Sự Thật Về Tướng Giáp: Đừng Bốc Phét Nữa
Thoạt đầu tôi định chỉ viết một
lời b́nh sau khi đọc “Thời thanh niên sôi nổi”
của chị Đoan Trang trên ĐCV, nhưng e rằng sẽ
không đủ ư, đành viết bài này vậy.
Tôi là một gă Bắc kỳ. Từ lớp vỡ ḷng đến đại
học tôi được học dưới cái gọi là “mái trường
XHCN”. Anh tôi là một bộ đội phục viên. Cháu
ruột là đại tá trung đoàn trưởng trung đoàn bộ
binh đang tại chức. Tôi đi nghĩa vụ quân sự 3
năm, mang quân hàm trung úy, chức đại đội phó,
có tham gia một vài trận đánh ở chiến trường
Campuchia.
Dài ḍng một chút để các bạn hiểu: tôi không
liên hệ ǵ đến Việt Nam Cộng Ḥa. Tôi không hận
thù, không chống cộng. Tôi chỉ muốn được chia
sẻ chút suy nghĩ của ḿnh trước những thậm từ mà
thiên hạ đang sử dụng để tung hô tướng Giáp:
“măi măi là một biểu tượng sống động
của trí tuệ”; “Thiên tài quân sự”; “Đại trí, đại
nhân, đại dũng”; “Vị tướng huyền thoại”; “Nhà
quân sự lỗi lạc nhất của mọi thời đại”; “Một
nhân cách lớn”.
Có thiệt vậy không?
Những Điều Tận Mắt
Khoảng đầu năm 1983, ông Giáp đến
thăm một trường đại học. Khi đó ông đă thôi
chức Bộ trưởng quốc pḥng, đang là Trưởng ban
sinh đẻ có kế hoạch. Tôi thấy ông vẫn mặc quân
phục, mang quân hàm đại tướng. Bọn sinh viên
chúng tôi đang ở tuổi trên dưới 20, rất ngưỡng
mộ ông, kéo đến nghe ông nói chuyện. Không ngờ
những bài phát biểu của ông rất nhạt, chung
chung, vô thưởng vô phạt, với những sáo ngữ ṃn
cũ, giáo điều thường thấy trong các nghị quyết
của chi bộ, chi đoàn như là Đảng ta, nhân dân ta
anh hùng, quân đội ta anh dũng, thực hiện di
chúc thiêng liêng của Bác Hồ, quyết tâm, vượt
mức, lập thành tích, quán triệt, phát huy,…
Không có ǵ sắc sảo, mới lạ. Màng nhĩ của tụi
tôi bấy giờ đă khá quen với những ư tưởng và
ngôn từ của các giáo sư đại học thời Tây c̣n lại,
hoặc những vị cỡ như Bùi Tín nói về thời sự quốc
tế, Trần Quốc Vượng nói về Hà nội học, hay Xuân
Diệu b́nh thơ. V́ thế nghe tướng Giáp nói xong
chúng tôi thất vọng quá. Sau này tôi lại thấy
mỗi khi đi thăm các cơ sở, ông Giáp đều bắt đầu
lời phát biểu kiểu như: Thay mặt đ/c Lê Duẩn uỷ
viên BCT tổng bí thư…, đ/c Trường Chinh ủy viên
BCT chủ tịch hội đồng nhà nước…, đ/c Phạm Văn
Đồng ủy viên BCT, chủ tịch hội đồng chính phủ,
và các đ/c khác trong trung ương… tôi xin gởi
lời thăm đến các đồng chí…
Th́ ra ở đâu ông cũng ăn nói na
ná như nhau.
Ngày 30 – 4 -1995, kỷ niệm 20 năm
ngày giải phóng miền Nam. Năm chẵn, nên tổ chức
rất hoành tráng ở t/p HCM. Truyền h́nh Mỹ chiếu
trực tiếp lễ duyệt binh, có phần phỏng vấn tướng
Giáp và tướng Westmoreland. Ư họ là để cho hai
vị tướng đă từng đối đầu ở chiến trường có dịp
tṛ chuyện với nhau. Sau lời phát biểu khá
khiêm tốn của tướng Westmoreland, đến lượt tướng
Giáp – ông nói đại ư rằng chúng tôi vô cùng tự
hào v́ Việt Nam là một thuộc địa nhỏ bé nhưng đă
đánh thắng được hai đế quốc đầu sỏ là thực dân
Pháp và đế quốc Mỹ.
Một thiên tài quân sự, một chính khách lỗi lạc,
một nhà ngoại giao tài ba, mà lại phát biểu như
vậy sao. Tôi tự hỏi.
Từ Cây Đa Tân Trào đến Cây Đa Nhà
Ḅ
Ngày 22-11-1944, ông Giáp cùng
với 34 chiến sĩ đă qua một cơn chuyển dạ đớn đau,
rồi sinh hạ QĐNDVN duới gốc đa Tân Trào, tỉnh
Tuyên Quang. Đến tháng 5-1948, tức 3 năm rưỡi
sau, ông Giáp được ông Hồ Chí Minh phong cho
chức Đại tướng. Khi ấy ông Giáp mới 37 tuổi.
Riêng điều này th́ “huyền thoại” thiệt. Cả thế
giới đến nay mới xuất hiện hai đại tướng được
phong vượt 17 cấp bậc như thế! Ông Giáp ở Bắc
Việt Nam, và Kim Jong-un ở Bắc Triều Tiên! Từ đó
người ta gọi ông Giáp là “tướng Giáp”. Ông giữ
những chức vụ: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân
ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc pḥng, Tổng tư
lệnh QĐNDVN cho đến năm 1982.
Vào cuối thâp kỷ 60, trước và sau khi ông Hồ
chết, nội bộ ĐCSVN xảy ra “Vụ Án Xét Lại Chống
Đảng” do Lê Duẩn và Lê Đức Thọ phát động. Ông
Giáp trở thành đích ngắm của vụ án, nhưng ông
lại không bị đánh trực tiếp, mà đ̣n hiểm lại
nhằm vào những người đồng chí trung thành của
ông ở chiến dịch Điện Biên Phủ: Thượng tướng Chu
Văn Tấn tư lệnh Quân Khu Việt Bắc, Thiếu tướng
Đặng Kim Giang chỉ huy hệ thống hậu cần, Tướng
Lê Liêm một ủy viên đảng ủy, Trung tướng Trần Độ
chỉ huy đại đoàn 312, mũi tấn công chính vào sở
chỉ huy Pháp, và là người tiếp nhận sự đầu hàng
của tướng de Castries, Đại tá Đỗ Đức Kiên cục
trưởng tác chiến, Đại tá Phạm Quế Dương, ông
Hoàng Minh Chính , và nhiều người khác nữa. Tất
cả bị vu cáo cùng một tội “chống đảng, xét lại,
làm gián điệp cho nước ngoài”. Điều trớ trêu là
tướng Giáp biết rơ là ngụy tạo, nhưng ông không
bao giờ mở miệng, hoặc có một động thái nào để
bảo vệ, hay giúp đỡ những người bạn cũ đang bị
đối xử rất tàn ác.
Đại hội Đảng V – 1982, ông Giáp bị đưa ra khỏi
bộ chính trị, mất chức bộ trưởng bộ quốc pḥng,
và được “phân công” về làm trưởng ban sinh đẻ có
kế hoạch. Thực chất đây là một vụ cách chức,
hay nói trắng ra là ông Lê Đức Thọ đă hạ nhục
ông Giáp một cách không thương tiếc. Ông Giáp
vẫn không có một hành động ǵ dù nhỏ nhất như là
từ chức, xin về hưu để tỏ thái độ, và giữ ǵn
khí tiết của một người làm tướng. Ông tỏ ra như
một đứa con ngoan vâng lời cha mẹ. Dân Bắc kỳ
phải ngán ngẩm mà than rằng:
“Xưa làm bộ trưởng quốc pḥng
Nay làm bộ trưởng đặt ṿng tránh thai”
Hay:
“Bác Hồ nằm ở trong lăng,
Nhiều hôm bác bỗng nghiến răng, giật ḿnh
Rằng giờ chúng nó linh tinh
Tuổi tên của ḿnh chúng ném xuống ao
Ao nào th́ có ra ao
Cái tṛn cái méo, cái nào cũng sâu
Hỏi rằng tướng Giáp đi đâu
Dạ thưa tướng Giáp… lo khâu đặt ṿng.”
Một bài vè khác th́ chẳng c̣n úp
mở ǵ:
“Ngày xưa đại tướng cầm quân
Ngày nay đại tướng cầm quần chị em
Ngày xưa đại tướng công đồn
Ngày nay đại tướng công l… chị em.”
Khi hai ông Duẩn – Thọ về thăm
Bác, tưởng rằng ṿng kim cô trên đầu tướng Giáp
sẽ được gỡ ra. Nhưng không, nó c̣n bị siết chặt
hơn bởi một cặp bài trùng mới: Đỗ Mười – Lê Đức
Anh (được biết đến là MA, viết tắt từ Mười –
Anh). MA đă giáng một đ̣n trực tiếp vào ông
Giáp với một bản cáo trạng gồm 8 tội danh:
1. Ông Giáp từng là con nuôi của
chánh sở mật thám Đông Dương, Louis Marty.
2. Ông Giáp cầm đầu vụ án Xét Lại Chống Đảng từ
năm 1957-1958.
3. Ông Giáp bán bí mật quân sự cho Đại Sứ Liên
Xô Serbakov.
4. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, ông Giáp hèn
nhát, sợ chết quanh quẩn trong hầm, không dám ra
ngoài. Nguyễn Chí Thanh mới chính là người chỉ
huy chiến dịch.
5. Ông Giáp nhận định t́nh h́nh kém, vội vàng
giải tán 80.000 quân, để khi Pháp – Mỹ trở lại
th́ không có đủ quân chống đỡ.
6. Tết Mậu Thân 1968 ông Giáp nhận định rằng Mỹ
sẽ dùng bom nguyên tử đánh Hà Nội, nên xin đi
nghỉ ở Moscow để lánh nạn.
7. Ông Giáp hèn nhát, sợ B-52 của Mỹ rải thảm,
nên không đi B
(chưa bao giờ dám đặt chân vào
chiến trường miền Nam trước 1975).
8. Ông Giáp đă có vợ, nhưng lại ăn nằm với một
phụ nữ đă có chồng. Cô này đến nhà riêng ông
Giáp dạy đàn piano.
Đỗ Mười kết luận phải khai trừ
ông Giáp ra khỏi ĐCSVN. Lê Đức Anh nương tay
hơn, chỉ gạt ông Giáp ra khỏi ghế “ủy viên trung
ương” – một vị trí an ủi mà thời Lê Duẩn – Lê Đức Thọ vẫn c̣n bố thí cho ông.
Người ta ví von rằng trận đ̣n mà MA đánh ông
Giáp cũng giống như trận đ̣n mà Đặng Trần Thường
đánh Ngô Th́ Nhậm ở Quốc Tử Giám cách đây 200
năm. MA đánh Giáp bằng những tội danh rất hiểm.
Thường đánh Nhậm bằng roi tẩm thuốc độc. Nhậm
đau lắm nhưng vẫn đối đáp khí khái, ăn miếng trả
miếng, bảo vệ được thanh danh, để lại tiếng thơm
cho đời sau. C̣n tướng Giáp th́ vẫn nhũn như
con chi chi, nhịn nhục, không dám nói năng ǵ.
Có phải ḷng kiêu hănh của một vị đại tướng đă
thành gỗ đá, không bao giờ bị thương tổn?
Có người lại bảo ông Giáp phục kích, chờ cơ hội.
Đúng, ông Giáp đă chờ cho đến khi cả hai ông MA
đă vào tuổi 90, sức khỏe cạn, quyền lực hết,
không c̣n ảnh hưởng nhiều đến phong cảnh chính
trị Việt nam th́ ông Giáp mới dám mở miệng để
đ̣i lại danh dự. Tiếc thay, tướng Giáp chỉ đ̣i
công lư cho cá nhân ông, c̣n những đồng đội
trung thành của ông ở Điện Biên Phủ ông chẳng hề
bận tâm.
Dân Hà nội th́ đàm tiếu rằng con đường ṭng
chính của tướng Giáp đầy gian nan vất vả, ông đă
hành quân qua một chặng đường dài từ Cây Đa Tân
Trào đến Cây Đa Nhà Ḅ. Cây Đa Nhà Ḅ là một
trạm hộ sinh nằm trên phố Ḷ Đúc, Hà Nội, dành
cho những phụ nữ thuộc giới b́nh dân, chuyên đỡ
đẻ, nạo phá thai, khám phụ khoa, thông ṿi trứng,
hút điều ḥa kinh nguyệt, điều trị rong kinh
huyết trắng. (Ngẫm ra, dân Hà Thành thâm thiệt!)
Viết về tướng Giáp mà không phân tích một trận
đánh do ông chỉ huy, th́ rất là thiếu sót. Tôi
quyết định chọn trận đánh cuối cùng trong cuộc
đời cầm quân của ông. Đó là một cuộc chiến ngắn
ngủi nhưng đẫm máu giữa hai người anh em cùng ư
thức hệ cộng sản: Quân Đội Nhân Dân Việt Nam
(QĐND)
do tướng Giáp chỉ huy và Hồng Quân Trung Hoa
(HQTH)
do tướng Dương Đắc Chí là tư lệnh.
Cuộc chiến Việt – Trung tháng
2-1979.
QĐND hoàn toàn bị bất ngờ:
Để trừng phạt Việt nam, HQTH đă sử dụng 10 quân
đoàn chủ lực và một số sư đoàn độc lập, bao gồm
300.000 binh sĩ, 550 xe tăng, 480 khẩu pháo,
1.260 súng cối, hỏa tiễn, chưa kể hơn 200 tàu
chiến của hạm đội Nam Hải và 1.700 máy bay
phía sau.
Các nguồn tin phương Tây nhận định rằng HQTH đă
mất từ 60 đến 90 ngày để đưa quân vào các vị trí
tập kết sẵn sàng cho các mũi tấn công. Chỉ cần
là nhân viên quân báo cấp trung đoàn, hay các tổ
trinh sát đặc biệt cũng nhận ra được ư đồ, và
ngày giờ khai hỏa của đối phương, nói ǵ đến
t́nh báo chiến lược.
Mờ sáng ngày 17-2-1979, HQTH tấn công trên toàn
tuyến biên giới dài 1.400 Km, trải rộng trong
một khoảng không gian gồm 7 tỉnh Điện Biên, Lai
Châu, Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn và
Quảng Ninh.
Việt nam hoàn toàn không hay biết ǵ. Khi HQTH
tràn qua biên giới, th́ thủ tướng Phạm Văn
Đồng và đại tướng Văn Tiến Dũng, tổng tham
mưu trưởng, đang thăm viếng xứ Cao Miên. Dân
chúng không được thông báo trước, trẻ em, người
già, và phụ nữ có thai, không kịp di tản ra khỏi
vùng chiến địa. HQTH đă tạo ra được một yếu tố
bất ngờ đến ngọan mục. Không hiểu tướng Giáp
biện minh thế nào cho việc không hay biết ǵ về
giờ nổ súng của đối phương.
Thất bại về t́nh báo và nhận định
t́nh h́nh:
Tháng 11-1978, Đặng Tiểu Bình
công du Thái Lan , Malaysia và Singapore. Đặng
nói với các vị chủ nhà rằng Trung Quốc
sẽ dùng vũ lực nếu Việt Nam tấn công
Campuchia. Đặng đă gọi Việt Nam là những tên du
côn của phương Đông, phải dạy cho chúng một bài
học. Có lẽ v́ lời của Đặng quá khiếm nhă, báo
chí Trung Quốc chỉ dùng nửa sau của câu nói.
Ngày 28-1-1979, Đặng thăm Mỹ, và tuyên bố
“Chúng
tôi không thể cho phép Việt Nam gây rối loạn
khắp nơi”, “ Trung Quốc kiên định đứng về phía
Campuchia phản đối bọn xâm lược Việt Nam”. Giọng điệu chiến tranh của Đặng rất rơ. Báo chí
Mỹ loan tải sớm muộn ǵ th́ một cuộc chiến giữa
hai nước cộng sản sẽ nổ ra.
Sau 3 ngày thăm Mỹ, Đặng đến Nhật. Tại đây,
Đặng vẫn giọng điệu hung hăng
“để trừng phạt
Việt nam, dù có gặp những nguy hiểm cũng phải
hành động”; “không trừng phạt kẻ xâm lược, sẽ
tạo ra những nguy hiểm phản ứng dây chuyền”,
“Đối phó với loại người vô ơn như thế, không có
những bài học cần thiết th́ e rằng các h́nh thức
khác đều không có hiệu quả”.
Các nhà ngoại giao
Nhật ngạc nhiên v́ lời lẽ và thái độ phi ngoại
giao của Đặng.
Cũng khoảng thời gian này, TASS – hăng thông tấn
của Liên Xô cũng đưa tin một lực lượng rất lớn
quân đội Trung Quốc đang áp sát biên giới Việt–Trung.
Từ Nhật về, Đặng chỉ thị tấn công Việt Nam vào
ngày 17-2. Thời gian của chiến dịch không dài
hơn cuộc chiến một tháng với Ấn Độ
(1962); không
gian của cuộc chiến sẽ tiến hành một cách
hạn chế, trong phạm vi trên duới 50 cây số
từ biên giới.
Bằng chứng Đặng sẽ trừng phạt Việt nam đă rơ như
ban ngày, nhưng không hiểu v́ sao phía Việt Nam
tin rằng Trung Quốc là một nước XHCN anh em, và
nhân dân Trung Quốc yêu chuộng ḥa b́nh, sẽ
không ủng hộ chiến tranh. Trung Quốc sẽ không
tấn công, hoặc nếu có th́ chỉ từ cấp sư đoàn đổ
lại.
Thiếu tin t́nh báo, nhận định và phân tích t́nh
h́nh sai, không nắm được thời điểm nổ súng, thời
gian, không gian, và quy mô chiến dịch của đối
phương, đă dẫn đến việc tướng Giáp không hề bố
trí những quân đoàn chủ lực dọc biên giới. Tất
cả phó thác cho dân quân tự vệ, bộ đội địa
phương, và một vài trung đoàn độc lập.
Một thất bại về chiến thuật:
Kế hoạch hành quân của Trung
Quốc chia làm 3 giai đoạn.
Giai đoạn 1: từ 17-2 đến 25-2, phá vỡ hàng
phòng thủ đầu tiên của Việt Nam, làm chủ
thị xă Cao Bằng, Lào Cai, và hai thị trấn Cam
Đường và Đồng Đăng, để mở đường cho cuộc tấn
công vào Lạng Sơn.
Giai đoạn 2: từ 26-2 đến 5-3, chiếm được
thành phố Lạng Sơn, và hai thị trấn Sa Pa va
Phong Thổ.
Giai đoạn 3: từ 5-3 đến 16-3, bình định và
phá hủy các căn cứ quân sự ở khu vực biên
giới, trước khi rút về.
Ngày 21 tháng 2, khi chiến dịch đang diễn ra rất
ác liệt, tuần dương hạm Sverdlov và khu trục hạm
Krivak của Liên Xô đă tiến về bờ biển Việt nam.
Cầu hàng không của Liên Xô giúp Việt Nam chở
quân và vũ khí ra Bắc. Hai chuyến bay đặc biệt
của Liên Xô và Bulgaria đă chở vũ khí tới Hà
Nội.
Trước t́nh h́nh đó ngày 23-2-1979, Đặng sợ Liên
Xô nhúng tay, nên lên tiếng về “cuộc chiến sẽ
giới hạn trong ṿng 50 km , và sẽ rút quân trong
10 ngày tới. Rơ ràng Trung Quốc không có ư
định tấn công vào Hà nội. Họ chỉ ba hoa rằng
“ăn sáng ở Lạng Sơn và ăn tối ở Hà Nội.”
Việt Nam lại tin rằng cuộc chiến sẽ kéo dài, và
Hà nội sẽ bị tấn công. Từ nhận định sai lầm này
mà dẫn đến việc dồn hết công sức, và tâm trí vào
việc xây dựng “Pḥng Tuyến Sông Cầu”, để cố thủ
Hà nôi. 7 tỉnh biên giới gần như bị bỏ ngỏ,
phải tự chiến đấu trong tuyệt vọng, tự gánh vác
lấy sức nặng của cuộc chiến, không được chi
viện. Trận chiến tại Đồng Đăng là một thí dụ:
Đồng Đăng là một thị xă nằm sát biên giới
Việt-Trung, cách thành phố Lạng Sơn 14 Km về
phía Đông Nam. Trận đánh bắt đầu sáng 17-2 và
là trận ác liệt nhất. Đây là trận địa pḥng thủ
của Trung đoàn 12 Tây Sơn, thuộc sư đoàn Sao
Vàng, QĐND. Phía Trung Quốc dùng 2 sư đoàn bộ
binh, 1 trung đoàn xe tăng, và chi viện của 6
trung đoàn pháo binh, (Tương quan lực lượng là
khoảng 10 đánh 1). Pháo đài Đồng Đăng tạo thế
chân kiềng bảo vệ phía Tây Nam thị xă,
(Pháo đài
này được Pháp xây dựng rất kiên cố, v́ ở đây đă
diễn ra khá nhiều va chạm đẫm máu giữa Pháp và
nhà Thanh trước đây). Việt nam chỉ có 2 tiểu
đoàn trấn giữ, bị Trung Quốc bao vây và tấn
công dồn dập ngay từ đầu với lực lượng cấp sư
đoàn. Lực lượng pḥng thủ không hề được chi
viện nhưng đă chiến đấu đến những người cuối
cùng, trụ được 22 ngày đêm. Cuối cùng HQTH cũng
đă làm chủ được khu vực bên ngoài Pháo Đài,
nhưng Trung Quốc không gọi được đối phương cố
thủ bên trong ra đầu hàng. Trung Quốc chở bộc
phá tới đánh sập cửa chính, dùng súng phun lửa,
thả lựu đạn, phun chất độc vào các lỗ thông hơi
làm thiệt mạng cả thương binh cũng như dân quanh
vùng đến đây lánh nạn. Khi chiếm được Pháo đài
Đồng Đăng, HQTH đă dùng 10 tấn thuốc nổ để phá
hệ thống cố thủ này.
Việt Nam lúc đó đă có ít nhất 5 sư đoàn đang ở
miền Bắc, trong đó có sư 308 – là một sư đoàn
thiện chiến đă từng đánh ở Điện Biên Phủ và Khe
Sanh. Nếu 5 sư đoàn này được tham chiến vào
buổi b́nh minh của cuộc chiến th́ t́nh thế sẽ
hoàn toàn có lợi cho phía QĐND. HQTH không thể
tiến sâu vào lănh thổ VN, không thể làm chủ được
thời gian, không thể đạt được những những mục
tiêu như họ muốn, và họ sẽ không có lư do ǵ để
tuyên bố là “Chiến Thắng”. Đây là một sai lầm
mang tính chiến thuật mà tướng Giáp và bộ tổng
tham mưu của QĐND phải chịu trách nhiệm.
Một kết thúc mập mờ dẫn đến một
sai lầm chiến lược:
Sau những ngày chiến đấu ngoan
cường nhưng đơn độc của sư đoàn Sao Vàng trước
một đối phương áp đảo về số lượng và hỏa lực,
ngày 4-3-1979, Lạng Sơn thất thủ.
Sáng 5-3, Trung Quốc tuyên bố đă hoàn thành mục
tiêu của cuộc trừng phạt, chiến thắng vẻ vang,
và quyết định rút quân.
Cùng ngày 5-3, Việt nam phát lệnh “Tổng Động
Viên”. Những quân đoàn chủ lực của QĐND có xe
tăng, pháo binh, và không quân từ chiến trường
Campuchia trở về, cùng với một địa h́nh muôn vàn
hiểm trở của núi rừng miền Bắc, Việt Nam đă vào
vị trí vây hăm HQTH. Tất cả đă sẵn sàng cho
cuộc phản kích, mà phần thắng sẽ thuộc về tay
QĐND.
Nhưng tiếc thay, Việt Nam lại tuyên bố “Thiện
Chí Ḥa B́nh”, rằng truyền thống ông cha ta…
rằng ḷng cao thượng… rằng ḷng nhân đạo của dân
tộc ta …, Việt Nam sẽ để cho HQTH rút quân an
toàn.
Sự thực trên đường rút quân, HQTH vẫn chém giết,
vơ vét, và phá hoại. Vụ thảm sát ngày 9 tháng 3
tại Đổng Chú, huyện Ḥa An, Cao Bằng là một thí
dụ. HQTH đă dùng búa, dao giết 43 người, gồm 21
phụ nữ trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai, 20
trẻ em, và 2 người đàn ông, rồi ném xác xuống
giếng hoặc chặt ra nhiều khúc vứt hai bên bờ
suối. HQTH có đủ thời gian và không gian để phá
hoại hạ tầng cơ sở, chiếm giữ những điểm cao
quan trọng, và gài lại hàng triệu trái ḿn cá
nhân trên đường rút lui.
QĐND đă không tổ chức những trận đánh cấp tập,
vu hồi, tạt sườn trên đường rút quân của HQTH.
Kết thúc cuộc chiến một cách mập mờ, nửa vời,
đánh rắn giữa khúc, nửa nạc nửa mỡ. HQTH coi
thường ư chí và kinh nghiệm chiến đấu của QĐND,
và c̣n mỉa mai rằng chưa được “vuốt râu cọp”.
Họ không tôn trọng danh tiếng của một đạo quân
thiện chiến.
Quyết định “Thiện Chí Ḥa B́nh” của Việt Nam
h́nh như là một thái độ thủ ḥa, nhưng ḥa vào
một thế vô cùng bất lợi. Từ đó, trong bất kỳ
những cuộc thương thảo nào về biên giới, Trung
Quốc luôn ở thế kẻ cả, áp đảo, và lấn lướt mà
chúng ta thấy rất rơ. Đây là hệ luỵ từ sai lầm
mang tính chiến lược do tướng Giáp và Bộ tổng
tham mưu gây ra.
“Anh Đặng”
Đặng Tiểu B́nh là người đă phát
động cuộc chiến đẫm máu, man rợ, gây ra bao
nhiêu đau thương và dẫn đến những hệ lụy cho đất
nước Việt Nam nhiều năm sau đó. Đặng đă từng
gọi lănh đạo của Việt Nam là “những thằng du côn
của phương Đông”, “lũ tiểu bá”, “đám vô ơn, bội
bạc”. Thế mà 10 năm sau, khi những vết thương
trên thân ḿnh Tổ Quốc vẫn c̣n đang chảy máu,
ngày 3-9-1990, ba ông Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười
và Phạm Văn Đồng bí mật đến Thành Đô, tỉnh Tứ
Xuyên, hy vọng được yết kiến Đặng Tiểu B́nh.
Đặng không gặp, để cho hai đàn em Giang Trạch
Dân và Lư Bằng tiếp. Cả ba ông Linh, Mười, Đồng
rất tiếc v́ đă không gặp được “anh Đặng”. Ông
Vơ Văn Kiệt ở nhà cũng tiếc hùi hụi, phàn nàn
rằng “nếu có anh Đặng, th́ anh Tô (Đồng) mới nên
đi. ”
Kẻ tử thù của của nhân dân Việt nam, nay được
các nhà lănh đạo Việt Nam gọi bằng “ANH” thân
thiết qúa.
Cũng khoảng thời gian đó, tướng Giáp đến thăm
Trung Quốc, và xin được gặp tướng Dương Đắc
Chí – tổng tư lệnh trong cuộc chiến biên giới
với Việt Nam năm 1979. Nhưng Dương tướng quân
từ chối, nói:
“Đời nào tôi lại gặp ông ta. Mộ
của các cán bộ chiến sĩ vẫn c̣n chưa xanh cỏ!”
Chỉ vài thông tin để các bạn thấy được cái gọi
là “Đại trí, Đại nhân, Đại dũng”
của những lănh tụ cộng sản Việt Nam, trong đó có
Đại Tướng Vơ Nguyên Giáp.
(Trong bài này tôi có tham khảo tài liệu của các
tác giả Bùi Tín, Trần Quang Cơ, Trần Vũ,
và Bharat Raksha và trang mạng Talawas. Tôi cảm
ơn các tác giả kể trên).
Tháng 3, 2011
Trần Hồng Tâm