Sau Bức Màn Đỏ: hậu trường chính trị Việt Nam sau 1975 (20)
Friday, January 18, 2008

Hoàng Dung

 

(Tiếp theo)

Ít lâu sau, đến lượt Phó Thủ Tướng Đặc Trách Xây Dựng Ngô Xuân Lộc bị mất chức phó thủ tướng v́ bị nghi là thông đồng với Lê Tất Cương gian lận tiền mua xi măng và lem nhem trong công tŕnh xây dựng công viên Thủy Cung Thăng Long. Sự cách chức và bắt giữ Ngô Xuân Lộc cũng có thể là do tranh chấp giữa phe của Lê Đức Anh và phe chính phủ của Phan Văn Khải, v́ chính trợ lư của Lê Đức Anh là Nguyễn Bắc Son đă điều động báo chí tấn công Ngô Xuân Lộc. Mấy tháng sau, do Đỗ Mười can thiệp, Ngô Xuân Lộc được minh oan và lại được Phan Văn Khải chỉ định làm cố vấn đặc biệt về kỹ nghệ, xây dựng và giao thông. Chính Đỗ Mười cũng phải lên tiếng cải chính là ông ta không hề nhận rượu vang của một tổ hợp công ty Đại Hàn (nhiều tin đồn nói là Đỗ Mười nhận hối lộ của tổ hợp này một triệu Mỹ kim).

Ngô Xuân Lộc bị bắt là do tố cáo của Tổng Cục 2, và người cho tài liệu để tố cáo là Nguyễn Thái Nguyên, một viên chức trong văn pḥng thủ tướng của Phan Văn Khải đă được Tổng Cục 2 chiêu dụ để nằm vùng. Để trả đũa lại Tổng Cục 2, phe chính phủ cho Bộ Nội Vụ bắt và kết tội Nguyễn Thái Nguyên là đă cùng Tổng Cục 2 vu cáo Vơ Thị Thắng, tổng giám đốc tổng Nha Du Lịch. Tổng Cục 2 đă từng tố cáo là trong khi ở tù Côn đảo, Vơ Thị Thắng đă làm chỉ điểm cho công an VNCH. Trong vụ này, ngoài Nguyễn Thái Nguyên, Tổng Cục 2 c̣n dùng một nhân viên nằm vùng khác trong công ty du lịch là Nguyễn Thị Thanh Hiền.

Giữa năm 1998, cơn khủng hoảng kinh tế Á Châu trong năm 1997 mới ảnh hưởng tới Việt Nam v́ phần lớn (60%) hàng xuất cảng của Việt Nam là để bán cho những nước lân bang và những nước đầu tư nhiều nhất ở Việt Nam như Đại Hàn, Singapore, Thái Lan... đều gặp khó khăn. Hàng xuất cảng bị giảm đi một phần ba. Vốn ngoại quốc đầu tư giảm đi một phần tư so với năm trước. Nhân số thất nghiệp lên tới 20%. Trong cuộc họp hàng năm của Ngân Hàng Thế Giới và Quĩ Tiền Tệ Quốc Tế, Nguyễn Tấn Dũng đă phải lên tiếng yêu cầu Việt Nam được trợ giúp thêm. Tuy nhiên, v́ thành phần bảo thủ chiếm đa số trong Trung Ương Đảng và Bộ Chính Trị, cho nên ngoài việc t́m cách khuyến khích cách sử dụng vốn trong nước để đầu tư thay thế vốn nước ngoài, những buổi họp của Trung Ương Đảng năm 1998 chú trọng nhiều hơn vào những vấn đề văn hóa hay ư thức hệ nhằm củng cố quyền lực của Đảng mà không đưa ra một biện pháp cải thiện kinh tế nào khác. Tiếp theo đó là hội nghị Trung Ương Đảng lần thứ sáu đầu năm 1999 cũng chỉ chú trọng đến việc kiện toàn bộ máy Đảng hay chính phủ, hoặc đề ra chiến dịch “phê và tự phê” trong ba năm để thanh lọc hàng ngũ.

Ngoài ra, cuối năm 1998, Phân Bộ Kinh Tế, thuộc Tổng Cục Kinh Tế và Kỹ Nghệ Quốc Pḥng được nâng cấp lên thành một Cục Kinh Tế, đặt dưới sự kiểm soát của Bộ Quốc Pḥng. Kể từ đó, hầu như không có một ngành kinh tế nào mà quân đội không nhúng tay vào đầu tư, và hầu như ngành nào của quân đội cũng có riêng một cơ quan làm ăn buôn bán, đáng kể nhất là cục quân báo, lúc sau này được nâng lên thành Tổng Cục 2, có quyền theo dơi, bắt bớ, điều tra những việc không những chỉ liên quan đến quân sự mà c̣n về chính trị, kinh tế. Vào giữa năm 1998, quân đội Việt Nam bị tổn thất khi một máy bay quân sự Yak -40 do Liên Xô chế tạo bị rớt bên Lào, có 26 người tử nạn, trong đó có các Tướng Đào Trọng Lịch, Tham Mưu Trưởng Quân Đội, Trần Tất Thành, Tư Lệnh Quân Khu II, Trần Minh Thiết, Tư Lệnh Phó Quân Khu V cùng với các Tướng Phạm Minh Thành, Vũ Xuân Thủy và một số sĩ quan cao cấp Ai Lao (7 năm sau, 2005, một máy bay trực thăng MI 8 cũng do Nga Xô chế tạo đâm vào núi ở Nghệ An, gây thương vong cho tất cả những tướng lănh chỉ huy quân khu IV, trong đó có Trung Tướng Tư Lệnh Trương Đ́nh Thanh, Tư Lệnh Phó Nguyễn Bá Tuấn, Chủ Nhiệm Chính Trị Lê Hữu Phúc và nhiều sĩ quan cao cấp khác).

Sau khi Đào Trọng Lịch chết, Lê Văn Dũng, người tỉnh Bến Tre, lúc đó đang là thiếu tướng tư lệnh quân khu VII ở miền Nam được gọi về Hà Nội thay. Cũng như Phạm Văn Trà , sự lên chức nhanh chóng của Lê Văn Dũng là do sự đỡ đầu và cất nhắc của Lê Khả Phiêu và Lê Đức Anh. Những người này đă biết nhau trong thời gian phục vụ ở miền Nam và Căm Pu Chia. V́ lư do đó, cùng với Phạm Văn Trà , Lê Văn Dũng đă hết ḷng phục vụ cho Lê Đức Anh.

Sự hiện diện của một phái đoàn tướng lănh tư lệnh những quân khu giáp ranh với Ai Lao trên chuyến máy bay bị tử nạn kể trên cho thấy Việt Nam vẫn c̣n có những hoạt động quân sự ở Ai Lao. Dù Bộ Ngoại Giao Việt Nam cực lực chối bỏ, nguồn tin ngoại giao ở Ai Lao cho biết vào tháng 5 năm 2000, quân Việt Nam đă phải can thiệp để giúp đỡ quân Ai Lao đánh dẹp một số quân khởi loạn người Hmong trong tỉnh Xieng Khoang và trong tháng 6, báo chí Hà Nội đă đăng tin Tướng Nguyễn Khắc Dương, tư lệnh quân khu IV đă cùng Đại Tá Sayphoubanh của Ai Lao đặt viên đá đầu tiên xây dựng một quân y viện tại tỉnh này. Cũng tại Ai Lao, hai tháng sau, một trái bom nhỏ gài sát tường ṭa đại sứ Việt Nam được gỡ ng̣i nổ. Những nguồn tin ngoại giao tin rằng đó không phải do nhóm chống đối người Hmong mà là do một nhóm thân Trung Hoa trong Đảng Cộng Sản Ai Lao, v́ dù đă có sự ḥa hoăn Việt Hoa, Trung Hoa vẫn luôn t́m cách lấn át ảnh hưởng của Việt Nam tại Ai Lao và Căm Pu Chia. Đi trước Việt Nam, từ năm 1988, Ai Lao đă bắt đầu nối lại quan hệ ngoại giao với Trung Hoa. Để có thể thông thương với Thái Lan, Trung Hoa đă tích cực viện trợ cho Ai Lao, nhất là việc mở mang xa lộ theo hướng Bắc Nam từ Trung Hoa qua Vạn Tượng tới Thái Lan. Theo thống kê, từ 1988 đến 2001, Trung Hoa đă viện trợ cho Ai Lao khoảng 1.7 tỷ Mỹ kim. Khác với các nước Nhật, Tây Âu, Úc, Ngân Hàng Thế Giới đ̣i Ai Lao phải thi hành nhiều điều kiện như cải tổ hành chánh, chống thất thoát, cải thiện nhân quyền, Trung Hoa khi viện trợ gần như đă không đ̣i hỏi một điều kiện nào. Xét về ảnh hưởng đối với Đảng Cộng Sản Ai Lao, so sánh với Trung Hoa, Việt Nam hiện nay vẫn chiếm uy thế nhưng điều này có thể bị xoay ngược lại trong tương lai.

Cuối năm 1999, nhằm nâng cao phẩm chất quân đội, quốc hội ra một đạo luật đ̣i hỏi những sĩ quan phải có tŕnh độ đại học. Cấp trung đoàn trưởng trở lên phải có bằng cấp hậu đại học (không nhất thiết là văn hóa mà có thể là chính trị, lư luận... và có thể học “tại chức”). Các chức vụ được đề cử cũng phải theo thứ bậc, chẳng hạn phải là tư lệnh quân đoàn (chỉ huy khoảng 3 sư đoàn) trước khi là tư lệnh phó quân khu (chỉ huy lănh thổ) để làm tư lệnh quân khu. Số tướng lănh được giảm xuống giới hạn c̣n 150 người.

Do sự ưu thắng của phe quân đội và được Lê Khả Phiêu nâng đỡ, Tổng Cục Kinh Tế và Kỹ Nghệ của quân đội tiếp tục bành trướng. Năm 1998, Phạm Văn Trà ra lệnh cho những quân khu và những binh đoàn thiết lập nên những “khu kinh tế quốc pḥng” và một năm sau, 13 khu đă được thành lập với số vốn khoảng trên 200 triệu Mỹ kim. Phần lớn những khu kinh tế này nằm dọc theo biên giới của Việt Nam với Trung Hoa, Lào và Căm Pu Chia. Tùy theo hoàn cảnh địa phương, mỗi khu kinh tế kinh doanh những ngành khác nhau. Chẳng hạn binh đoàn 15 đóng tại vùng Tây Nguyên đặt kế hoạch khai khẩn đất hoang, trồng trà, cà phê, nuôi gia súc..., công binh của binh đoàn lập đường sá, xây nhà cửa, trường học. Binh chủng hải quân lập xưởng sửa chữa tàu và để cho một số tàu tuần kiêm nhiệm thêm việc đánh cá. Khi Trung Hoa bị mất mùa, dù trái luật, tàu hải quân cũng đă chở lúa gạo từ miền đồng bằng Việt Nam sang bán cho Trung Hoa kiếm lời. Không quân có tổ hợp công ty hàng không lo việc chuyên chở hành khách thương mại (kể cả những toán chuyên viên đi t́m người Mỹ mất tích) và huấn luyện phi công. Quân y lập bệnh viện tư. Lực lượng biên pḥng phá rừng, xây trường học và cung cấp giáo viên cho dân thiểu số. Học Viện Kỹ Thuật Quân Đội cũng thành lập công ty điện toán Tecapro kư khế ước với hăng dầu Vietsovpetro cùng nhiều công ty ngoại quốc khác. Những tổ hợp công ty của quân đội thành công nhất là công ty Trường Sơn (binh đoàn 12), công ty Thanh An (binh đoàn 11), công ty Tây Nguyên (binh đoàn 15)... Ngay cả Tổng Cục 2 t́nh báo cũng có những công ty Vasuco, Toseco buôn bán vũ khí, khách sạn Hoàng Gia, công ty xây dựng Hồng Bàng. Cũng như những công ty quốc doanh, những công ty quân đội nếu bị lỗ lă, sẽ được ngân sách quốc gia tài trợ.

Sang đến năm 1999, kinh tế của Việt Nam tiếp tục xuống dốc. Đầu tư của ngoại quốc xuống 4 tỷ Mỹ kim năm 1998 tới 1999 xuống c̣n có 1.48 tỷ. Các công ty ngoại quốc ở Việt Nam phần lớn bị lỗ. Nhưng lỗ nhiều nhất là những công ty quốc doanh. Khoảng hơn 2,000 trong hơn 6,000 công ty quốc doanh bị lỗ và dĩ nhiên chính phủ phải bù đắp. Ngân Hàng Thế Giới và Quĩ Tiền Tệ Quốc Tế ngưng không cho vay trừ khi Việt Nam áp dụng “một phương cách đổi mới toàn diện hơn”, trong đó có 3 mục tiêu:

1. hoặc tư nhân hóa, hoặc cải tổ lại những công ty quốc doanh;

2. cải tổ lại hệ thống ngân hàng, kể cả 4 ngân hàng chính của nhà nước;

3. cải tổ lại ngành thương nghiệp, mở rộng thị trường.

Tuy nhiên, khi phe đổi mới đề nghị với Trung Ương Đảng những biện pháp kể trên, nhóm bảo thủ lại thấy đó chỉ là những âm mưu của tư bản nhằm bóc lột và thao túng kinh tế những nước nghèo. Theo họ, tư nhân hóa những công ty quốc doanh chỉ là một phương cách để giảm thiểu uy quyền của Đảng và nhà nước, phá hoại định hướng xă hội chủ nghĩa, c̣n mở rộng thị trường để những công ty ngoại quốc cạnh tranh với giá thành rẻ hơn sẽ làm suy sụp những công ty quốc doanh, tạo ra nạn thất nghiệp và xáo trộn an ninh. V́ thế, khi dự thảo thỏa hiệp thương mại song phương (BTA-bilateral trade agreement) Việt Nam-Hoa Kỳ được hoàn tất, dù cho Lê Khả Phiêu ủng hộ thỏa ước v́ nó giúp thuế khóa hàng hóa Việt Nam vào Hoa Kỳ giảm từ 40% xuống c̣n 3%, và tính ra Việt Nam sẽ được lợi khoảng 800 triệu Mỹ kim trong năm đầu tiên, nhưng việc kư kết đă bị phe bảo thủ tŕ hoăn lại. Bản dự thảo hiệp ước được thương thuyết từ năm 1997 và với sự đồng ư của Lê Khả Phiêu, việc kư kết được dự trù khi Phan Văn Khải sang Tân Tây Lan họp hội nghị kinh tế các nước ven Thái B́nh Dương (APEC) và gặp Clinton ở đó vào tháng 9 năm 1999.

V́ khi kư thỏa hiệp BTA, một số những công ty quốc doanh, làm ăn thua lỗ, sẽ không c̣n có thể được trợ cấp, những Đảng viên cao cấp có liên quan với những xí nghiệp quốc doanh đă vận động với Đỗ Mười can thiệp để Lê Khả Phiêu tŕ hoăn lại. Ngoài ra, một lư do khác là lúc đó Trung Hoa cũng đang nghiên cứu kư một thỏa hiệp tương tự với Hoa Kỳ. Cảm thấy không thể đi trước nước đàn anh, Lê Khả Phiêu đă chỉ thị cho Bộ Ngoại Giao phải tuyên bố là Việt Nam vẫn chưa sẵn sàng. Một tháng sau, khi Hội Nghị Trung Ương Đảng lần thứ tám họp để nghiên cứu lại, hội nghị đă kết luận là bản dự thảo này “không quân b́nh, cần nghiên cứu thêm”. Tháng sau, từ ngày 8 đến 15-10-1999, do lệnh của Đỗ Mười và Lê Khả Phiêu, Phạm Thế Duyệt, một ủy viên Bộ Chính Trị, lên đường sang Trung Hoa tham khảo ư kiến về việc kư kết thỏa ước. Dù cho Trung Hoa đă khuyến cáo là Việt Nam nên thận trọng khi kư kết với Hoa Kỳ nhưng chỉ vài tuần lễ ngay sau đó, các cấp lănh đạo Việt Nam đă rất ngỡ ngàng khi Trung Hoa nhanh chóng kư kết một thỏa ước tương tự với Hoa Kỳ, mở đường cho Trung Hoa gia nhập vào cộng đồng thương mại thế giới WTO vào đầu năm 2001, trong khi sự tŕ hoăn của Việt Nam một phần do khuyến cáo của Trung Hoa đă làm chậm đi việc gia nhập tổ chức này cho tới tháng 11 năm 2006. Một số công ty ngoại quốc dự định đầu tư ở Việt Nam thấy Trung Hoa đă kư BTA với Hoa Kỳ đă bỏ sang Trung Hoa làm ăn. Tác giả Templer chuyên về Việt Nam nhận xét: “Không phải Trung Hoa bảo họ không kư. Họ chỉ không muốn qua mặt Trung Hoa. Họ nghĩ là tốt hơn nên để Trung Hoa được gia nhập WTO trước.”

Thời gian chờ đợi kư kết thỏa ước càng kéo dài càng bất lợi cho Việt Nam. Nhưng chỉ sau khi nước đàn anh và cộng sản gương mẫu là Trung Hoa đă kư, những phần tử bảo thủ mới phải chấp nhận thực tế là họ cần có nguồn vốn đầu tư ngoại quốc, cần phát triển xuất khẩu mới có hy vọng đạt được mục tiêu biến Việt Nam thành một nước công nghiệp và hiện đại vào năm 2020. Tám tháng sau, Hội Nghị Trung Ương Đảng lần thứ mười mới công nhận là Việt Nam không c̣n cách nào khác là ḥa nhập vào kinh tế trong vùng và kinh tế thế giới, nhất là với Hoa Kỳ. Vũ Khoan được cử sang Hoa Thịnh Đốn để kư thỏa ước thương mại song phương BTA với Hoa Kỳ vào ngày 13-7-2000, nhưng việc gia nhập vào Tổ Chức Thương Mại Thế Giới WTO của Việt Nam cũng đă phải chờ đến cuối năm 2006 mới xong, sau Trung Hoa đến hơn năm năm. Sau hiệp ước song phương, sự cải thiện bang giao giữa hai nước Việt Mỹ được thể hiện qua việc 3 chiếc phi cơ C130 của Hoa Kỳ đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất vào tháng 10 năm 2000 sau 25 năm vắng bóng để chờ đồ cứu trợ cho những nạn nhân của một cơn băo lớn vừa gây chết chóc và tàn phá tại những tỉnh duyên hải miền Trung và miền Nam.

Sự chần chừ thay đổi ư kiến của Lê Khả Phiêu đă làm nản ḷng phe đổi mới, trong khi mấy tháng sau Lê Khả Phiêu vẫn lại chấp thuận cho kư kết thỏa ước cũng đă làm cho phe bảo thủ bất b́nh. Điều này xảy ra là do thái độ của Lê Khả Phiêu đối với Trung Hoa. Mới đầu Lê Khả Phiêu thay đổi ư kiến không dám kư thỏa ước với Hoa Kỳ là v́ cùng với Đỗ Mười, Lê Khả Phiêu sợ làm mất ḷng Trung Hoa. Lúc sau, sau khi Trung Hoa đă kư th́ Lê Khả Phiêu mới mạnh dạn hùa theo phe đổi mới. Đó là một trong những lư do khiến Lê Khả Phiêu đă bị mất chức trong khi chỉ được làm Tổng bí thư mới hơn ba năm.

Trong khi khả năng lănh đạo của Lê Khả Phiêu, dù xuất thân là một tướng lănh, được coi là yếu kém, ưu điểm duy nhất của Phiêu là cuộc sống b́nh dị và gia đ́nh không bị tai tiếng. Tiếng xấu duy nhất của đời tư Lê Khả Phiêu là có tin đồn Lê Khả Phiêu bị trúng phải mỹ nhân kế của Trung Hoa, khiến cho thời gian Lê Khả Phiêu cầm quyền là thời gian Việt Nam nhượng bộ Trung Hoa nhiều nhất, kể cả phải nhượng bộ đất đai trong tranh chấp về biên giới. Tuy tin đồn không được kiểm chứng, nhưng thái độ qui phục Trung Hoa của Lê Khả Phiêu đă được thể hiện rơ ràng. Sau khi Lê Khả Phiêu, với tư cách tổng bí thư, sang thăm Trung Hoa vào tháng 2 năm 1999, phái đoàn thương thuyết của Việt Nam đă bị áp lực để hoàn tất thỏa ước về biên giới Việt Hoa trên đất liền trước năm 2000 và thỏa ước này đă được kư kết tại Hà Nội vào cuối năm 1999 giữa Nguyễn Mạnh Cầm và Đường Gia Truyền (Tang Jiaxuan). Thỏa ước là một thắng lợi ngoại giao lớn cho Trung Hoa, v́ ngoài việc được Việt Nam nhượng bộ về đất đai, trong tháng trước, trong hội nghị thượng đỉnh các quốc gia ASEAN ở Manila, Trung Hoa đă từ chối không chịu kư vào bản đề nghị “qui tắc hành sử” (code of conduct) trong những tranh chấp biên giới dù trên bộ hay trên biển. Đạt được thỏa hiệp với Việt Nam, Trung Hoa đă chứng tỏ là họ có thể giải quyết riêng với từng quốc gia theo cách “chia để trị” của họ. Cũng theo cách này, do chủ trương của Lê Khả Phiêu, Việt Nam cũng sẽ đi lẻ với Trung Hoa mà giải quyết ranh giới trên biển vào năm sau. Trong chuyến đi thăm Trung Hoa lần này, ngoài việc gặp Giang Trạch Dân, tổng bí thư, Lư Bằng, chủ tịch quốc hội, Hồ Cẩm Đào, phó chủ tịch Nhà nước Trung Hoa, Lê Khả Phiêu c̣n ghé thăm Thành Đô, thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên, nơi Đỗ Mười và Phạm Văn Đồng năm 1990 đă qua tạ lỗi, để tỏ ra coi trọng t́nh hữu nghị Hoa Việt và biết ơn thiện ư của Trung Hoa đă chịu để cho Việt Nam được tái lập bang giao.

V́ thế cô về chính trị, không có kinh nghiệm lẫn kiến thức về kinh tế, và lên cầm quyền trong thời gian mà tệ nạn tham nhũng đang lan tràn trong mọi cấp của Đảng viên, việc đầu tiên của Lê Khả Phiêu là mở hai đợt thanh lọc hàng ngũ Đảng và bài trừ tham nhũng. Chỉ trong tháng 7, 1999, Đảng trục xuất 200 Đảng viên, thi hành kỷ luật 1550 Đảng viên khác, hàng ngàn viên chức khác bị sa thải. Tháng 10 năm 1999, Tổng Giám Đốc Thuế Quan Phan Văn Đính bị mất chức v́ quá nhiều cán bộ hải quan ăn hối lộ và buôn lậu. Người thay thế là Nguyễn Đức Kiên, tỉnh ủy tỉnh Hải Dương. Năm 2001, có hai tỉnh ủy viên bị loại, nhưng Việt Nam vẫn được thế giới xếp vào một trong những nước tham nhũng nhất. Tuy không tham nhũng cá nhân, nhưng v́ không có hậu thuẫn trong một Bộ Chính Trị luôn luôn có phe phái, Lê Khả Phiêu phải ưu tiên nâng đỡ những Đảng viên cùng quê hương là tỉnh Thanh Hóa. Chẳng hạn khi Nguyễn Mạnh Cầm về hưu trong năm 2000, dù Vũ Khoan có khả năng và uy tín hơn, nhưng Lê Khả Phiêu lại áp lực để Nguyễn Dy Niên, người Thanh Hóa, lên thay. Vũ Khoan là người đầu óc cởi mở và chắc chắn sẽ không nhường nhịn Trung Hoa quá đáng như Lê Khả Phiêu. Ông ta đă từng viết trong một báo cáo về sử dụng ngân sách: “...nhiều thứ biết là chưa đúng, nhưng rất nhiều cán bộ lại biện lư lẽ rằng, Trung Quốc đă làm qua. Nhưng chúng ta phải hiểu rằng cái ǵ đúng ở Trung quốc không chắc đă đúng ở Việt Nam. Thành quả của Trung quốc là lớn, nhưng không thể mù quáng học tập theo, nếu cứ như vậy chúng ta sẽ lại mắc bệnh giáo điều, căn bệnh của những năm 80...”

(C̣n tiếp)