
con. Bà sau này
là bà bền chặt
nhất đă sống với
nhau 25 năm.
Vâng, thưa bác,
đây chắc chắn là
bà sau cùng. Gia
đ́nh em rất hạnh
phúc. Phần em,
dù có bị kinh
hoàng nhưng cũng
chỉ có một ngày
một đêm. So với
người ta có
người cả đời
kinh hoàng th́
nỗi khổ của
chúng em có thấm
vào đâu.”
Đó là câu chuyện
của ông Châu,
nhân chứng số 1
của chúng tôi.
Tôi hỏi ông Châu
câu cuối cùng.
“Ông có biết ai
đặt tên Đại Lộ
Kinh Hoàng.” “
Không đâu,” bây
giờ ông gọi tôi
là cụ. “Cụ với
cụ Việt không
biết th́ ai mà
biết. Nhưng quả
thực là kinh
hoàng thực đấy
các cụ ạ.”
Tuy hỏi vậy,
nhưng tôi đă t́m
ra ai là người
đặt tên …
-
"Đại Lộ
Kinh Hoàng"
Bấy giờ, phía Nhảy Dù vẫn giữ cánh trái giữa Quốc Lộ 1 trải dài lên phía Động Ông Đô và căn cứ Barbara, đánh cuốn chiếu ra từ sông Mỹ Chánh. Thủy Quân Lục Chiến cặp sườn QL1 bên trái giăng hàng ngang theo sông Mỹ Chánh ra tới các làng Mỹ Thủy, Gia Đẳng ở trên bờ biển, cùng nhắm hướng tây bắc.
Thấy yên lặng và không có người, cả ta lẩn địch, hai chúng tôi bò theo khung cầu sắt gẫy qua bên bờ bắc, len lách giữa đám mìn chống chiến xa, để quay trở lại QL1.
Vào xế trưa, công binh bắc xong cầu, và mang xe ủi qua, gạt các xác xe dạt xuống hai bên vệ đường, mở một lối đi nhỏ trên mặt nhựa cho các xe tiếp tế đạn dược lên phía Quảng Trị, cũng như lấy thương binh và xác tử sĩ về. Do đó, ngoài hình ảnh của chúng tôi, những hình chụp sau khi xe ủi qua, đã không còn cảnh nguyên thủy của nét kinh hoàng.
Đích thân chủ nhiệm từ Saigon ra ăn chay nằm đất với chúng tôi, hàng ngày kết hợp với anh Nguyễn Kinh Châu, trưởng văn phòng đại diện Sóng Thần Huế, và các thân hữu, chúng tôi liên tục tới hiện trường thu nhặt xác chết gói vào từng bao nylon, trước khi bỏ vào quan tài bằng gỗ thô sơ, mai táng ở một khu đất xin được ở phía đông của QL1, ở làng Mỹ Chánh. Khi làm việc nầy, chúng tôi không treo băng dựng bảng để khoe công. Tấm bảng thật lớn cắm ở đầu cầu bên trái sau khi qua khỏi cầu Bến Đá (trước ngày mất nước) là do lệnh của Tổng thống Thiệu. Bốn chữ "Đại Lộ Kinh Hoàng" là chữ của tôi, nhưng bên dưới tấm bảng ghi là "Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu".
Ngy Thanh
Hốt xác đồng bào
"Trong chiến tranh VN có ba trận đánh quy mô cần quan tâm. Đó là trận Mậu Thân, Hoa Kỳ gọi là Tet Offensive 1968. Trận thứ hai là trận Quảng Trị 1972, Hoa Kỳ gọi là Easter Offensive. Trận thứ ba là 30-4-1975," Ông Lộc cho biết trong lá thư gửi tới thân hữu. "Lịch sử chiến tranh Việt Nam cần có một phim tài liệu về Quảng Trị. Đây sẽ là phim đầu tiên."
Cứ vậy mà một tuần trôi qua đến ngày tôi phải về lại Saig̣n, trước sự bịn rịn của anh chị Châu. Tôi mất ngủ nhiều ngày sau đó, v́ sợ th́ ít mà v́ những ǵ đă thấy đă khiến tôi như tê dại hẳn đi – cảm giác tê dại mà tôi lại được biết tới vào ba năm sau đó, ngày 30 tháng 4, năm 1975 ...
Bài này cũng xin được coi là thêm một lần nữa, tri ơn những vị hảo tâm đă đóng góp để chương tŕnh "Thác Một Nấm Mồ" được h́nh thành cách đây đă gần 40 năm. Đồng thời như một nén hương tưởng niệm những người đă bỏ mạng trên Đại Lộ Kinh Hoàng, xác phơi nắng mưa tới hơn hai tháng trời trước khi chúng tôi xin được phép vào tới nơi để làm cái việc hốt xác.
Trùng Dương
Ba mươi bảy năm
sau khi cùng
nhau cầm bao
nylon lom khom
lội vào vùng
chiến sự để
thu nhặt xác
đồng bào bị
thảm sát bởi
đạn của Sư
Đoàn Pháo Bông
Lau mà cứ như
lén lút vào
kho tội ác
của Cộng sản
để đánh cắp,
câu đầu tiên
anh Nguyễn Kinh
Châu nhắc đi
nhắc lại với
tôi (như cứ sợ
chính mình
cũng sai sót)
là tên đầy đủ
của nghĩa
trang mà nhật
báo ST đã mai
táng 1,841
xác,
“Ngĩa Trang Đồng
Bào Chiến Nạn
Quảng Trị̣ do
nhật báo Sóng
Thần và thân
hữu phụng
lập”.
Một lần đi
hốt xác
đồng bào bị
Việt Cộng
chôn sống
trong tết
Mậu Thân ở
Huế, và lần
thứ nhì hốt
xác đồng
bào bị Việt
Cộng tàn
sát trên
Đại Lộ Kinh
Hoàng ở
Quảng Trị,
những hình
ảnh ghê rợn
đã khắc
chạm thật
sâu vào ký
ức anh Châu,
như một thứ
đền tưởng
niệm Cánh
Đồng Chết
của nạn
nhân Pol Pot
ở Cam-Pu-Chea
–
“trăm năm
bia đá thì
mòn, ngàn
năm bia
miệng vẫn
còn trơ trơ”.
Trả lời
câu hỏi
của tôi,
anh Nguyễn
Kinh Châu
nhắc lại con
số 1,841
xác nạn
nhân một
cách dễ
dàng như
không cần
khui một
gói thuốc
lá để biết
trong đó
có 20 điếu.
Tôi hỏi tiếp,
làm sao anh
nhớ được
chính xác
như thế, anh
tâm sự,
“Làm sao
không, có
ngày nào
là áo quần
không thấm
mùi hôi của
xác chết,
có xác
nào không
là xác
đồng bào,
anh em?”
Khi mới
bắt tay
vào việc,
chính
quyền và
quân đội
chưa cho
phép
thường dân
qua sông Mỹ
Chánh vì
vấn đề an
ninh
(sợ
Việt Cộng
trà trộn
để hoạt
động)
và
vì vấn đề
an toàn
(sợ
đạn pháo
binh Việt
Cộng bắn
trúng làm
chết nhóm
người đi
lượm xác
đồng loại).
Vấn đề
mang một
nhóm
thường dân
vượt qua
phòng
tuyến quân
sự Mỹ
Chánh để
tìm và thu
nhặt xác
là chuyện
chưa từng
xảy ra
trước đây
trong chiến
tranh Đông
Dương. Mặt
khác, anh
em báo ST
ngại một
khi đăng
lời kêu
gọi xin
độc giả
tiếp tay
đóng góp,
tiền tới
tay rồi mà
lỡ xác
đồng bào
lấy về
không được
sẽ bị mang
tiếng lừa
phỉnh, nên
anh Châu
hội ý với
anh em
phóng viên
ST đang có
mặt tại
Huế, rồi
vào Đà
Nẵng bàn
thêm với
bác sĩ
Phạm Văn
Lương. Kết
quả: chúng
tôi quyết
định thử
nghiệm
trước bằng
cách tự
lực. Anh
Châu đã
mang chiếc
xe gắn máy
Honda 68
tới xin
cầm cho
một thân
hữu là anh
Huỳnh Văn
Phúc, chủ
tiệm vàng
Phúc Ân
kiêm tổng
thư ký Hội
Đồng Tỉnh
Thừa Thiên,
lấy 50
ngàn đồng
để làm
vốn liếng
khởi công.
Ngạc nhiên
thấy anh
Châu cầm xe,
anh Phúc
hỏi dồn,
nên đã
biết sự
thật là
anh Châu
cần tiền
để trao cho
thầy Thích
Đức Tâm ở
chùa Pháp
Hải bên
cồn Hến
đóng quan
tài để ra
Quảng Trị
lượm xác
đồng bào
bị pháo
chết. Biết
việc chúng
tôi làm như
thế, anh
Phúc bảo
anh Châu cứ
mang xe về,
và cho anh
chị em ST
mượn 50
ngàn tiền
mặt, một
số tiền
không nhỏ
lúc bấy
giờ, để
khởi công.
Bên cạnh đó,
anh em ST
vào Bộ Tư
Lệnh Tiền
Phương Quân
Đoàn 1
tiếp xúc
với Quân Y
Viện
Nguyễn Tri
Phương. Chỉ
huy trưởng,
thiếu tá
Nguyễn văn
Cơ đã cho
nhóm Sóng
Thần 200
bao nylon
loại dùng
để tẩm
liệm quân
nhân tử
trận.
Ngoài ra,
nhóm mượn
được một
xe GMC của
Tiểu Khu
Thừa Thiên
làm phương
tiện vận
chuyển
đoàn hốt
xác và
xác hốt
được. Về
sau khi số
xác lượm
được tăng
lên tới con
số gần hai
ngàn, anh
Cơ vẫn cung
cấp đầy
đủ để gói
ghém tử
thi đồng
bào, đồng
thời phía
Tiểu Khu
Thừa Thiên
tăng cường
cho mượn
thêm một xe
GMC nữa,
và phía
Tiểu Khu
Quảng Trị
cho mượn 2
GMC khác,
để di
chuyển xác
chết.
Sóng Thần
đã tiến
hành hốt
xác tất
cả 3 đợt.
Khi chị
chủ nhiệm
Trùng Dương
từ tòa
soạn ra
tham dự để
ăn đạn
pháo kích
là đợt
một. Đợt
nầy đoàn
hốt xác
có 4 tổ,
mỗi tổ 4
người, thu
được trên
800 xác.
Về sau
đoàn hốt
xác tăng
lên thành 7
tổ. Sợ
mùa mưa
tới xác
đồng bào
bị vữa và
trôi hết
phần thịt,
chúng tôi
đã tăng
gấp đôi số
nhân công
để rút
ngắn thời
gian.
Khởi đầu,
thầy Đức
Tâm thuê
đóng và
giao cho
đoàn 20
quan tài
để mang
theo, xem
thử đủ
thiếu thế
nào. Lên
đường, anh
em ST chúng
tôi chỉ
dám cầu
mong lượm
được tới
20 xác như
mong muốn
của thầy
Đức Tâm,
vì khu vực
giữa hai
cầu Bến
Đá và
Trường
Phước là
đụn cát
trắng không
nhà cửa
cây cối,
hễ thấy
bóng người
di chuyển
là tiền
sát viên
Việt Cộng
gọi pháo
tầm xa từ
Trường Sơn
bắn xuống.
Kết quả
của ngày
đầu thật
bất ngờ
với con số
96 xác. 20
xác đầu
tiên được
xếp vào
quan tài,
phần xác
còn lại
gói tạm
vào bao
nylon mang
về đặt
trong các
phòng học
của trường
Mỹ Chánh.
Dạo 1968,
anh Nguyễn
Kinh Châu
là ký giả
đã theo
chân đoàn
người đi
khai quật
các hố chôn
tập thể
và đã có
loạt hình
chạy 8 cột
bề ngang
trên báo
Hòa Bình
tường thuật
tội ác
rùng rợn
nầy. Cũng
nhờ quen
biết cũ từ 4
năm về
trước, lần
nầy đề xuất
việc đi
lượm xác,
anh Châu đă
quay lại
Phú Thứ để
tìm gặp và
thuyết phục
các người
chuyên về di
dời xác
chết bốn năm
trước, sau
Tết Mậu
Thân, để họ
bằng lòng
tham gia
công việc
nghĩa tử
dưới làn
đạn pháo
của Sư Đoàn
Pháo Bông
Lau. Đúng
là Việt
Cộng đă
dành cho
những người
nầy những
việc làm
có một
không hai
trong lịch
sử tội ác
chiến tranh.
Nhưng vì
lănh thổ
Quảng Trị
vẫn còn
giao tranh
và bom đạn,
nên những
người phu
chỉ bằng
lòng nhận
lời với chi
phí 1.600
đồng mỗi
ngày, so
với giá
thuê mướn
làm công
nhật ở
thành phố
Huế lúc bấy
giờ là 100
đồng/ngày,
và giá
vàng 1.600
đồng một
chỉ. Sở
dĩ giá cả
cao như thế
mà nhóm ST
phải chấp
nhận vì khu
vực “Đại Lộ
Kinh Hoàng”
vẫn còn
rất kinh
hoàng, phu
hốt xác ra
đó để thu
lượm xác
không những
phải làm
việc giữa
điều kiện
mất vệ sinh
giữa những
xác chết,
mà còn
phải đưa
lưng đội
đạn pháo
từ Trường
Sơn bắn
xuống.
Những tay
làm báo
chúng tôi
vì nghiệp
dĩ của
mình mà
lăn lưng ra
chốn tên bay
đạn lạc,
nhưng người
dân họ có
lý của họ,
nhất là khi
phải đổi
bát máu
lấy bát cơm
để nuôi
thân và
nuôi gia
đình. Khi
tới băi xác
người,
những phu
lượm xác
nầy mỗi
người đều
mang theo
một lọ mắm
ruốc. Họ đă
lấy ngón
tay chấm mắm
ruốc bôi lên
mũi, dùng
mùi thối
của mắm để
mong át đi
mùi thối
của xác
chết, và
cũng để
đánh lừa
khứu giác
của mình.
Sau những
ngày đầu
vừa làm vừa
rút kinh
nghiệm,
đoàn hốt
xác buổi
tối về hay
tập trung
ở nhà từ
đường của
chị Tôn Nữ
Mộng Nhiên
ở số 100
đường thuận
An, là nơi
“đóng đô”
của đám
phóng viên
ST trẻ Trần
Tường
Trình,
Đoàn Kế
Tường và
NgyThanh.
Nghe đám
nhà báo
bàn bạc
chuyện
lượm xác,
ban đầu hai
cô chủ nhà
là chị
Mộng Nhiên
và chị Lẫm
góp ý. Từ
từ bén
chuyện, hai
cô tình
nguyện tham
dự trò
chơi với
đạn pháo
kích. Thế
là đoàn
hốt xác có
thêm hai
khuôn mặt
hoàng
phái, đảm
nhiệm việc
ghi chép
sổ sách
và ghi số
mỗi xác,
cùng những
giấy tờ hay
di vật gì
chúng tôi
lấy được
trên thi
thể của
họ̣. Những
vật dụng
và tư trang
cá nhân ấy
được cho
vào bao
nylon có
ghi số
trùng với
số của quan
tài, để về
sau trả lại
cho thân
nhân người
quá cố.
Công tác hốt
xác kéo dài
ròng ră tới bảy
tháng mới hoàn
tất.
Sau khi thu
nhặt hết
xác trên
hai băi cát
dọc hai bên
đoạn quốc lộ̣
mang tên
“Đại Lộ Kinh
Hoàng” và
mai táng
xong, anh em
ST còn giữ
lại nửa
triệu, tức
một phần sáu
tổng số
tiền lạc
quyên được
từ đọc giả
hảo tâm,
chúng tôi
đă dùng số
tiền nầy
dựng một bức
tượng Đức
Địa Tạng rất
lớn ngay chỗ
có nhiều
xác chết
nhất, lập
một đền thờ
oan hồn, và
tổ chức một
lễ cúng do
anh Lý Đại
Nguyên từ
Saigon đại
diện tòa
soạn ra chủ
tọa. Đền thờ
này vẫn
còn cho đến
ngày nay.
Lời cuối:
Cuộc chiến
nào mà không
có thảm sát,
chiến tranh
nào mà chẳng
có nạn nhân.
Nhưng h́nh
ảnh của một
đứa bé ngồi
khóc bên xác
mẹ giữa một
chiến trường
thảm khốc
đầy xác
thường dân
như ở Đại Lộ
Kinh Hoàng
vẫn là một
h́nh ảnh đau
thương nhất
mà chúng ta
không thể
nào quên
được.
V́ vậy tôi
cố t́m cho
được câu
chuyện của
một nhân
chứng đích
thực, c̣n
sống để kể
lại hầu quư
vị và riêng
tặng cho đại
tá Nguyễn
Việt Hải,
chỉ huy
trung đoàn
pháo Bông
Lau của Quân
đội Nhân dân
của nước
Cộng ḥa Să
hội Chủ
nghĩa Việt
Nam.
Trong tác
phẩm “Mùa hè
cháy”, xuất
bản năm
2005, tác
giả đă viết
thật rơ ràng
là đơn vị
của ông khai
hỏa tập
trung pháo
122, pháo
130 và pháo
155 mà ông
gọi là trận
địa pháo
cường tập
trên Quốc lộ
1 vào đám
ngụy quân
trên đường
bỏ chạy.
Ông đại tá
pháo binh
tác giả của
tác phẩm
“Mùa hè cháy”
đă đích thân
quan sát
trong vai
tṛ tiền sát
viên để trực
tiếp chỉ huy
bắn.
Bài báo ngắn
ngủi và
khiêm nhường
hôm nay hy
vọng sẽ đến
tay các pháo
thủ miền Bắc
ngày xưa để
họ nhớ lại
thành quả
vào ngày 1
tháng 5
trong chiến
dịch Nguyễn
Huệ 1972.
Định mệnh
nào đă dành
cho ông Phan
văn Châu c̣n
sống để định
cư tại Hoa
Kỳ với 11
người con
thành đạt,
hàng năm vẫn
gửi tiền về
giúp cho
miền quê
nghèo khổ xứ
Nhan Biều.
Bây giờ,
những mộ
phần tập thể
của dân oan
chết v́ trận
mưa pháo
Bông Lau năm
72 đă chẳng
c̣n dấu vết.
Những đứa bé
đói sữa nằm
bên xác mẹ
rồi cũng đă
chết hết
trên đại lộ
kinh hoàng
37 năm về
trước.
Nhưng mà sao
tiếng khóc
của em vẫn
c̣n nghe
văng vẳng
đâu đây …
