THÁNG BA NĂM ĐÓI  (7)

*  Xuân Vũ TRẦN Đ̀NH NGỌC

 Trích Viễn Xứ On Line

 18

Điểm chung thứ hai của những gia đ́nh giầu có này lúc ấy là họ tham lam những đồ vật quí giá của người khác và tính hụt trong nạn đói. Ông bà bá Vĩnh là một thí dụ điển h́nh.

       Ông bá Vĩnh ở tổng Kiên Lao, làng Kiên Lao Hạ là một trong những người giầu có thuộc loại nói trên. Khi người hàng huyện, hàng tổng nhao lên v́ đói vào đầu năm 1944 th́ nhà ông vẫn c̣n vài ba trăm thùng thóc. Với số thóc này mà giữ được, gia tộc ông có thể cầm cự vài ba năm không sợ đói, chờ tiếp tế hoặc mùa lúa mới hay một phép lạ nào đó.

            Người làng, người tổng biết ông c̣n nhiều thóc, họ phải t́m cách đổi những cái họ đang có lấy thóc của ông ăn cho đỡ đói. Họ mang văn tự nhà, đất cầm cố cho ông với một giá quá hời, của mười đồng chỉ cầm lấy một. Ông bá, nhất là bà vợ, muốn những mảnh đất, mảnh ruộng, cái nhà, cái ao, ruộng cần, ruộng muống ấy từ lâu v́ ḷng tham không đáy - mười người hầu như cả mười - nên chấp thuận ngay. Người con cả là Chưởng Bạ hàng tổng tên Tước, đă bốn mươi tuổi, can bố mẹ rằng:

            “Con thấy cơ đềm đói này c̣n lâu lắm, chưa biết bao giờ có mùa màng mới hoặc tiếp tế từ trong Nam Bộ ra. Chính gia đ́nh nhà ta cũng phải dè sẻn từng hạt thóc v́ sợ có ngày hết cả th́ chết đói. Giờ này người ta đang túng đói khắp lượt, nếu bố mẹ có dư giả th́ nên phân phát cho họ lấy phước, nếu không làm được như vậy th́ thôi chứ cầm cố ruộng đất, nhà cửa, nồi mâm của người ta với giá rẻ mạt, mang tiếng. Lương tâm ḿnh không cho làm. Vả lại, giữ những văn tự, của cải đó đến lúc hết gạo, có thể lấy nó làm gạo ăn cho sống người được không? Xin bố mẹ nghĩ lại.”

            Ông Bá đáp:

            “Thật ḷng bố cũng không muốn cầm cố của người ta như thế này nhưng vừa phần họ là chỗ đi lại lâu ngày ḿnh nể nang, vừa phần họ nói khan nói vă quá v́ họ không c̣n ǵ để sống. Họ không đưa văn tự cho ḿnh, ḿnh cũng phải cứu giúp họ nữa là.”

            Anh Tước nói:

            “Chẳng thà bố nói bố tặng không cho mỗi gia đ́nh túng quẫn một hay hai thùng thóc và chỉ có bấy nhiêu rồi đóng kho thóc lại, mướn người canh giữ cẩn thận mà duy tŕ sự sống c̣n hơn là bố mẹ cứ nể người này cầm cái văn tự nhà, nể người kia cầm cái văn tự đất, rồi người này cầm được người kia không, sinh ra ghen tị thù hằn. Nhất là mẹ, hễ ai nói ngọt là mẹ cởi hết hầu bao. Con nói ít bố mẹ hiểu nhiều.”

            Ông bà bá Vĩnh nghe Chưởng bạ Tước nói có lí nhưng vẫn c̣n nh́n thấy giá trị những của cải, đồ vật mà từ lâu hai ông bà mơ ước. Bộ tranh khảm xà cừ long li qui phượng của nhà nhiêu Tựu đă truyền ba đời, chỉ có ba gánh thóc mua đứt. Bộ khác thông trúc, cúc mai của cụ Lí Cựu cũng chỉ chừng đó. Đôi câu đối của ông hào Tạng dài hai thước tây, ngang 35cm, thợ Hà nội làm ḱ công, cũng khảm xà cừ, đáng giá cả năm sào tư điền nay chỉ cầm lấy năm gánh thóc. Rồi sập chân qú, tủ gụ, tủ chè chạm trổ cành nho con sóc, tủ đứng cánh cong, độc b́nh làm đời Khang Hy, song b́nh niên hiệu Càn long bên Tàu, mâm thau, nồi đồng, cả xà tích bạc, hoa tai, khuyên vàng trông loá cả mắt có nghĩa hết mọi báu vật từ nông thôn đến thành thị ưa chuộng ước ao cứ thế ùn ùn khiêng đến sân nhà ông bá Vĩnh, ngăn cũng không được. Một cái sân gạch rộng bằng rưỡi cái sân chơi volley-ball nay đồ đạc giường tủ, ghế bàn, đồ quí Giang tây chất đống như núi đến nhà một phú gia địch quốc cũng chưa có, đến của cải  của Tể tướng khi xưa cũng không bằng chứ ai nghĩ đó là sân của một ông bá hộ. Thế mới biết tài sản cộng chung lại của nhiều người thật to lớn. Nó ví như khi người ta cầm giỏ đi xin mỗi người (trong nhà thờ Công giáo chẳng hạn) một tí, lúc đếm lại mới thấy món tiền thật lớn. Tích tiểu thành đại là vậy.

Khi những người túng đói đưa đồ vật đến, ùn ùn đưa đến th́ bắt buộc bà bá phải cho xúc thóc, nếu không họ không về. Có người ngồi suốt sáng đến tối, ăn vạ ở sân bắt buộc bà bá phải cho xúc gánh thóc cho họ gánh đi.

            Chỉ trong 10 ngày, mấy cót thóc lớn trong hai gian nhà chứa thóc của ông bá Vĩnh hao hụt hơn phân nửa. Lúc đó ông bá mới hoảng hồn cho người canh cổng không cho người và đồ vật tấn vào nữa th́ đă muộn. Những người con ông bà bá, cả thảy mười, cùng với chồng với vợ với con của họ, xúc thóc chia tam chia tứ xin được giữ riêng, đề pḥng đói. Anh Chưởng bạ Tước xin dăm chục thùng làm vốn đưa vợ con lên thành phố Nam định. Anh buồn v́ cha mẹ không nghe lời anh và đi biệt đến nỗi lúc ông bà bá mất, anh không biết.

            Cuối năm 1944, ông bá bị bệnh phải bán một ít thóc chữa bệnh, bệnh không khỏi nhưng ông qua đời. Cót thóc cũng vét đến hạt cuối dù lúc đó gia đ́nh chỉ c̣n bà bá, cô con gái út và hai người cháu ở với ông bà từ thuở nhỏ. Bốn người này kiệt quệ nhiều ngày, ra vườn kiếm củ giong, củ chóc, củ chuối ăn đỡ nhưng chẳng c̣n ǵ. Dân ăn trộm ban đêm đi ruồng từ vườn nhà này sang vườn nhà kia như băi hoang v́ chó coi nhà đă chết hoặc bỏ nhà đi hoang kiếm ăn ở ngoài đồng, nơi có những xác chết chôn vội nên huyệt đào nông, xác người - dù đă khô đét lại c̣n da bọc xương - vẫn c̣n là những ǵ tốt cho chuột đồng, chó mèo đói. Gà tuyệt nhiên không c̣n một con v́ lí do dễ hiểu. Sáng, trưa miền quê khi xưa rộn tiếng gà, gà trống gáy ̣ ó o, gà mái cục te cục tác sau khi đẻ, gà con chiếp chiếp theo mẹ kiếm ăn. Nay im lặng một cách đáng sợ. Tiếng lợn ủn ỉn trong chuồng đ̣i ăn là âm thanh của phồn thịnh, sung túc nhưng cả năm nay, lợn cũng như gà, biến trước nhất. Có nhà nuôi lợn thịt, hết cám, phải ngả thịt cho con ăn, vả lại cũng sợ đêm chúng vào bắt trộm. Nếu không ăn thịt,  đem ra chợ bán lấy tiền th́ dùng tiền làm ǵ? Có ai có thóc gạo, ngô khoai bán đâu mà mua. Đành là phải giết lợn cho con ăn nhưng chỉ có thịt lợn không, không có cơm, không có xôi, không có bánh trái ǵ ráo, may ra c̣n vài củ chuối đem hầm xương lên mà húp suông với nhau, hột muối cũng hiếm v́ có ai đi bán muối nữa đâu. Quá ư là cơ cực!

Phút chót, hết mọi thứ, cô con gái út bà bá hái lá lưỡi rắn luộc cho bốn người ăn vào buổi chiều. Bà bá và người cháu trai đêm đó lăn ra chết. Ngày hôm sau th́ chính cô này  và người cháu gái ra đi. Cả bốn người nằm chết trong một ngôi nhà lớn đầy đồ quí giá và văn tự nhà đất, không thiếu thứ ǵ đầy nhóc cái sân và ở mọi nơi nhưng thực phẩm đến một hạt gạo cũng chẳng c̣n. Bốn cái thây ma nằm sóng sượt trong nhà mà không ai biết, v́ c̣n ai đâu mà đi coi ruồng ruồng trong xóm. Cho đến cả hai tuần sau, một người họ hàng từ thành phố Nam Định, do anh Tước nhờ về coi xem cha mẹ anh ra sao mới khám phá ra cả bốn đă chết rữa, xác bị chuột, chó, mèo hoang làm thịt, chỉ c̣n bộ xương, cảnh tượng vô cùng sợ hăi. Chẳng qua v́ tham, v́ cả nể, v́ tính hụt một nước cờ mà mạng vong. Nhiều gia đ́nh khác hoàn cảnh cũng tương tự.

Bạn đọc có thể hỏi, nhiều người chết rữa như thế trong một làng th́ tử khí tanh tưởi nổng nặc, người c̣n sống chịu sao thấu? Đúng, nhưng là với những người c̣n thịt c̣n thà, nhất là với những người to béo,  chứ với những người chết đói đó, chỉ xương đét vào với da, mùi tử khí cũng giảm đi rất nhiều v́ chất để thối rữa nhanh là thịt đă tiêu tán hết từ nhiều ngày trước.  

            Những người sống sót sau trận đói cũng kể lại, nhiều nơi lóc thịt người ra ăn, nhất là thịt những đứa trẻ, được tin là ngon hơn thịt người lớn. Bút Xuân không chứng kiến nhưng tin là có ở vào những thời điểm người sống không c̣n một chút ǵ để ăn phải iều mạng ăn thịt đồng loại, ăn thịt người thân v́ đói quá đến phát điên phát cuồng, mất cả lí trí.

Cũng như vài chục năm trước  đây, khi những chiếc thuyền, tầu đánh cá chở đầy dân vượt biển trốn tránh chế độ CS từ sau 30-4-1975, từ miền Nam ra hải phận để đi Mă Lai, Nam Dương, Singapore v.v...có những chiếc tầu chết máy đă trôi dạt vào đảo san hô, hết thực phẩm, họ cũng phải ăn thịt lẫn nhau trước khi chết. Một chiếc tầu hơn hai trăm người chỉ c̣n sống sót 3 người (một đang ở quận Cam, Cali) được cứu về Hồng Kông kể lại thế.

            Lại có những người kể rằng họ đă ăn những cái bánh bao, bánh chưng trong là nhân thịt người. Bút Xuân không có kinh nghiệm đó trong tháng Ba năm đói nên không biết. Nhưng Bút Xuân suy luận rằng, khi c̣n gạo để làm bánh chưng hay bánh bao đem ra chợ bán, tức lúc đó chưa quá đói kém. Chưa quá đói kém th́ không ai nghĩ đến giết người ăn thịt đâu v́ dù sao, không dễ dàng ǵ giết người ăn thịt, hơn nữa, thịt người chưa ai ăn bao giờ nhưng biết là nó khó ăn, tanh tưởi, gớm gớm dễ ǵ nuốt trôi. Chỉ khi không c̣n một thứ ǵ (nhất là không c̣n gạo làm bánh) người ta mới liều ăn cho qua cơn đói mà thôi! Lời huyên truyền bánh bao, bánh chưng nhân thịt người thật khó tin ngoại trừ trường hợp có kẻ điên giết người làm nhân bánh trong khi không phải là lúc đói kém chết người như tháng Ba năm Ất Dậu 1945.

                       

                                                                        19

 Chết đói chán xong chết no.

 Mùa kế tiếp năm 1945 được mùa. Những người sống sót sau trận đói bây giờ “ăn báo thù”. Người ta kể là họ ăn kinh lắm, ăn không biết no, ăn cho đến khi bội thực ngă lăn ra chết. Ăn đến mặt mày đỏ ké lên, mồ hôi vă ra, cái bụng to như cái trống làng vẫn chưa thôi, vẫn cứ thồn vào cho cố. Và ngă lăn ra chết không cứu được, mắt trợn trừng, sùi bọt mép, chân tay bất động. Tuy chết no không nhiều lắm nhưng cũng kể cả ngàn. Thật đau khổ cho ṇi giống Việt. Bốn ngàn năm Văn hiến mà khốn khổ khốn nạn đến thế ư?

 

                                                KẾT LUẬN

            Nạn đói tháng Ba năm Ất Dậu là một bi kịch vô cùng hăi hùng, đau thương độc nhất do thiếu thực phẩm của dân tộc Việt Nam kể từ thời lập quốc. Những nguyên nhân đă nhắc đi nhắc lại ở trên:

1- Do thực dân Pháp tàn ác, theo lệnh Nhật thu mua lúa gạo thật nhiều, do chỉ tiêu Nhật đưa ra, nhiều hơn cả số lúa nông dân Bắc Việt có thể sản xuất mỗi vụ. 

2- Do quân phiệt Nhật bắt nông dân ta bỏ lúa trồng đay, phục vụ những nhu cầu chiến tranh của chúng.

3-  Do Chính phủ Nam triều mà vua Bảo Đại cầm đầu vô trách nhiệm, bù nh́n, không một lời can thiệp, không nh́n đến dân.

4- Một số Sử gia trong có Sử gia Trần Gia Phụng cho rằng đảng Việt Nam Độc Lập Đồng Minh (Việt Minh) liên đới trách nhiệm v́ tịch thu lúa gạo tiếp tế cho nông dân Bắc Việt. Việt Minh tồn trữ rất nhiều để nuôi bộ đội lúc đó cần tuyển mộ nhiều.

 Con cháu, anh chị em những nạn nhân tháng Ba đói hiện nay vẫn c̣n một số người, họ rơi lệ khi nhắc đến thảm cảnh tháng Ba đói. Cũng từ nạn đói hăi hùng đó, dân tộc Việt Nam càng căm thù thực dân Pháp và đế quốc Nhật nên toàn dân đă đứng lên làm cuộc Tổng Khởi Nghĩa mùa Thu 1945 ngày 19-8, giành lại nền Độc lập, Tự chủ cho nước nhà. Vụ đói chính là một trong những nguyên nhân lớn gây nhân xúc tác mạnh mẽ trong quần chúng để mọi người, nhất là thanh thiếu niên, rường cột của nước nhà, hết ḷng v́ đại nghĩa của dân tộc là chiến đấu để cứu dân tộc thoát khỏi gông cùm đế quốc. Nhưng, như mọi người Việt Nam đều biết, ông Hồ chí Minh và đảng Việt Minh của ông ta, lợi dụng ḷng yêu nước của toàn dân, áp đặt chế độ Cộng sản lên đầu lên cổ dân tộc Việt, gây ra muôn vàn tang tóc điêu linh cho cho đồng bào ta với hai cuộc chiến tranh: 1946-1954; Pháp-Việt Minh và 1954-1975, giữa miền Nam dân chủ tự do có Hoa Kỳ yểm trợ và miền Bắc Cộng sản, dưới quyền chỉ huy của Cộng sản quốc té. 

            Hiện tại thế giới c̣n nhiều nơi chịu nạn đói như phần đầu Bút Xuân đă đề cập mặc dù khoa học tân tiến về nông nghiệp hiện nay cho phép thế giới sản xuất ngũ cốc và các thực phẩm khác thật dồi dào để phục vụ con người.

 Bạn nghĩ sao nếu chúng ta có 1 tỉ 500 triệu pounds khoai lang (1kg = 2.2046lb) hay cả mấy tỉ pounds bắp - sản lượng một năm của Hoa Kỳ vài năm nay - để đem đi chia cho những nạn nhân tháng Ba đói như gia đ́nh ông bà Thung, anh chị Thường và các con, cho gia đ́nh ông bà bá Vĩnh, nghĩa là cho khắp hết mọi người đang đói, đang cần thực phẩm ở Bắc Việt và Bắc Trung Việt lúc đó để họ duy tŕ sự sống cho đến mùa sau? Bút Xuân sẽ bỏ làm, xung phong vào đoàn Cứu đói ngay để đi đến khắp hang cùng ngơ hẻm phát khoai, bắp cho đồng bào như khi xưa đă làm trong đoàn Cứu đói ở Hải pḥng. Chỉ khác ở chỗ mỗi nạn nhân khi xưa Bút Xuân và các bạn chỉ phát cho mỗi người hai nắm cơm bằng quả trứng gà cho một ngày th́ bây giờ được tặng trăm kí-lô khoai và trăm kí-lô bắp cho đợt phát đầu. Chắc chắn với hai tỉ rưỡi pounds khoai, bắp này, dù không có gạo, người người sẽ no đủ, nhà nhà yên vui, lúa giống lại được phát để có thu hoạch mùa sau và hai triệu đồng bào thân mến của chúng ta không phải ra đi tức tưởi và v́ thế cũng không có những trang Chuyện Kí đầy huyết lệ này. Có lẽ Bút Xuân đang nằm mơ giữa ban ngày, bà con à! 

            Từ tháng 4-75 đến nay, trải qua 30 năm, Bút Xuân đă sống ở Hoa Kỳ. Bút Xuân đă được mời dự nhiều tiệc cưới, nhất là ở quận Cam, Cali. Thức ăn ê hề, có những đám tiệc ăn một nửa, đổ vào thùng rác một nửa, kể cả nhiều món ngon, đắt tiền. Quả là quá phí phạm! Tôi tự nghĩ ông trời không công bằng “Kẻ ăn chẳng hết, người lần không ra!”

Little Saigon, CA 20-4- 2005

GS Xuân Vũ TRẦN Đ̀NH NGỌC