"Người Mỹ đă phản bội chúng tôi" -
Der Spiegel phỏng vấn cựu TT. Nguyễn Văn Thiệu
(tiếp
theo)
Vô Thường, X-cafe lược dịch
Nền ḥa b́nh giả tạo

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Tổng thống Nixon tại
cuộc họp Midway
Spiegel:
Kissinger viết ngay sau cuộc tiến công mùa xuân của Bắc Việt năm
1972, vài tṛ có vẻ như đă bị đảo ngược. Bắc Việt bất ngờ muốn nối
lại đàm phán trong khi Nam Việt Nam lại muốn chiến đấu đến khi giành
thắng lợi cuối cùng.
Ông Thiệu: Hoàn toàn vô lư! Tiến sĩ Kissinger hiểu thế nào là
chiến thắng? Bắc Việt đă gây ra chiến tranh tại Nam Việt Nam. Chúng
tôi muốn họ rút quân. Đó gọi là chiến thắng sao? Tôi không bao giờ
yêu cầu người của Bắc Việt được xem là tù binh chiến tranh tại Nam
Việt Nam. Tôi không bao giờ đ̣i hỏi Bắc Việt trả bồi thường chiến
tranh. Tôi không bao giờ đ̣i hỏi Bắc Việt nhượng bộ lănh thổ. Tôi
không bao giờ yêu cầu có ghế trong chính phủ tại Hà Nội. Vậy
Kissinger hiểu chiến thằng và chiến thằng toàn diện là ǵ?
Spiegel: Về vấn đề rút quân của Bắc Việt, theo Kissinger
ngày 31 tháng 5 năm 1971 là một ngày quan trọng. Đó là thời điểm
trong các cuộc đàm phán bí mật, Hoa Kỳ đă từ bỏ yêu cầu hai bên cùng
rút quân. Tiến sĩ Kissinger nói ít nhất ba lần trong cuốn sách rằng
ông đă được thông báo trước và ông đă đồng ư.
Ông Thiệu: Tôi không bao giờ đồng ư việc đơn phương rút quân.
Sau cuộc họp Midway, tôi luôn luôn yêu cầu rút quân từng phần và cả
hai bên cùng rút quân. Mỹ đă thay đổi lập trường và sử dụng chiến
thuật thông thường nhằm ép buộc chúng tôi để chiếm lấy và đặt thanh
gươm Damocles lên đầu chúng tôi, trích dần dư luận Mỹ với những nhận
xét như: “ Bây giờ ông đang có một h́nh ảnh rất xấu tại Mỹ!” hoặc
“Quốc hội sẽ cắt giảm viện trợ.”…Họ sử dụng lại chiến thuật cũ, tiết
lộ cho báo chí và đặt chúng tôi vào việc đă rồi.
Nếu tôi từ chối dư luận sẽ quay sang chống đối tôi: “Ông ta đ̣i hỏi
quá nhiều, ông ta sẽ không bao giờ để Mỹ rút quân, ông ta sẽ không
bao giờ để tù binh Mỹ trở về nhà”. V́ vậy tôi phải nhượng bộ. Không
tự nguyện nhưng miễn cưỡng. Làm sao tôi có thể phản đối khi họ sẽ
nói ngay rằng: “viện trợ sẽ bị cắt nếu ông không tuân theo”.
Spiegel: Kissinger nói ông luôn được tham vấn trước về tất
cả mọi quyết định của Hoa Kỳ, dưới bất kỳ h́nh thức nào.
Ông Thiệu: Đúng, họ có bàn bạc với tôi, nhưng tất nhiên họ
không muốn nghe tôi nói “không” đối các quyết định phục vụ cho lợi
ích của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, trong hầu hết trường hợp áp lực đem lại
cho họ hầu hết những ǵ họ muốn.
Spiegel: Kissinger giờ đây chỉ trích một cách cay đắng về
cuộc tiến công Lào năm 1971. Ông ấy nói ông cho rằng cuộc tiến công
mùa khô là rất cấp thiết. Vậy ư tưởng ban đầu là của ai?
Ông Thiệu: Đó là ư tưởng của họ. Trước đó rất lâu chúng tôi
đă từng muốn tiến hành cuộc tấn công, nhưng chúng tôi không thể thực
hiện một ḿnh. Bây giờ Hoa Kỳ đề xuất nên chúng tôi vui vẻ đồng ư để
chấm dứt cuộc chiến nhanh hơn. Đó là một chiến dịch liên quân
Việt-Mỹ với các nhiệm vụ qui định rất rơ ràng: quân đội Nam Việt Nam
có nhiệm vụ tiến hành chiến dịch tại Lào và lính Mỹ sẽ hỗ trợ tiếp
tế bên ngoài Việt Nam, từ biên giới đến nơi giao chiến.
Spiegel:Tại sao? V́ quốc hội Mỹ rơ ràng đă cấm đoán quân
Mỹ xâm nhập lănh thổ Lào?
Ông Thiệu: Tôi tin là vậy. Nhưng cũng bởi v́ chúng tôi không
có phương tiện tiếp tế cho binh lính và quan trọng nhất là chuyên
chở thương binh ra ngoài. Điều đó chỉ có thể tiến hành bằng trực
thăng và Hoa Kỳ là bên duy nhất có đầy đủ trực thăng. Không có máy
bay lên thẳng, chúng tôi không bao giờ đồng ư tiến hành chiến dịch
tại Lào.
Spiegel: Kissinger nói binh lính của ông gặp vấn đề khi
đưa ra yêu cầu không quân hỗ trợ v́ các đơn vị Việt Nam gần như
không có những chuyên viên kiểm soát mặt đất được huấn luyện có thể
nói được tiếng Anh.
Ông Thiệu: Hoàn toàn không có vấn đề ǵ đối với việc hỗ trợ
của không quân. Chúng tôi không hề lo lắng nếu thỉnh thoảng không có
không quân hỗ trợ, chúng tôi đă có pháo binh. Vấn đề là người Mỹ đă
mất nhiều phi công trực thăng trong ba ngày đầu tiên của chiến dịch.
V́ thế họ không sẳng sàng cất cánh theo lịch tŕnh và với số lượng
cần thiết. Điều đó đă trở thành một vấn đề lớn đối với quân đội Nam
Việt Nam.
Spiegel: Có phải tinh thần binh lính đă suy sụp?
Ông Thiệu: Chúng tôi không thể chuyên chở binh lính tử trận
và thương binh ra ngoài. Điều đó không chỉ ảnh hưởng đến tinh thần
mà c̣n cả đến việc tiến hành chiến dịch.
Spiegel: Kissinger đưa ra một lư do khác giải thích tại
sao chiến dịch thất bại. Ông ta nói ông đă ra lệnh cho binh sĩ của
ḿnh phải thận trọng khi di chuyển về phía tây và ra lệnh chấm dứt
chiến dịch toàn bộ ngay khi chịu tổn thất 3.000 binh lính. Kissinger
cho rằng người Mỹ sẽ không bao giờ chấp thuận kế hoạch có hạn chế
này và đă được thông báo đến cho họ.
Ông Thiệu: Đối với một quân nhân, ư tưởng đặt ra một giới hạn
về số thương vong trước là rất vô lư. Tiến sĩ Kissinger phải là một
người rất giàu trí tưởng tượng khi nói như thế. Chúng tôi chỉ có thể
di chuyển về phía tây xa đến mức mà trực thăng di tản có thể bay đến.
Kissinger nói chúng tôi rút quân mà không hề thông báo cho phía Mỹ.
Làm sao chúng tôi có thể triệt thoái hơn 10.000 quân mà không hề
thông báo cho người Mỹ?
Spiegel: Vậy là ông đă thông báo cho họ biết?
Ông Thiệu: Ồ tất nhiên. Và hăy để tôi kể cho anh nghe một câu
chuyện. Khi đó tờ Time hay Newsweek ǵ đó đă đăng tải bức h́nh một
binh sĩ Nam Việt Nam đang cố bám vào bộ phận hạ cánh của một chiếc
trực thăng với chú thích “kẻ hèn nhát”. Tôi chỉ cười. Tôi thấy điều
đó thật kinh khủng. Không thể nào ngăn cản một binh sĩ bị bỏ rơi
khỏi những hành động như thế. Nhưng tờ báo đă nhục mạ binh lính Nam
Việt Nam như là những kẻ hèn nhát và cùng lúc đó hoàn toàn che dấu
một sự thật là phi công trực thăng Hoa Kỳ không có tinh thần chiến
đấu trong chiến dịch này.
Spiegel: Một điểm cốt lỏi trong sự tranh căi giữa Nam Việt
Nam và Hoa Kỳ là vấn đề ngừng bắn. Theo Kissinger, Chính phủ Mỹ đă
quyết định đề xuất một cuộc ngưng bắn trên chiến tuyến hiện hữu ngay
đầu mùa hè năm 1970. Kissinger nói ông không những đồng ư mà c̣n
chấp thuận đề xuất đó.
Ông Thiệu: Đúng vậy. Tôi cũng cho rằng ngưng bắn là một bước
đầu tiên rất quan trọng để hoàn thành những nghĩa vụ của một thoả
thuận hoà b́nh. Nhưng về vấn đề là ngay lặp tức-tôi nhắc lại một
cuộc ngưng bắn ngay lặp tức th́ tôi không bao giờ đồng ư với
Kissinger. Tôi nói chúng ta phải xem xét điều đó một cách cẩn trọng.
Không thể tuyên bố ngưng bắn cho đến khi đă có những suy xét cẩn
thận về việc ai sẽ là người giám sát cuộc ngưng bắn và điều ǵ sẽ
xảy ra trong trường hợp có vi phạm, binh lính sẽ đóng ở đâu…
Spiegel: Kissinger viết: “Chúng tôi vẫn nghĩ rằng chúng
tôi đang cùng làm việc với Thiệu”. Người Mỹ không hiểu rằng ông đang
áp dụng “chiến thuật lăng tránh của người Việt Nam đối với người
nước ngoài”.
Ông Thiệu: Điều đó không bao giờ xảy ra với một nước nhỏ như
chúng tôi, một nước nợ gần như tất cả mọi thứ của đồng minh lớn và
vẫn đang yêu cầu cấp viện lâu dài, lại có thể chơi tṛ bịp bợm.
Spiegel: Nhưng ông phải nghĩ rằng cuộc chiến cuối cùng
cũng thất bại khi Mỹ rút quân và Bắc Việt được phép duy tŕ quân đội
tại Nam Việt Nam?
Ông Thiệu: Không hẳn như vậy, nếu chúng tôi tiếp tục nhận
được viện trợ từ Hoa Kỳ và Chính phủ Hoa Kỳ giữ lời hứa khi chúng
tôi kư vào bản hiệp định. Thậm chí khi kư kết hiệp định, tôi vẫn
nghĩ đó chỉ là một drôle de paix-một nền ḥa b́nh giả mạo.
Nhưng chúng tôi vẫn tin chúng tôi có thể chống cự lại bất kỳ sự xâm
lăng nào của Bắc Việt nếu họ vi phạm các điều khoản của dàn xếp ḥa
b́nh. Chúng tôi có hai lư do để tin tưởng: thứ nhất, chúng tôi có
một bảo đảm bằng văn bản từ Tổng thống Nixon rằng Mỹ sẽ đáp trả bằng
tất cả lực lượng nếu thoả thuận bị vi phạm.
Spiegel: Mặc dù ông ta không bao giờ nói là đáp trả như thế
nào.
Ông Thiệu: Thứ hai, chúng tôi được nhận đầy đủ viện trợ kinh
tế và quân sự đến khi nào chúng tôi cần để chống lại sự xâm lăng của
Bắc Việt. Liệu Chính phủ Mỹ có giữ đúng lời hứa đó? Cuộc chiến có
thể tiếp tục nhưng Bắc Việt sẽ không thể lật đổ Nam Việt Nam.
Spiegel: Ông và Kissinger ít nhiều đồng ư về điểm này. Ông
ta viết, toàn bộ chiến lược có thể thành công nếu Hoa Kỳ ở vào vị
thế có thể hành động với tất cả những vi phạm giàn xếp hoà b́nh của
Bắc Việt và tiếp tục cầp viện đầy đủ cho Nam Việt Nam. Cái ǵ đă sai?
Kissinger đổ lỗi cho vụ Watergate và sự xói ṃn của chính quyền hành
pháp. Ông có thật sự nghĩ vụ Watergate phải chịu trách nhiệm cho sự
thất bại?
Ông Thiệu: Xin lỗi nhưng tôi không phải là một người Mỹ. Tôi
không có trách nhiệm phải dọn dẹp trước hàng rào của họ. Nhưng nếu
họ giữ lời hứa, đó sẽ là một cản trở tốt nhất đối với những sự xâm
lăng thêm của Bắc Việt và có thể kết thúc chiến tranh.
Spiegel: Nếu Mỹ giữ lời hứa, ông có nghĩ bản hiệp định có
thể dẫn đến một kết quả thành công toàn diện?
Ông Thiệu: Tôi tin có thể sẽ là như vậy.
Spiegel: Vậy về tổng thể, Hiệp định Paris không phải quá
tệ?
Ông Thiệu: Đó chắc chắn không phải là một thỏa thuận tốt đẹp
đối với chúng tôi. Đó là một thảo thuận giả tạo. Nhưng đó là phương
kế cuối cùng. Anh phải hiểu là chúng tôi chỉ kư kết, như tôi đă nói,
bởi v́ chúng tôi có đảm bảo từ phía Chính phủ Hoa Kỳ và Hiệp định
được bảo đảm bởi 12 quốc gia và Liên Hiệp Quốc.
Spiegel: Kissinger đưa ra b́nh luận một cách chua cay
trong cuốn sách của ḿnh về nhiều chính trị gia lớn. Nhưng ông ta có
vẻ giành nhiều sự miệt thị đối với ông. Mặc dù ông ta ngưỡng mộ sự
“thông minh”, “ḷng dũng cảm” và “nền tảng văn hoá” của ông. Ôn ta
chăm chú đến “sự điều hành tàn bạo”, “xấc láo”, “sự ích kỷ độc ác”
và “ thủ đoạn gần như điên cuồng” của ông khi làm việc với người Mỹ.
Ông nói ǵ về những gán gép này trong hồi kư của Kissinger?
Ông Thiệu: Tốt hơn là tôi không trả lời. Tôi thà không nói ǵ
về ông ta. Ông ấy có thể nghĩ bất cứ điều ǵ ông ta thích về tôi,
tốt hoặc xấu. Tôi thích nói về những ǵ đă thật sự xảy ra giữa Hoa
Kỳ và Nam Việt Nam hơn.
Spiegel: Phải chăng ông đă đem đến cho ông ta một lư do
nào đó để viết về ông theo một cách coi thường như thế này?
Ông Thiệu: Có thể ông ta ngạc nhiên v́ phải làm việc với một
người quá thông minh và tài giỏi. Cũng có thể có vài điều phải làm
với tính phức cảm tự tôn của một người quá tự phụ. Có thể ông ta
không thể tin rằng một người đối thoại Việt Nam lại b́nh đẳng với
một người tự cho rằng ḿnh rất quan trọng.
Để tôi kể anh nghe một chuyện khác, tôi cảm thấy thật buổn cười tại
đảo Midway v́ tôi không thể nào tưởng tượng nỗi những người như thế
lại cực kỳ đê tiện. Trong dịp đó, ông Nixon, ông Kissinger, phụ tá
của tôi và tôi họp tại nhà của một sỹ quan hải quân Mỹ. Có ba cái
ghế thấp và một cái cao hơn. Ông Nixon đă ngồi ở ghế cao hơn.
Spiegel: Giống như phim “Nhà độc tài vĩ đại”của Chaplin?
Trong đó, Hitler đă ngồi ở một cái ghế cao để ông ta có thể nh́n
xuống Mussolini đang ngồi tại nghế thấp hơn.
Ông Thiệu: Nhưng tôi đă t́m một cái ghế khác cao ngang bằng
cho tôi trong giờ nghĩ đễ cùng cấp với Nixon. Sau cuộc họp Midway,
tôi nghe từ vài người bạn Mỹ của tôi rằng Kissinger không bao giờ
trông đợi Tổng thống Thiệu trở thành một người như ông ta.
Spiegel: Kinssinger phàn nàn trong cuốn sách của ḿnh rằng
ông đă đối đăi với ông ta thật tệ hại trong cách cư xử cá nhân của
ḿnh, rằng ông đă bỏ cuộc hẹn lướt ván, Nixon thậm chí c̣n nói thêm,
theo Kissinger, ông ta nói ông là “một thằng chó đẻ”và nói: “tính
tàn bạo là tầm thường, anh sẽ không bao giờ được nh́n thấy, nếu…không
đi cùng”.
Ông Thiệu: Xin lỗi nhưng tôi không có ǵ để nói về điều đó.
Tôi được giáo dục đầy đủ và tôi từ chối trả lời những lời b́nh phẩm
mất lịch sự và khiếm nhă như vậy.
Nếu tôi không tiếp đăi Tiến sĩ Kissinger và Đại sứ Bunker, đó đơn
giản là v́ chúng tôi chưa đạt đến một điểm để có thể tiếp tục thảo
luận với họ. Họ mất 4 năm vậy tại sao tôi buộc phải trả lời trong
một giờ. Nếu người Mỹ có thể bỏ ra thời gian th́ tại sao tôi lại
không thể? Chúng tôi có thể phù hợp với họ nếu chúng tôi là những
người ba phải, cái ǵ cũng đồng ư. Nhưng tôi không phải là một người
ba phải và người miền nam không phải là một quốc gia của những người
ba phải, Quốc hội chúng tôi không phải là một Quốc hội của những
người ba phải. Tôi phải bàn bạc với họ.
Spiegel: Tiến sĩ Kissinger viết rằng thái độ của ông đối
với ông ta về cơ bản được xác định là “căm thù một cách độc địa”
Ông Thiệu: Không. Tôi chỉ bảo vệ lợi ích của đất nước tôi.
Chắc chắn là có những cuộc tranh luận nảy lửa nhưng thái độ của tôi
luôn luôn kiềm chế bởi động cơ yêu nước.
Spiegel: Kissinger viết ông có vài điều kiện để đạt được
“vị thế gần như là không thể” trong đó ông tự nhận thấy. Ông có nhận
ra dấu hiệu nào của điều kiện đó?
Ông Thiệu: Không. Tất cả những ǵ tôi nhận thấy là áp lực từ
Chính phủ Mỹ.
Spiegel: Kissinger viết ông không bao giờ tham gia vào một
cuộc đàm phán dựa trên khái niệm. Ông ấy nói ông “đấu tranh theo
cách của người Việt Nam: gián tiếp, giản lượt, bằng phương pháp nhằm
làm cạn kiệt hơn là làm sáng tỏ, luôn luôn chăm chọc nhưng không bao
giờ giải quyết vấn đề thực tế”
Ông Thiệu: Hăy đặt anh vào vị trí của tôi. Tôi đồng ư ngay từ
đầu rằng Chính phủ Mỹ nên tham gia đàm phán bí mật với Hà Nội.
Kissinger nói tôi sẽ luôn luôn được thông báo. Đúng, tôi đă được
thông báo. Tôi được nghe những ǵ ông ta chọn để nói với tôi. Nhưng
tôi tin đồng minh của tôi sẽ không bao giờ lừa gạt tôi, dàn xếp thỏa
thuận trên đầu tôi và bí mật bán đất nước tôi.
Nhưng, anh có thể tưởng tượng được không, chỉ bốn ngày trước khi ông
ta ra Bắc Việt vào tháng 10 năm 1972, ông ta đưa tôi bản dự thảo
hiệp định sẽ được kư tắt tại Paris bằng tiếng Anh? Chúng tôi phải
thẩm tra bản thảo bằng tiếng Anh từng điểm một.
Và bản thảo không phải được đưa ra bởi Nam Việt Nam và Hoa Kỳ mà là
bởi Bắc Việt và Hoa Kỳ. Anh có tưởng tượng nỗi điều đó không? Theo
logic thông thường Nam Việt Nam và Hoa Kỳ phải thỏa thuận về những
điều kiện của dàn xếp ḥa b́nh trước và sau đó Kissinger quay lại
với chúng tôi nếu Bắc Việt đưa ra bất kỳ đề xuất trái ngược nào.
Nhưng ông ta đă không làm như thế.
Thay vào đó, ông ta soạn thảo những điều khoản của hiệp định chung
với Bắc Việt và đưa cho tôi xem bằng tiếng Anh. Hiệp định hoà b́nh
sẽ quyết định số phận chúng tôi. Anh có tưởng tượng được tôi cảm
thấy như thế nào khi chúng tôi thậm chí không thể nh́n thấy nguyên
bản bằng chính ngôn ngữ của chúng tôi?
Spiegel: Nhưng cuối cùng ông cũng nhận được bản tiếng Việt?
Ông Thiệu: Chúng tôi khăng khăng đ̣i hỏi, đ̣i hỏi và đ̣i hỏi
và cuối cùng ông ta đồng ư, dù tất nhiên là miễn cưỡng. Và chúng tôi
đă phát hiện ra nhiều cạm bẫy. Tôi hỏi Tiến sĩ Kissinger và Đại sứ
Bunker “Ai đưa ra bản tiếng Việt?” Họ trả lời “một người Mỹ rất giỏi
từ trường Đại học Ngôn ngữ học Quốc tế tại Hoa Kỳ cộng tác với Bắc
Việt”. Nhưng không người Mỹ nào có thể hiểu và viết tiếng Việt tốt
hơn một người Việt Nam. Và không người Mỹ nào có thể làm việc với
Cộng Sản Việt Nam bằng tiếng Việt giỏi hơn chúng tôi. Liệu đó có
phải là cách ứng xử danh dự và ngay thằng của phía đồng minh?
Spiegel: Các giới chức cấp cao tại Mỹ nói đă từng nghĩ
rằng tất cả những ǵ mà Kissinger theo đuổi là một khoảng thời gian
hợp lư giữa việc rút quân Mỹ và sự sụp đổi cuối cùng của Sài G̣n.
Kissinger nói trong cuốn sách của ḿnh là điều đó không đúng. Ông
nghĩ thế nào?
Ông Thiệu: Bất kể người Mỹ nói ǵ, tôi tin rằng mục đích cuối
cùng của Chính phủ Mỹ là một chính phủ liên hiệp tại Nam Việt Nam.
Spiegel: Kissinger đưa ra nhiều bằng chứng cho thấy điều
đó không đúng.
Ông Thiệu: Người Mỹ cố gắng ép buộc chúng tôi đồng ư bản hiệp
định. Nếu chúng tôi đồng ư, họ có thể hănh diện là đă giải quyết mọi
việc bằng một “thoả thuận danh dự”. Họ có thể nói với dân chúng tại
quê nhà rằng: “Chúng tôi đang rút quân, chúng tôi đảm bảo tù binh sẽ
được phóng thích”. Và có thể nói với phần c̣n lại của thế giới rằng:
“Chúng tôi đă mang lại hoà b́nh cho Nam Việt Nam. Bây giờ th́ tuỳ
thuộc vào người dân Nam Việt Nam. Nếu chính phủ liên hiệp có bị Cộng
Sản chi phối th́ đó là vấn đề của họ. Chúng tôi đă đạt được một giải
pháp danh dự.”
Spiegel: Kissinger viết: “Chúng tôi có một nguyên tắc
trong đàm phán đó là người Mỹ không phản bội những người bạn của
ḿnh”.
Ông Thiệu: Thôi được, vậy hăy nh́n vào vị thế hiện nay tại
Nam Việt Nam, Campuchia và tất cả Đông Dương. Khi chúng tôi đàm phán
thỏa thuận ḥa b́nh với những đại diện của Chính phủ Mỹ, chúng tôi
thường có cảm giác họ không chỉ chơi tṛ xỏ lá mà họ c̣n thật sự là
người đáng bị lên án trong hành động.
Spiegel: Ông có bao giờ cảm thấy biết ơn về những ǵ mà
người Mỹ đă giúp đỡ cho đất nước ông? Kissinger nói trong cuốn sách
của ḿnh: “đáng giá cao về những ǵ được giúp đỡ không phải là một
đặc điểm của người Việt Nam”.
Ông Thiệu: [Cười] Về những ǵ mà Kissinger viết trong sách,
tôi nghĩ chỉ có người với một tinh thần bị méo mó mới có thể nghĩ
như vậy, chỉ có thể xảy ra với một người có tính khí không b́nh
thường. Ông ta ám chỉ trong cuốn sách của ḿnh rằng ông ta sợ người
Việt Nam sẽ trả thù những người Mỹ c̣n ở lại sau khi Washington đă
bỏ rơi chúng tôi. Bây giờ và không bao giờ chúng tôi làm điều đó.
Spiegel: Cá nhân ông có cảm thấy biết ơn ǵ không?
Ông Thiệu: Tôi có thể nói một cách thành thật rằng nếu Chính
phủ Mỹ không phản bội chúng tôi và không đâm sau lưng chúng tôi,
người dân Việt Nam sẽ cảm thấy rất biết ơn. Sau khi chúng tôi có một
cuộc bàn luận căng thẳng với Kissinger về từ ngữ của hiệp định ḥa
b́nh, vài thành viên của chính phủ tôi nói rằng sẽ là một ngày may
mắn cho chúng tôi nếu Kissinger làm cho Nam Việt Nam bằng như những
ǵ mà ông ta đă làm cho Bắc Việt. Tôi nói với họ nếu ông ta đàm phán
một nền hoà b́nh đích thực với Bắc Việt, ông ta sẽ có cho riêng ḿnh
một đài kỷ niệm tại Nam Việt Nam giống như tượng của tướng McArthur
tại Nam Hàn. Tiếc thay mọi chuyện đă không diễn ra như vậy.
Về hậu quả của ḥa b́nh, tôi nghĩ tốt nhất là để tự người Mỹ phán
quyết về những ǵ mà Kissinger đă làm cho Nam Việt Nam: những trại
tập trung, nạn đói kém, hành hạ tra tấn, hàng ngàn thuyền nhân mất
tích trên Thái B́nh Dương và nạn diệt chủng c̣n khủng khiếp và được
tiến hành có hệ thống hơn cả nạn diệt chủng tại Campuchia. Kissinger
không có lư do ǵ để tự hào về nền ḥa b́nh mà ông ta đă mang đến.
Đó là mồ chôn của ḥa b́nh.
SPIEGEL: Cảm ơn ông Thiệu đă giành cho
chúng tôi cuộc phỏng vấn này.
Nguồn:
Der Spiegel
|