|
Nguyễn
Tiến
Hưng
TÂM TƯ
TỔNG
THỐNG
THIỆU
***
CHƯƠNG
18
Thoát chết
lúc ra
đi
Đám đông
đứng dọc
đại lộ
ngước
lên nh́n
những
chiếc
phản lực
xé mây
tung
cánh sắt.
Trên đài
danh dự,
quan
khách
chăm chú
theo rơi
cuộc
duyệt
binh vĩ
đại. Các
binh
chủng
trong
những bộ
quân
phục đủ
mầu theo
nhau đi
diễn
hành.
Từng lớp
rồi lại
từng lớp,
xe tăng
thiết
giáp lừ
lừ lăn
bánh,
trông
thật oai
hùng.
Bất chợt,
một
chiếc xe
dừng lại
ngay
trước
khán đài.
Viên sĩ
quan chỉ
huy bước
xuống,
rồi đứng
vào thế
nghiêm
giơ tay
chào.
Người
chủ tọa
ngồi ghế
giữa
đứng lên
để chào
lại.
Nhưng
ông vừa
đứng lên
th́
tiếng
súng nổ
đùng
đùng,
một loạt
đạn bắn
xả vào
hàng ghế
danh dự.
Đó là
quang
cảnh tại
Cairô
vào ngày
6 tháng
10,
1981.
Hôm ấy
là ngày
Ai Cập
kỷ niệm
chiến
thắng Do
Thái năm
1973.
Tổng
thống
Anwar El
Sadat
hănh
diện chủ
tọa cuộc
diễn
binh với
những
khí giới
tối tân
nhất.
Khi ông
đứng lên
để chào
người sĩ
quan,
những kẻ
sát nhân
từ trong
xe nhảy
bổ ra hô
lên thật
to "Death
to
Pharaoh,"
(Chết
cho
Pharaô)
rồi bắn
ông ngă
gục.
Cùng
chịu số
phận với
ông là
một số
quan
khách,
gồm cả
Đại sứ
Cuba,
một
tướng
lănh, và
một giám
mục.
Ngồi xem
tivi
chiếu
cảnh này
buổi
sáng hôm
ấy,
chúng
tôi giật
ḿnh nhớ
lại câu
chuyện
Tổng
thống
Thiệu kể
chỉ mới
gần một
năm
trước đó.
Ông kể
rằng vào
ngày
Quân Lực
năm 1974
(20
tháng 6),
ông rất
ưu tư về
nguy
hiểm bị
hạ sát
trong
lúc
duyệt
binh. Mà
cũng dễ
thôi, v́
phải
ngồi
ngay
trên
khán đài
để duyệt
từng
đoàn
quân với
đầy đủ
vũ khí
các loại,
trên
không
th́
A-37, F5
bay rợp
trời,
làm sao
mà kiểm
soát cho
hoàn
toàn
được là
tất cả
vũ khí
đều
không có
nạp đạn
như luật
lệ về
diễn
binh quy
định?
Nếu có
âm mưu
ám sát
th́ chỉ
cần gài
một vài
người ăn
mặc quân
phục đeo
súng có
nạp đạn
đi lẫn
vào đoàn
quân
diễn
hành là
đủ rồi.
Trong
Chương
21,
chúng
tôi có
trích
dẫn về
dịp ông
Thiệu đi
duyệt
binh một
lực
lượng
năm ngàn
nhân dân
tự vệ
đầy đủ
vơ trang
đứng dàn
chào.
Ông nói
với nhà
báo
Oreana
Fallaci:
"Muốn
giết tôi
th́ chỉ
cần một
viên đạn
đến từ
một khẩu
súng là
xong."
Chúng
tôi hỏi
Tổng
thống
Thiệu là
tại sao
trong
ngày 20
tháng 6
những
năm
trước
cũng có
duyệt
binh mà
ông
không lo,
chỉ có
năm
1974?
Ông giải
thích
rằng sau
Hiệp
định
Paris là
tới lúc
phải
thành
lập một
'Hội
Đồng Ḥa
Hợp Ḥa
Giải Dân
Tộc',
một h́nh
thức
chính
phủ liên
hiệp với
Mặt Trận
Giải
phóng.
Tiến bộ
về việc
này th́
hầu như
không có
ǵ, và
cuộc đàm
phán ở
La Celle
St.
Cloud
gần
Paris
th́ đă
bị ngừng
lại từ
ngày 16
tháng 4,
1974.
Ông
Kissinger
rất bất
măn và
đang làm
áp lực
cho ông
Thiệu
phải làm
lẹ việc
này. Lúc
ấy th́
ông
Kissinger
rất mạnh
v́ ông
Nixon
th́ hầu
như bị
tê liệt
v́ vụ
Watergate,
sắp phải
từ chức.
Đó là hè
1974.
Đến mùa
xuân
1975 th́
có vụ
ném bom
Dinh Độc
Lập.
Trong
suốt
thời
gian
lănh đạo,
ông
Thiệu đă
gặp
nhiều
nguy
hiểm,
nhưng vụ
ném bom
sáng
ngày 8
tháng 4
là lần
đầu tiên
hành
động sát
hại trở
nên rơ
ràng và
cụ thể.
Lúc ấy
tin đồn
thổi về
đảo
chính âm
ỷ từ
ngày này
sang
ngày kia.
Sau khi
mất Đà
Nẵng th́
đêm đêm,
chúng
tôi cũng
thấy có
nhiều
binh sĩ
canh gác
tại các
hành
lang
Dinh Độc
Lập.
Dù sao,
độ nguy
hiểm của
vụ ném
bom
tương
đối cũng
không
cao lắm,
v́ khuôn
viên ṭa
nhà này
rất rộng,
thả vài
quả bom
mà trúng
đúng mục
tiêu th́
cũng khó:
khi
chiếc
máy bay
nhào
xuống
thả bom
đợt đầu,
hai quả
đă rơi
xuống
khu sân
vườn.
Tuy
nhiên,
chỉ trên
vài tuần
sau đó,
âm mưu
ám sát
lần cuối
cùng đă
có khả
năng
thành
công rất
cao.
Xuưt nữa
th́ ông
Thiệu đă
ra đi về
thế giới
bên kia
chứ
không
phải
sang Đài
Loan. Và
nếu đă
xảy ra
như vậy
th́ hằng
năm Lễ
Tưởng
Niệm ông
là ngày
25 tháng
4 chứ
không
phải 29
tháng 9.
Chuyện
này th́
cho tới
ngày tạ
thế,
chính
Tổng
thống
Thiệu
cũng đă
không
biết rơ.
Bản thân
chúng
tôi cũng
chỉ mới
biết gần
đây.
Đảo
chính,
đảo
chính!
Theo như
những
chuyện
Tổng
thống
Thiệu kể
lại và
nghiên
cứu thêm
th́
chúng
tôi đếm
ra cũng
đă có
tới ít
nhất là
sáu lần
ông bị
đe dọa,
hoặc v́
một lư
do nào
đó làm
ông cảnh
giác về
đảo
chính.
Trước
hết, để
kiểm
điểm lại
những
nguy
hiểm
trong
thời
gian ông
lănh đạo,
chúng
tôi xin
nhắc lại
vài
trường
hợp đă
ghi
trong
cuốn
KĐMTC để
cho có
mạch lạc:
·
Năm 1968
Nguy
hiểm đầu
tiên là
vào dịp
bầu cử
Tổng
thống
Hoa kỳ
năm
1968.
Sau vụ
ông tháu
cáy với
Tổng
thống
Johnson
vào giây
phút
cuối
cùng (tuyên
bố ngay
trước
ngày
tuyển cử
là không
tham gia
Ḥa đàm
Paris )
để giúp
ông
Nixon
thắng cử,
chính
phủ
Johnson
đă phẩn
nộ và Bộ
trưởng
Quốc
Pḥng
Clark
Clifford
đă tính
lật đổ
ông. Từ
đảo
chính
tới sát
hại th́
cũng
không
bao xa,
như đă
xảy ra
cho vị
tiền
nhiệm
của ông.
Tác giả
Seymour
Hersh
trong
cuốn “The
Price of
Power,”
sau khi
đúc kết
các tài
liệu về
vụ này
đă tiết
lộ rằng
sau cuộc
bầu cử
1968,
chính
ông
Kissinger
đă báo
động cho
phía
Nixon về
mưu đồ
của Bộ
trưởng
Quốc
Pḥng
Clifford
và cảnh
cáo:
“Nếu
ông
Thiệu
chịu
chung
một số
phận với
ông Diệm
th́ tất
cả các
dân tộc
trên thế
giới sẽ
nghĩ
rằng làm
kẻ thù
của Mỹ
có thể
là nguy
hiểm,
chứ làm
bạn với
Mỹ chắc
chắn là
chết”[1]
TT Thiệu
kể lại
rằng
trên
đường từ
Dinh Độc
Lập tới
Quốc Hội,
ông hết
sức lo
ngại, có
thể ông
sẽ bị
CIA ám
sát nếu
như TT
Johnson
và Phó
TT
Humphrey
biết
trước
được là
ông sắp
sửa phản
phé và
bác bỏ
kế hoạch
ḥa b́nh
của Hoa
kỳ, ngầm
phá hoại
cơ hội
thắng cử
của
Humphrey.
“Và
nếu họ
muốn ám
sát tôi
th́ cũng
dễ thôi.
Rồi sau
đó cứ
việc đổ
cho Việt
cộng
hoặc là
do ‘âm
mưu đảo
chính.'
”
Khi kể
về
chuyện
này, ông
Thiệu
cho rằng
chính v́
ông đă
cưỡng
lại áp
lực của
Mỹ lúc
ấy mà
kéo dài
thêm đời
sống của
VNCH
được gần
6 năm.
·
Năm
1972
Vào mùa
thu
1972,
sau khi
ông
Thiệu cứ
nhất
định
không
chịu
chấp
nhận kư
Hiệp
Định
Paris ,
TT Nixon
đă áp
đảo tinh
thần ông
bằng
cách
nhắn
khéo về
đảo
chánh.
Trong
bức thư
đề ngày
6 tháng
10,
1972,
Nixon
viết:
“Tôi
yêu cầu
Ngài cố
áp dụng
mọi biện
pháp để
tránh
sinh ra
sau này
một t́nh
huống có
thể đưa
tới
những
biến cố
tương tự
như biến
cố mà
chúng
tôi đă
ghê tởm
năm 1963
và chính
bản thân
tôi cũng
đă kịch
liệt
phản đối
năm
1968.”
Richard
Nixon.
Biến cố
năm 1963
là đảo
chánh và
ám sát
Tổng
Thống
Diệm mà
chính
ông
Thiệu đă
tham dự.
C̣n biến
cố 1968
th́ đă
đề cập
trên đây:
chính
Nixon và
Kissinger
đă cực
lực phản
đối và
cứu được
ông
Thiệu.
Nhưng
tới 1972
th́ lại
đến lần
hai ông
này đi
theo con
đường cũ.[2]
Về đe
dọa của
các ông
Nixon –
Kissinger
th́ hai
chuyên
viên
trong
Hội Đồng
An Ninh
Quốc gia
là Roger
Morris
và Tony
Lake đă
viết cho
Kissinger
một phúc
tŕnh
(ngày
21 tháng
10,
1972)
trong đó
có nói
tới các
phương
cách lật
đổ ông
Thiệu.
Sau này
Morris
xác nhận:
“Tôi bảo
Tony
rằng hai
đứa ḿnh
phải cho
Henry
hiểu rơ
là ta
sẵn sàng
thanh
toán
Thiệu”[3].
Chắc là
có mặc
cảm về
những đe
dọa ấy
nên sau
này ông
Kissinger
cũng đă
viết cho
ông
Thiệu
vào đầu
năm
1980:
“Giá
như ư
định của
Tổng
Thống
Nixon và
của tôi
là phản
bội Ngài,
th́
chúng
tôi đă
có thể
làm như
thế hồi
đầu năm
1969 rồi.”
·
Năm 1973
Mặc dù
những
lời đe
dọa ghê
gớm ấy,
ông
Thiệu
vẫn
chống
đối
không
chịu
chấp
nhận bản
hiệp
định.
Nhưng
khi ngày
đăng
quang
nhiệm kỳ
hai đă
gần kề,
Tổng
thống
Nixon
muốn cho
h́nh ảnh
ḥa b́nh
chiếu
sáng,
ông đă
không
ngần
ngại nói
rơ hơn
về việc
đảo
chánh.
Ông viết
cho ông
Thiệu: “Tôi
nhất
quyết
cho phê
chuẩn
bản Hiệp
Định vào
ngày 23
tháng 1,
và sẽ kư
vào ngày
27 tháng
1, 1973
tại
Paris.
Tôi sẽ
làm việc
này dù
phải làm
một ḿnh…Kết
quả
không
tránh
khỏi sẽ
là việc
cắt viện
trợ quân
sự và
kinh tế
ngay lập
tức, mà
dù có sự
thay đổi
về nhân
sự trong
chính
phủ của
Ngài
cũng
không
thể cứu
văn được…”
(Thư
ngày 14
tháng 5,
1973).
Trong
ngôn ngữ
chuyên
môn về
mối bang
giao Hoa
Kỳ-VNCH,
“thay
đổi nhân
sự”
là câu
nói nhẹ,
đồng
nghĩa
với việc
đảo
chính.
Năm
1963,
khi việc
chuẩn bị
lật đổ
TT Ngô
Đ́nh
Diệm
đang
tiến
hành ráo
riết, TT
Kennedy,
trong
một buổi
phỏng
vấn với
Walter
Cronkite
trên đài
CBS, đă
nhắc tới
nhu cầu
“thay
đổi nhân
sự.”
Thông
điệp ấy
đă là
tín hiệu
‘bật đèn
xanh’ từ
cấp cao
nhất để
cho
tướng
lănh đảo
chính.
·
Ngày
Quân lực
1974
Về nguy
hiểm vào
ngày này
như đă
đề cập
trên đây,
ông
Thiệu
thêm
rằng ông
biết
vào lúc
ấy ông
không
phải là
người
lănh đạo
thích
hợp với
kế hoạch
‘ḥa
b́nh
trong
danh dự’
của hai
ông
Kissinger
và
Nixon,
nên đă
luôn đề
cao cảnh
giác về
khả năng
loại trừ
ông.
Sự việc
này có
thể cắt
nghĩa
được là
tại sao
sau Hiệp
định
Paris
ông cho
thiết kế
một
trung
tâm chỉ
huy dưới
lầu hầm
Dinh Độc
Lập. Đây
là nơi
được
trang bị
đầy đủ
với máy
phát
điện,
đường
điện
thoại
riêng
biệt,
đài phát
thanh,
rađiô
liên lạc
với
tướng
lănh,
một cái
giường
nhỏ và
một cái
gối mây.
Tổng
thống
Thiệu
rất cẩn
thận,
luôn
luôn sẵn
sàng để
đề pḥng
những
trường
hợp biến
loạn có
thể xẩy
ra.
·
Ngày 8
tháng 4,
1975
Một quả
bom thật
to chọc
thủng
băi trực
thăng
trên nóc
Dinh Độc
lập, lọt
xuống
rồi nổ
tung.
Ông
Thiệu
vừa ngồi
xuống
bắt đầu
ăn tô
phở ở
một bàn
nhỏ
ngoài
hành
lang
trên lầu
bốn, cận
vệ vội
tới đưa
ông vào
ngay
thang
máy để
xuống
lầu hầm.
Đầu
tháng 4
là thời
gian có
nhiều
chống
đối từ
mọi phía
đ̣i ông
Thiệu
phải từ
chức.
Chúng
tôi nghe
vậy cũng
thật ái
ngại,
nhưng
thấy ông
vẫn b́nh
tĩnh,
chỉ hơi
cáu kỉnh
khi nghe
báo cáo
về một
số quư
vị thuộc
đảng Dân
Chủ tại
Quốc Hội
đă quay
lại
chống
ông.
Về biến
cố ngày
hôm ấy,
bà Thiệu
kể là
trái bom
lại rơi
trúng
ngay chỗ
mỏng
nhất của
băi trực
thăng.
Mùi khét
tỏa ra
khắp nơi
khi
những
tấm thảm
giầy bốc
cháy dữ
dội. Lúc
ấy bà bị
kẹt cứng
trong
pḥng v́
cháu bé
người
làm đang
lo sắp
xếp quần
áo đă sợ
quưnh
lên, tay
run lẩy
bẩy,
không
t́m và
mở được
cái khóa
vào cầu
thang.
Một lúc
sau mới
có sĩ
quan đến
giúp bà
xuống
hầm trú
ẩn. Khói
bay lên
nghi
ngút làm
bà như
ngạt thở.
·
Ngày 21
tháng 4,
1975
“Tôi
sẽ nói
cho ông
Thiệu rơ
tôi đă
đi đến
một kết
luận vô
tư là
nếu ông
ta không
chịu từ
chức th́
các
tướng
lănh
dưới
quyền
ông sẽ
bắt buộc
ông làm
điều này,”
đại sứ
Martin
báo cáo
(ngày
21 tháng
4)
cho
Ngoại
trưởng
Kissinger
về việc
ông sẽ
cố
thuyết
phục TT
Thiệu từ
chức. Ư
ông đại
sứ muốn
nói là
sẽ có
đảo
chính.
Thoát
chết lúc
ra đi
Sau khi
Tổng
thống
Thiệu từ
chức,
tân Tổng
thống
Hương
vẫn để
cho ông
lưu lại
trong
Dinh Độc
Lập.
Nhưng
rồi có
nhiều áp
lực đ̣i
ông
Thiệu
phải rời
khỏi
Việt
Nam, v́
nếu
không
th́ phía
Cộng sản
không
chịu
điều
đ́nh với
“một
chính
phủ
Thiệu
không
Thiệu.”
Nhân dịp
có tang
lễ Tổng
thống
Tưởng
Giới
Thạch ở
Đài
Loan,
Đại sứ
Martin
báo cáo
về
Washington:
"Ông
Hương
nói ông
ta sẽ đề
cử cả
hai ông
Thiệu và
Khiêm
làm Đại
sứ Lưu
động và
gửi hai
người
sang Đài
Loan
mệnh
danh là
một phái
đoàn đại
diện ông
để phúng
điếu
tang lễ
ông
Tưởng
Giới
Thạch.
Tôi nghĩ
rằng mọi
chuyện
đă đuợc
sắp xếp
với phía
Đài Loan."
Thực ra
th́
ngoài
việc ông
Thiệu
phải ra
đi để dễ
hơn cho
việc đàm
phán về
một giải
pháp
chính
trị,
Tổng
thống
Hương
c̣n lo
ngại cho
sự an
toàn của
ông. Ông
Đại sứ
thêm:
"Tổng
thống
Hương
nói với
tôi là
ông ta
lo ngại
cho sự
an toàn
của cựu
Tổng
Thống
Thiệu…Bởi
vậy ông
Hương
yêu cầu
chúng ta
giúp cho
ông
Thiệu ra
đi thật
kín đáo
và sớm
nhất có
thể."
Ngoài
những
mưu toan
nguy
hiểm cho
ông
Thiệu từ
các phe
phái,
Tổng
thống
Hương
c̣n để ư
tới một
khía
cạnh cá
nhân nữa:
đó là sự
bất ḥa
giữa hai
người
tướng
lănh:
Nguyễn
Văn
Thiệu và
Dương
Văn
Minh. Sự
bất ḥa
này th́
đă có
mầm mống
từ lâu
và mọi
người
đều biết.
Như
chúng
tôi đă
đề cập
tới
trong
Chương
11,
chính
ông
Thiệu đă
cố vấn
Tổng
thống
Hương là
chớ có
đề cử
Tướng
Minh làm
Thủ
tướng v́
sẽ rất
nguy
hiểm.
Việc ông
Minh
không ưa
ǵ ông
Thiệu
th́ cũng
đă công
khai.
Bởi vậy
vào giờ
chót,
Tổng
thống
Hương
muốn đưa
ông
Thiệu ra
khỏi
Việt Nam
trước
khi
ông Minh
lên nắm
chính
quyền.
Ông
Martin
viết:
"Tổng
Thống
Hương
nhất
quyết là
ông
Thiệu
phải ra
khỏi
nước đă
rồi lúc
đó ông
ấy mới
đi tới
quyết
định
cuối
cùng là
trao
quyền
cho ông
Big
Minh."
Đó là về
sự cần
thiết và
thời
điểm ra
đi,
nhưng
c̣n cách
ra đi
th́ làm
sao cho
được an
toàn?
Chi tiết
chuyến
đi của
hai ông
Thiệu và
Khiêm từ
Bộ Tổng
Tham Mưu
ra phi
trường
Tân Sơn
Nhất th́
nhân
viên CIA
là Frank
Snepp đă
kể lại
và chúng
tôi cũng
có đề
cập tới
trong
cuốn
KĐMTC.
Ông
Snepp và
một nhân
viên
khác là
Joe đă
giấu vũ
khí dưới
chỗ ngồi
trong xe
v́ lo sợ
tái diễn
vụ sát
hại như
trường
hợp hai
anh em
Tổng
thống
Diệm.
[4]
Mới đây,
câu
chuyện
từ lúc
Tổng
thống
Thiệu
rời bỏ
Dinh Độc
Lập tới
Bộ TTM
và ra
phi
trường
được
Thiếu tá
Nguyễn
Tấn Phận
kể lại
rất chi
tiết.
[5]
Ông Phận
là một
trong
đoàn tùy
tùng 8
người
(cuối
cùng chỉ
có 7
người)
của Tổng
thống
Thiệu và
4 người
của Thủ
tướng
Khiêm
được
phép
Tổng
thống
Hương
cho đi
tháp
tùng
theo như
yêu cầu
của ông
Thiệu.
Diễn
biến có
thể tóm
tắt như
sau:
"Vào
khoảng 7
giờ 30
tối,
Tổng
Thống
Thiệu
thay bộ
đồ bốn
túi
trong
pḥng
ngủ rồi
qua
pḥng
nhỏ bên
cạnh
nghiêng
đầu qua
cửa sổ
nh́n
xuống.
Dưới sân,
bên cạnh
thềm tam
cấp một
chiếc xe
Mercedes
mầu xanh
đậm đă
đậu sẵn.
Người
lái xe
là Đại
Tá Nhan
Văn
Thiệt.
Thấy mọi
việc đă
sẵn sàng,
Tổng
thống
Thiệu
vội vă
rút
trong
hộc tủ
cây
Browning
đă lắp
đầy đạn,
ông khóa
chốt an
toàn rồi
cho vào
túi áo.
Ông
xuống
tầng
trệt
bằng
thang
máy. Khi
cánh cửa
mở ra
th́ Đại
Tá Trần
Thanh
Điền đă
túc trực
tại đó.
Ông vừa
bước
xuống
bậc tam
cấp th́
lại cũng
vào lúc
có hai
binh sĩ
(tên là
Sanh và
Kh́nh)
xuất
hiện làm
ông giật
ḿnh.
Thực ra
là họ
chỉ đến
để đổi
gác. Ông
và ông
Điền
lanh lẹ
bước vào
xe. Đại
tá Điền
ngồi bên
phải của
Tổng
thống
Thiệu ở
băng sau.
Như vậy
là ông
Điền đă
ngồi vào
chỗ
chánh
thức của
Tổng
thống –
Trần
Thanh
Điền
muốn làm
Lê Lai
cứu Chúa!
Vừa ngồi
vào xe,
ông
Thiệu
hỏi ‘có
mấy cây
súng?’
Đại tá
Điền đáp:
‘có hai
cây, một
cây dài,
một cây
ngắn.’"
Theo như
vậy th́
vào lúc
đó tổng
thống
Thiệu đă
nhận
thấy ông
bị nguy
hiểm
trên
đường
tới Bộ
Tổng
Tham Mưu
(ta
nhớ lại
là Tổng
thống
Diệm đă
bị sát
hại trên
đường
tới Bộ
TTM).
Việc ông
Điền
ngồi vào
chỗ
chính
thức của
Tổng
thống
th́ cũng
trùng
hợp với
câu
chuyện
ông
Thiệu kể
cho
chúng
tôi là
khi đi
xe tới
dự nghi
lễ bên
Quốc Hội
hay nơi
khác,
ông
thường
ngồi
ngay bên
cạnh tài
xế lái
xe chứ
không
ngồi chỗ
dành cho
tổng
thống ở
băng sau.
Khi đoàn
xe tới
phi
trường
Tân Sơn
Nhất,
Thiếu tá
Phận kể
lại là
đă
"giật
ḿnh khi
nhận ra
cả khu
vực phi
trường
tối om.
Dường
như hệ
thống
điện
hoàn
toàn bị
cắt…Đoàn
xe chạy
ṿng qua
khu dành
riêng
cho hăng
Air
America
của cơ
quan
t́nh báo
Mỹ. Khi
sắp tới
đường
băng,
tất cả
xe đều
tắt đèn,
di
chuyển
trong
bóng đêm.
Sau đó
một
chiếc
máy bay
lù lù
hiện ra
dưới
chân
trời nhờ
đèn
trong
buồng
máy cháy
sáng,
một loại
máy bay
giống
như DC6.
Khi tới
gần
chiếc
máy bay,
đoàn xe
bất thần
thắng
gấp v́
thấy có
bóng
người…xe
Tổng
thống
Thiệu bị
bao vây
bởi ba
chiếc xe
Chevrolet
to lớn.
Xa xa
trong
bóng đêm,
xung
quanh
chúng
tôi xuất
hiện có
nhiều
người Mỹ
vạm vỡ,
vận
thường
phục,
súng M16
dựng
đứng bên
hông,
trong
thế tác
chiến.
Rồi h́nh
ảnh ông
Đại sứ
Graham
Martin
hiện ra
tại chân
cầu
thang
máy bay
như một
vị thần
hộ mạng."
Chuyện
này làm
cho
chúng
tôi mới
hiểu
được là
tại sao
khi nói
về
chuyến
ra đi
của Tổng
thống
Thiệu,
Đại sứ
Martin
cứ nói
úp úp mở
mở là "Ông
Thiệu đă
ra đi
trong
điều
kiện hết
sức khó
khăn,"
và "chúng
tôi đă
để ư và
cố gắng
sắp xếp
mọi chi
tiết.."
Th́ ra,
mọi chi
tiết
được sắp
xếp gồm
cả việc
cắt điện
để phi
trường
tối om
và việc
đoàn xe
phải di
chuyển
trong
bóng đêm.
Khi máy
bay đáp
xuống
th́ đă
có sẵn
một toán
lính Mỹ
canh gác
để đề
pḥng
những
biến
động có
thể xẩy
ra vào
phút
chót,
thí dụ
như việc
ngăn
chận
không
cho máy
bay cất
cánh. V́
sao như
vậy? V́
việc này
đă xẩy
ra trước
đó mấy
ngày.
Vào lúc
10 giờ
đêm ngày
Chủ nhật
20 tháng
4 có sự
cố ở Tân
Sơn Nhất:
một nhóm
binh sĩ
với vơ
trang
nặng bao
vây,
định
ngăn
chận
chiếc
C-141
của Mỹ
chở
người di
tản
không
được cất
cánh
(xem
Chương
7).
Thiếu tá
Phận
cũng kể
lại là "Trung
tá
Nguyễn
Phú Hiệp,
phi công
chiếc
máy bay
Air Viet
Nam 727
đă có
lệnh ứng
trực,
chuẩn bị
sẵn sàng,
chỉ dành
riêng
cho Tổng
thống
Thiệu sử
dụng…và
cũng vào
thời
gian này
th́ một
vài đơn
vị
trưởng
các đơn
vị pḥng
thủ thủ
đô, và
các đơn
vị đóng
quân gần
khu vực
phi
trường
Tân Sơn
Nhất lại
được
nghe dư
luận rỉ
tai là 'ông
Thiệu sẽ
dùng Air
Viet Nam
để ra
khỏi
nước.' ”
Việc ông
Thiệu
dùng
chiếc
máy bay
của Hàng
Không
Việt Nam
dành cho
VIP để
đi công
tác là
điều dĩ
nhiên v́
ông đă
được chỉ
định
theo như
sắc lệnh
của Tổng
thống
Hương: "Nay
đề cử
cựu Tổng
thống
Nguyễn
Văn
Thiệu và
cựu Thủ
tướng
Trần
Thiện
Khiêm
đại diện
Tổng
thống
VNCH đến
Đài Bắc
để phân
ưu cùng
chánh
phủ và
nhân dân
trung
Hoa Dân
Quốc
nhân dịp
Tổng
thống
Tưởng
Giới
Thạch tạ
thế.”
Sau đó
hai ông
c̣n được
phép đi
thăm các
quốc gia
khác để
vận động
cho ḥa
b́nh
Việt Nam
trong
ṿng 6
tháng.[6]
Nguyên
tắc th́
như vậy,
nhưng
trong
thực tế
đă rơ
ràng là
lệnh cho
phi công
Hiệp ứng
trực
chiếc
máy bay
Air Viet
Nam 727
và tin
đồn về
‘ông
Thiệu sẽ
dùng Air
Viet Nam
ra khỏi
nước’ là
những
sắp xếp
để đánh
lạc
hướng
những kẻ
sát nhân
v́ khi
đó ông
Martin
đă nhận
được
nhiều
thông
tin t́nh
báo về
âm mưu
sát hại
ông
Thiệu ở
ngoài
khơi.
Theo kế
hoạch
này th́
chiếc
máy bay
Air
Vietnam
mà ông
Thiệu
định
dùng để
ra đi sẽ
bị bắn
rơi khi
ra khỏi
không
phận
Việt Nam
. Bởi
vậy,
trong
ṿng bí
mật, ông
Martin
đă gọi
ngay
chiếc
máy bay
riêng
của ḿnh
từ Thái
Lan sang
Tân Sơn
Nhất để
bốc ông
Thiệu.
Để bảo
mật tối
đa th́
dù có
dùng
điện
thoại
đặc biệt
an toàn
của ṭa
đại sứ
để báo
cáo về
Ṭa Bạch
Ốc, ông
Martin
cũng vẫn
không
tiết lộ
chi tiết
mà chỉ
nói mập
mờ. Tuy
nhiên,
lúc tới
sát nút
rồi th́
ông phải
nói cho
rơ.
Mời độc
giả theo
rơi vài
đoạn
trong
thông
điệp
ngày 25
tháng 4
(in
kèm theo
chương
này)
của đại
sứ
Graham
Martin
gửi về
Washington
. Độc
giả lưu
ư là ông
đă không
gửi mật
điện này
cho
Ngoại
trưởng
Kissinger
ở Bộ
Ngoại
Giao mà
lại gửi
cho Cố
Vấn An
Ninh
Tổng
thống ở
Ṭa Bạch
Ốc: Ṭa
Bạch Ốc:
Số
250420 –
Chỉ ḿnh
ông xem
và qua
đường
giây
Martin
Sàig̣n
số 0736
– FLASH
(Cấp tốc)
Chuyển
Ngay
Ngày 25
tháng 4,
1975
Gửi tới:
Tướng
Brent
Scowcroft
(Cố
Vấn An
Ninh
Tổng
Thống
Ford)
“Thông
điệp này
xác nhận
câu
chuyện
tôi nói
ṿng vèo
qua điện
thoại
vừa mới
đây. Lúc
muộn
chiều
hôm qua,
Tổng
thống
Hương
nói với
tôi là
ông ta
lo ngại
cho sự
an toàn
của cựu
Tổng
Thống
Thiệu.
Nói
chung,
dường
như ông
ta cũng
đă biết
về một
thông
tin mà
chúng
tôi đă
nhận
được
nhiều
lần,
đó là có
một số
phần tử
của
Không
Quân
việt Nam
là những
người có
ư kiến
hết sức
chống
đối
Thiệu và
Khiêm,
đă nói
rằng hai
ông này
sẽ
không
rời khỏi
Việt Nam
mà c̣n
sống
nguyên
vẹn
(gạch
dưới là
do tác
giả).
Chúng
tôi biết
rằng
những
phần tử
này đang
để ư
chiếc
máy bay
thường
dùng để
chuyên
chở các
nhân vật
cao cấp
VIP của
chính
phủ đi
ngoại
quốc...
“Tôi đă
xếp đặt
với
Tướng
Hunt ở
NKP (Nakhom
Phanom,
Thái Lan)
để ông
ta gửi
một
chiếc
C-118
tới
Sàig̣n
sẵn sàng
chiều
nay.
Chúng
tôi cũng
sẽ sắp
xếp hết
sức kín
đáo để
đưa hai
ông
Thiệu và
Khiêm
lên máy
bay và
cất cánh
thật
nhanh.
Chúng
tôi đă
suy nghĩ
về việc
này và
chúng
tôi chắc
chắn
rằng sẽ
có thể
làm hết
sức
nhanh để
nếu có
sự can
thiệp
nào th́
chiếc
máy bay
đó cũng
đă (cao
bay xa
chạy) ra
quá tầm
có thể
truy
kích
được rồi....
"Bởi vậy,
trừ phi
có chỉ
thị
ngược
lại và
ngay tức
khắc từ
chính
ông, tôi
sẽ tiến
hành
theo như
tŕnh
bày trên
đây. Ông
không
cần phải
có hành
động nào
vào lúc
này, trừ
khi có
người
đặt vấn
đề (tại
sao lại)
dùng máy
bay quân
sự, một
điều tôi
nghĩ khó
có thể
xẩy ra.…
Trân
trọng
Martin
Về việc
này
chúng
tôi có
hỏi Đại
tá
Nguyễn
Quốc
Hưng
(hiện
ở Salem,
Oregon),
Chỉ huy
trưởng
Hành
quân
Không
quân th́
ông xác
nhận là
có, và
cho biết
là có
một nhóm
trong
Không
Quân đă
thực sự
có âm
mưu này
và đă
theo sát
chiếc
máy bay
Boeing
727 là
chiếc
lănh đạo
cao cấp
thường
dùng
trong
những
chuyến
đi xuất
ngoại.
Sau cùng
th́ họ
giao cho
một sĩ
quan ở
Cần Thơ
thuộc Sư
Đoàn 4
Không
Quân lo
việc này.
Ở phi
trường
Cần Thơ
có loại
máy bay
khu trục
A-37 và
cả phản
lực F5
nữa. Kế
hoạch là
tại Tân
Sơn Nhất
có những
người
được chỉ
định
theo rơi
thật sát
các
chuyến
bay, đặc
biệt là
chiếc
Air
Vietnam
Boeing
727. Khi
nào thấy
hai ông
Thiệu và
Khiêm
lên máy
bay th́
sẽ báo
cho Cần
thơ ngay
để phản
lực cất
cánh bay
thẳng ra
khơi, và
sẽ bắn
rơi
chiếc
máy bay
chở ông
Thiệu và
ông
Khiêm, ở
khoảng
100 cây
số cách
bờ biển.
Nếu như
vậy th́
cũng
chẳng có
tang
tích,
chẳng có
chứng cớ
ǵ về vụ
sát hại.
Trừ một
số người
rất nhỏ
trực
tiếp
dính lứu
th́
không ai
biết tin
tức ǵ
về việc
này. Lúc
ấy là
đêm 25
rạng
ngày 26
tháng 4
rồi, khi
dầu sôi
lửa bỏng
đă lên
tới
tuyệt
đỉnh,
mọi
người
chỉ c̣n
có thể
lo cho
chính
bản thân
ḿnh,
cho nên
cũng
chẳng ai
để ư tới
chuyện
ǵ xảy
ra cho
ông
Thiệu.
Đại tá
Hưng cho
biết lúc
ấy ở
ngoài
khơi
cũng có
những
máy bay
luôn
luôn
thay
nhau
theo rơi.
Chúng
tôi hỏi
ông xem
nhóm
người
nào ra
lệnh cho
phi công
ở Cần
Thơ? Ông
trả lời
là do
một phe
nhỏ
chống
ông
Thiệu ở
ngay Bộ
Tư Lệnh
Không
Quân.
Đại tá
Hưng
thêm
rằng: về
vấn đề
đảo
chính
nói
chung
th́
chính
hai
Tướng
Nguyễn
Cao Kỳ
và
Nguyễn
Ngọc
Loan đều
đă không
đồng ư
và
khuyên
không
được làm
như vậy.
Sau cùng
th́ hai
ông
Thiệu,
Khiêm
lại
không đi
chuyến
Boeing
727 mà
đi chiếc
C-118
của Đại
sứ
Martin.
Đại tá
Hưng kể
là vài
ngày hôm
ấy cứ
thấy Đại
sứ
Martin
ra ra
vào vào
phi
trường
Tân Sơn
Nhất.
Tối muộn
cùng
ngày 25
tháng 4,
1975,
ông
Martin
báo cáo
về Ṭa
Bạch Ốc:
Số
251510Z
– Chỉ
ḿnh ông
xem và
qua
đường
giây
Martin
Sàig̣n –
C738 –
Cấp tốc
Chuyển
ngay
Ngày 25
tháng 4,
1975
Gửi tới:
Tướng
Brent
Scowcroft
Người
gửi: Đại
sứ
Graham
Martin
Tham
chiếu:
Sàig̣n
0736
1.
Vào lúc
9 giờ 20
phút
chiều
nay, một
chiếc
C-118,
có đuôi
số 231
đă cất
cánh từ
Tân Sơn
Nhất
cùng với
cựu Tổng
thống
Thiệu và
cựu Thủ
tướng
Khiêm.
Họ đă
bay sang
Đài Loan
nơi mà
anh ông
Thiệu
làm đại
sứ VNCH.
Công
việc sắp
xếp rất
xuôi xẻ.
Tôi đă
tháp
tùng họ
lên máy
bay và
tôi cho
rằng sự
vắng mặt
của họ ở
đây sẽ
giảm bớt
được sự
xôn xao
có thể
xẩy ra.
2.
Chúng
tôi sẽ
không
b́nh
luận ǵ
về việc
này ở
đây. Phi
hành
đoàn từ
NKP (Nakhon
Phanom,
Thái Lan)
bay
chiếc
C-118
của tôi
tới
Davis-Montohn
và tới
nơi
nghĩa
trang.
Tôi nghĩ
rằng hai
ông cũng
sẽ không
tuyên bố
ǵ cả
trừ phi
và cho
tới khi
chuyện
này lộ
ra ở Đài
Loan.
Trân
trọng,
Martin
Khi
chiếc
máy bay
có đuôi
số 231
sửa soạn
cất cánh,
Đại sứ
Martin
đă có
mặt tận
cửa máy
bay để
tiễn ông
Thiệu.
Dù buồn
thảm và
cam chịu
số phận,
ông
Thiệu
vẫn đi
thủng
thẳng,
cố giữ
phong độ.
Ông quay
lại cám
ơn ông
Martin
đă dàn
xếp
chuyến
đi. Với
một
giọng
xúc động,
ông
Martin
đáp lại:
“Thưa
tổng
thống,
đó là
điều tối
thiểu
tôi có
thể làm.
Xin tạm
biệt và
chúc
ngài may
mắn.”
Nh́n lại
lịch sử
th́ thấy
ông
Thiệu đă
thật may
mắn.
Không
những
chính
ông, ông
Khiêm
nhưng cả
chuyến
Air
Vietnam
727 cũng
đă may
mắn. Nếu
như
không có
sự can
thiệp
của ông
Martin
th́ cả
những
người
khác
cũng đă
cùng
chịu
chung
một số
phận. Đó
là phi
công
Hiệp,
các nhân
viên
khác
trong
phi hành
đoàn, và
12 người
trong
phái
đoàn của
cựu tổng
thống và
thủ
tướng,
họ đều
đă bị
chôn vùi
dưới đáy
biển
cùng với
chiếc
Boeing
727.
Trong số
này có
Đại tá
Cầm,
Chánh
Văn
Pḥng và
là người
chúng
tôi làm
việc gần
gũi, Đại
tá Đức,
người đă
ôm hồ sơ
mật Dinh
Độc Lập
đưa đến
tư gia
trao
chúng
tôi vào
đêm ngày
22 tháng
3. Rồi
cả Thiếu
tá Phận,
người
vừa kể
lại câu
chuyện
về những
ngày
cuối của
TT Thiệu
ở Sàig̣n.
Những
người
khác gồm
mấy sĩ
quan gần
gũi Tổng
thống
Thiệu
(Đại
tá Điền,
Thiệt;
Trung tá
Chiêu,
Bác sĩ
Minh,
Đại úy
Hải, và
binh sĩ
Nghị);
và phái
đoàn của
Thủ
tướng
Khiêm
(Trung
tá Châu,
Thiếu tá
Thông,
và ông
Đăng Vũ).
***
Có lần
ông
Thiệu
hỏi tôi
là người
Mỹ nghĩ
thế nào
về ông,
tôi nói
về một
hai khía
cạnh:
khen có,
chê có,
rồi thêm
là “tôi
nghe có
người
nói là
tổng
thống
nhu
nhược.”
Ông
Thiệu
hỏi tại
sao? Tôi
trả lời
là họ
nói
‘Tổng
thống
không
cương
quyết đủ
để ra
lệnh tử
h́nh khi
cần
thiết để
làm
gương.’
Ông yên
lặng
nh́n tôi
giây lát
rồi chậm
răi nói:
“Suốt
đời, tôi
đă tránh
không có
cái nợ
máu.”
Xét ra
th́
trong
gần 10
năm ông
lănh đạo,
thực sự
đă không
có tội
nhân nào
phải ra
pháp
trường.
Nếu ta
tin rằng
mọi việc
trên cơi
đời này
đều do
Trời an
bài xếp
đặt, th́
Trời
cũng đă
phù giúp
cho ông
Thiệu,
v́ lúc
‘mạt vận’
là lúc
vô cùng
nguy
hiểm.
Vĩnh
biệt ông
tổng
thống.
|