Sau Bức Màn Đỏ: hậu trường chính trị Việt Nam sau 1975 (23)
Thursday, January 24, 2008

Hoàng Dung

(Tiếp theo)

Chính Quyền Cộng Sản Việt Nam Sau Đại Hội IX (2001-2006)

Trung tuần tháng 4 năm 2001, đảng Cộng Sản Việt Nam tổ chức Đại Hội Đảng lần thứ IX để kiểm điểm lại những thành tích trong năm năm qua, đồng thời cũng xếp đặt lại nhân sự và đề ra những đường lối mới trong ṿng năm năm tới.

Thành tích của những năm sau Đại Hội Đảng lần thứ VIII năm 1996 đă không được lạc quan. Do sự tranh chấp giữa hai phe đổi mới và bảo thủ trong đảng, cho nên đă không có một biện pháp quyết liệt nào được đưa ra khi phải đối phó với những đổi thay của t́nh h́nh kinh tế trên thế giới, nhất là đă không có một kế hoạch nào để đối phó với cơn khủng hoảng tiền tệ trong vùng Đông Nam Á năm 1997. Số vốn đầu tư của ngoại quốc vào Việt Nam trong những năm này đă sụt xuống thấp hơn năm 1992, cán cân mậu dịch bị thâm thủng tới 150 phần trăm, nạn thất nghiệp ngày càng gia tăng v́ dân số đă tăng nhanh chóng, mỗi năm lại có thêm gần 1 triệu người đến tuổi lao động

Đại Hội Đảng lần IX vào Tháng Tư năm 2001 đă được chuẩn bị từ những hội nghị Trung Ương Đảng lần thứ 9 của khóa VIII đầu năm 2000. Cho tới Hội Nghị Trung Ương lần thứ 11 vào tháng 2, 2001 th́ đă có nhiều dấu hiệu chứng tỏ là Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu sẽ bị mất chức dù mới được làm việc có hơn nửa nhiệm kỳ. Nghị quyết của Hội Nghị Trung Ương Đảng lần thứ 11 này đă khuyến cáo là những người trên 65 tuổi không nên ra ứng cử để trẻ trung hóa guồng máy lănh đạo. Điều này nhắm vào Lê Khả Phiêu (sinh năm 1931, sắp 70 tuổi) và Lê Khả Phiêu đă phải tích cực vận động để được thêm vào câu “trừ vài chức vụ then chốt”. Ngoài ra, để tạo áp lực với những phần tử bảo thủ, Lê Khả Phiêu đă dàn xếp để việc canh giữ an ninh cho Đại Hội Đảng không được giao cho công an phụ trách như mọi lần mà được giao cho quân đội. Trong dịp hội nghị lần thứ 11 này, Trung Ương Đảng cũng cho biết là đă có hàng ngàn lá thư góp ư kiến vào bản dự thảo Nghị quyết của Đại Hội Đảng. Tuy đảng bày tỏ ḷng biết ơn sâu sắc về những ư kiến đóng góp này nhưng sau đó, bản Nghị quyết chính thức vẫn giống y như bản dự thảo.

Hiển nhiên là trong những năm sau Đại Hội Đảng lần thứ VIII (1996), nhiều biến cố không thuận lợi đă xảy ra như sự sa sút của kinh tế Việt Nam, tệ nạn tham nhũng tràn lan, những bất ổn ở Thái B́nh, Đồng Nai, Tây Nguyên đă khiến những ủy viên Trung Ương Đảng không tín nhiệm Lê Khả Phiêu ở trách nhiệm lănh đạo. Nhưng cũng nhờ biến cố Tây Nguyên, Lê Khả Phiêu đă cố gắng thuyết phục những ủy viên Bộ Chính Trị là “không nên có thay đổi lănh đạo trong khi trong nước đang có rối loạn” để có thể ra tái cử. Nhiều ủy viên Bộ Chính Trị dĩ nhiên cũng muốn ở lại thêm một nhiệm kỳ nên ít ra đă có 2 phần 3 ủy viên đồng ư. Nhưng dù vậy, đề nghị này đă bị Hội Nghị Trung Ương Đảng lần thứ 12 họp mấy ngày trước ngày Đại Hội Đảng bác bỏ, một điều hiếm hoi ít khi xảy ra.

Sự mất chức của Lê Khả Phiêu ngoài những nguyên nhân khách quan kể trên c̣n do những vụng về lầm lỗi của cá nhân Lê Khả Phiêu. Trước hết, tuy không có một hậu thuẫn chính trị vững mạnh, kể cả trong quân đội, Lê Khả Phiêu ngoài ư muốn được tiếp tục làm Tổng Bí Thư ít ra là đủ một nhiệm kỳ 5 năm, lại c̣n muốn kiêm nhiệm thêm chức vụ chủ tịch Nhà nước để được coi như quốc khách khi đi công du các nước khác, giống như Gorbachev hay Giang Trạch Dân. V́ Lê Khả Phiêu vận động chuyện này khá công khai, điều này đă gây bất măn trong những ủy viên trung ương. Nhưng lỗi lầm lớn nhất của Lê Khả Phiêu là đă mưu toan băi bỏ chức vụ của ba “cố vấn”. Trong ba người này, Vơ Văn Kiệt dĩ nhiên luôn luôn chống đối với Lê Khả Phiêu. Người mà Vơ Văn Kiệt đỡ đầu cho vào ban Thường Vụ Bộ Chính Trị là Nguyễn Tấn Dũng đă bị Phiêu loại ra ngoài ngay sau khi Phiêu được lên chức. Đỗ Mười và Lê Đức Anh, tuy cùng chung khuynh hướng bảo thủ nhưng đă tức giận khi bị Lê Khả Phiêu mưu toan loại họ ra khỏi phạm vi quyền lực. Trong Đại Hội Đảng toàn quân ngày 4-1-2001, Lê Đức Anh đă làm cho các đại biểu quân đội ngạc nhiên khi công khai kết tội Lê Khả Phiêu, người đă từng được Lê Đức Anh nâng đỡ để thăng tiến.

Đồng thời, trong đảng, Đỗ Mười cũng tích cực vận động để loại bỏ Lê Khả Phiêu. Trong hồi kư của Đoàn Duy Thành, Đoàn Duy Thành kể lại là Đỗ Mười đă nói “Nó muốn lật tao, tao lật nó”. Nguyễn Đức Tâm trong thư gửi Trung Ương Đảng vào dịp Đại Hội Đảng lần thứ X cũng kể lại là Đỗ Mười đă cho phổ biến một bản báo cáo tố cáo Lê Khả Phiêu đă giao du thân mật với những phụ nữ như Đặng Thị Thu Hà, Vũ Thị Dung... trong đó có người hoạt động t́nh báo cho ngoại quốc (ám chỉ Trung Hoa). V́ thế, tuy khác khuynh hướng, cả ba đă kư tên chung trong một bức thư gửi cho các ủy viên trung ương để chê trách khả năng lănh đạo của Lê Khả Phiêu. Điều mỉa mai cho Lê Khả Phiêu là khi Nông Đức Mạnh được bầu làm tổng bí thư, ông ta chỉ nhận chức vụ với điều kiện là không c̣n ba cố vấn và cả bộ ba này đă chấp nhận. Một lỗi lầm nữa của Lê Khả Phiêu là đă dùng Tổng Cục 2 t́nh báo của quân đội để dùng máy ghi âm nghe lén những ủy viên Bộ Chính Trị khác (vụ A10).

Nếu Đỗ Mười muốn loại Lê Khả Phiêu là v́ Phiêu có ư phản bội, loại bỏ những cố vấn, Lê Đức Anh đă muốn loại Lê Khả Phiêu với một thâm ư khác. Tin tưởng là hậu thuẫn của ḿnh c̣n mạnh, Lê Đức Anh dù đă về hưu và làm cố vấn nhưng lại muốn trở lại làm tổng bí thư, cho nên dù đă được Phạm Văn Trà và Lê Văn Dũng báo cáo về việc Lê Khả Phiêu dùng Tổng Cục 2 nghe lén điện thoại từ nhiều tháng trước, nhưng đă chờ cho tới khi những Hội Nghị Trung Ương Đảng cuối cùng của khóa VIII họp, khi đảng Cộng Sản sắp xếp nhân sự lănh đạo cho Đại Hội Đảng lần thứ IX, mới cho trợ lư của ḿnh là Nguyễn Bắc Son đi khắp nơi báo cáo và nói xấu Lê Khả Phiêu (1). Cuối cùng, một lư do khác khiến Lê Khả Phiêu bị mất chức là thái độ qui phục Trung Hoa và việc nhân nhượng đất đai đă gây bất b́nh cho một số đảng viên.

Kể từ 1986, sau khi phát động đường lối đối ngoại “đa phương và đa dạng”, Việt Nam đă cố gắng, một mặt kết chặt thân hữu ngoại giao với Trung Hoa, mặt khác cải thiện quan hệ ngoại giao với các nước khác (như các nước ASEAN, Nhật Bản, Tây Âu, Hoa Kỳ...). Tuy v́ căn bản đều là xă hội chủ nghĩa, Việt Nam đă thiên về Trung Hoa, nhưng sự thiên vị đă trở nên quá đáng trong thời gian Lê Khả Phiêu làm tổng bí thư, khiến Việt Nam giống như một nước chư hầu. Những thỏa hiệp về ranh giới lănh thổ hay lănh hải với Trung Hoa đă không hề được tham khảo ư kiến với Trung Ương Đảng và cũng chưa được sự chấp thuận của Bộ Chính Trị hay đưa ra trước quốc hội. Do đó, vào kỳ Đại Hội Đảng tháng 4, 2001, dù cho có Hồ Cẩm Đào, phó chủ tịch nhà nước và Tổng Bí Thư tương lai của Trung Hoa, sang tham dự và ngồi cạnh, điều này đă không giúp ǵ được cho Lê Khả Phiêu. Ngoài ra, ba ngày trước đại hội, khi Hồ Cẩm Đào tới Hà Nội, báo Nhân Dân đă đăng bài xác nhận chủ quyền đất đai của Việt Nam ở biển Đông, gián tiếp nhắc nhở đến khuynh hướng bành trướng của Trung Hoa và thái độ cầu cạnh của Lê Khả Phiêu. Trong bản báo cáo kinh tế đọc trước Đại Hội Đảng, có đoạn là Việt Nam sẽ xây dựng những cơ sở hậu cần ở những hải đảo để phát triển kinh tế cũng như quốc pḥng. Sợ mất ḷng Trung Hoa, Nguyễn Dy Niên sau đó giải thích đó chỉ là một đường lối chung c̣n việc áp dụng là tùy theo địa phương hay trường hợp.

Sau khi đă loại Lê Khả Phiêu, những ủy viên Trung Ương Đảng bắt đầu họp để bầu Tổng Bí Thư vào ngày 17-4-2001, hai ngày trước đại hội chính thức của đảng. Trong ṿng đầu, có ba người được đề cử là Nông Đức Mạnh, Nguyễn Văn An và Trần Đức Lương. Tuy dẫn đầu, nhưng Nông đức Mạnh được chưa tới 60% số phiếu, người về thứ hai là Nguyễn Văn An, trưởng Ban Tổ Chức Đảng được 35% và Trần Đức Lương được khoảng gần 10%. V́ tỷ số phiếu 35% của Nguyễn Văn An là một số phiếu vững chắc của những cán bộ hoạt động trong tổ chức đảng (2), Nông Đức Mạnh cảm thấy không an tâm, sợ rằng với tư cách trưởng ban tổ chức đảng, Nguyễn Văn An có thể gây khó khăn hay có thể kiếm thêm được một số hậu thuẫn để lật lại ḿnh. Ngoài ra, với ảnh hưởng sâu rộng của bộ ba “cố vấn”, Nông Đức Mạnh sẽ có thể bị trói tay như Lê Khả Phiêu. Do đó, mới đầu Nông đức Mạnh đă từ chối không nhận chức.

Sự từ chối của Nông Đức Mạnh gây khó khăn cho Ủy Ban Trung Ương, v́ trong số những ứng viên, chỉ có Nông Đức Mạnh là có những điều kiện thuận lợi.

Trước hết, từ trước tới nay, Nông Đức Mạnh vẫn là người đứng ngoài những tranh chấp giữa hai phe bảo thủ và đổi mới. Trong gần mười năm làm chủ tịch quốc hội, quốc hội này đă chấp thuận hết những đạo luật đổi mới kinh tế lẫn đàn áp chính trị nên đă được ḷng cả hai phe. Uy tín của quốc hội cũng khá hơn khi quốc hội được quyền triệu tập bộ trưởng ra điều trần công khai. V́ chức thủ tướng chắc chắn về tay Phan Văn Khải, một người miền Nam và chức Chủ tịch Nhà nước là Trần Đức Lương, người miền Trung, chức Tổng Bí Thư phải là người miền Bắc như Nông Đức Mạnh hay Nguyễn Văn An. Ngoài ra, với tin đồn là con rơi của Hồ Chí Minh, cá nhân và đời tư của Nông Đức Mạnh sẽ không bị phanh phui (khi được hỏi, Nông Đức Mạnh đă không phủ nhận và cũng không xác nhận tin đồn này). Sau cùng, nhờ là gốc người Tầy, được cử lên làm một chức vụ quan trọng nhất nước sẽ chứng tỏ là chính quyền Việt Nam không kỳ thị chủng tộc, xoa dịu bớt sự phẫn nộ của dân thiểu số đang biểu t́nh gây rối trên vùng Tây Nguyên và làm vừa ḷng Trung Hoa

V́ không có ai thay thế và thời giờ quá gấp rút, chức vụ Tổng Bí Thư phải được bầu ngay để có thể đưa ra cho Đại Hội Đảng “nhất trí biểu quyết chấp thuận” hai ngày sau nên Trung Ương Đảng phải t́m biện pháp ḥa giải bằng cách thuyết phục để ba “cố vấn” từ chức, không c̣n dính dáng ǵ đến việc điều hành của Bộ Chính Trị, đồng thời, thuyên chuyển Nguyễn Văn An ra khỏi ban tổ chức, sang làm chủ tịch quốc hội. Sau khi đạt được những nhượng bộ kể trên, Nông Đức Mạnh chính thức nhận lời làm tổng bí thư. Tuy vậy, vây cánh của Đỗ Mười và Lê Đức Anh vẫn c̣n rất mạnh (như Phạm Văn Trà, Trần Đ́nh Hoan, Phan Diễn, Nguyễn Khoa Điềm...). Hai người này đă ủng hộ Nông Đức Mạnh v́ thấy Nông Đức Mạnh là người tương đối không có một hậu thuẫn vững mạnh nào để chống lại họ.

Tân Tổng Bí Thư của đảng Cộng Sản Việt Nam sinh năm 1940 ở tỉnh Bắc Thái, được du học Liên Xô và tốt nghiệp kỹ sư lâm nghiệp, sau đó về làm việc ở ty Lâm Nghiệp Bắc Thái, thăng trưởng ty năm 1977, sau đó được bầu làm chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Thái năm 1986. Năm năm sau, trở nên ủy viên trẻ nhất của Bộ Chính Trị và được đề cử làm chủ tịch quốc hội từ năm 1992.

Ngoài chức tổng bí thư, Đại Hội Đảng cũng bầu ra 150 ủy viên Trung Ương Đảng, trong đó đứng đầu là một Bộ Chính Trị gồm 15 người sắp xếp theo thứ tự:

1. Nông Đức Mạnh: Tổng Bí Thư

2. Trần Đức Lương, kiêm nhiệm chức Chủ Tịch Nhà Nước

3. Phan Văn Khải, kiêm nhiệm Thủ Tướng

4. Nguyễn Minh Triết, bí danh Sáu Phong, là Bí Thư Thành Ủy Thành Phố HCM từ 2001. Trước đó, Nguyễn Minh Triết là Bí Thư Tỉnh Ủy B́nh Dương, đă thiết lập một khu kỹ nghệ hỗn hợp với Singapore tương đối thành công.

5. Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ Tướng

6. Lê Minh Hương, Bộ Trưởng Công An

7. Nguyễn Phú Trọng, Bí Thư Thành Ủy Hà Nội

8. Phan Diễn, Bí Thư Thành Ủy Đà Nẵng. Hơn một năm sau, được cử làm Thường Vụ Ban Bí Thư, một chức vụ quan trọng để cùng Nông Đức Mạnh điều hành hoạt động hàng ngày của nội bộ đảng

9. Lê Hồng Anh, trưởng ban kiểm soát Đảng, từng là Bí Thư Tỉnh Ủy Kiên Giang, trong lư lịch khai là có bằng cử nhân luật và chính trị

10. Trương Tấn Sang trưởng ban kinh tế Đảng, quê ở Đức Ḥa, Long An. Trương Tấn Sang cũng là anh em vợ của Nguyễn Tấn Dũng và là anh em của Trương Mỹ Hoa, từng là phó chủ tịch nhà nước.

11. Phạm Văn Trà, Bộ Trưởng Quốc Pḥng

12. Nguyễn Văn An trưởng ban tổ chức đảng, từng là bí thư tỉnh ủy Hà Nam, từ tháng 11, 2001 được đổi qua làm chủ tịch quốc hội.

13. Trương Quang Được, trưởng ban vận động của đảng, từng là bí thư thành ủy Đà Nẵng trước Phan Diễn.

14. Trần Đ́nh Hoan, sau này làm trưởng ban tổ chức Trung Ương Đảng (3)

15. Nguyễn Khoa Điềm, sau này rời chức bộ trưởng Thông Tin Văn Hóa để thăng làm trưởng Ban Thông Tin Văn Hóa của Đảng.

(C̣n tiếp)