Sau Bức Màn Đỏ: hậu trường chính trị Việt
Nam sau 1975
(19)
Thursday, January 17, 2008
Hoàng Dung
(Tiếp theo)
Ngoài ra, để thúc đẩy Trung Hoa
chịu đứng ra lănh đạo phục hồi lại phong trào Cộng sản, thắt
chặt thêm t́nh đoàn kết xă hội chủ nghĩa, Lê Khả Phiêu đề nghị
hai nước hợp tác để mỗi năm, có một buổi hội thảo về ư thức hệ
giữa những lư thuyết gia để nghiên cứu lại chủ nghĩa Mác nhằm
biện luận cho kinh tế thị trường. Nguyễn Đức B́nh, ủy viên Bộ
Chính Trị kiêm giám đốc trường đảng cầm đầu phái đoàn sang Bắc
Kinh dự cuộc hội thảo đầu tiên vào tháng 6 năm 2000. Mấy tháng
sau, một cuộc hội thảo về lư thuyết khác lại được tổ chức tại Hà
Nội. Cầm đầu phái đoàn Trung Hoa là Lư Tiểu Anh, ủy viên Bộ
Chính Trị Trung Hoa kiêm giám đốc Học Viện Khoa Học Xă Hội. Sau
Nguyễn Đức B́nh là Nguyễn Minh Triết, Lê Minh Hương cũng sang
Trung Hoa để học tập kinh nghiệm của Trung Hoa. Để trấn an Trung
Hoa trước khi Bộ Trưởng Quốc Pḥng Cohen, Ngoại Trưởng Albright,
và Tổng Thống Clinton sang thăm Việt Nam, trong năm
2000, ngoài Lê Khả Phiêu, Nguyễn Đức B́nh, c̣n có Nông Đức Mạnh,
Phan Văn Khải, Trần Đức Lương, Nguyễn Dy Niên và Phạm Văn Trà
lần lượt qua thăm Bắc Kinh. Từ đó, hầu như cấp nào (từ trung
ương đến tỉnh), ngành nào, thuộc đảng hay nhà nước, cũng đều có
gắn bó trực tiếp với mọi cấp, mọi ngành của Trung Hoa.
Trung Hoa, v́ quyền lợi quốc gia
của họ, đă không tha thiết lắm với một liên minh ư thức hệ với
Việt Nam, nhưng đă
rất bằng ḷng với thái độ của Lê Khả Phiêu. Do đó mà quan hệ
Việt-Hoa đă thân thiết hơn trước. Sự thân thiết này trở nên dễ
dàng hơn sau cái chết của Đặng Tiểu B́nh năm 1997. Do “bài học”
năm 1979 đă được không thành công như ư muốn cho nên Đặng Tiểu
B́nh vẫn c̣n cay đắng, đă không nhiệt t́nh ủng hộ việc kết thân
với Việt Nam. Ngoài ra, trong trận chiến Việt Hoa năm 1979, Cộng
Sản Việt Nam c̣n chế giễu cả đến vóc dáng của ông ta bằng câu
nói trong những buổi học tập: “Chính trị Trung Quốc không cao
hơn Đặng Tiểu B́nh”. Dù Đặng Tiểu B́nh đă chính thức về hưu năm
1989, nhưng uy tín của ông ta vẫn c̣n rất lớn. Năm 1992, khi
thấy đà đổi mới kinh tế của Trung Hoa bị kiềm hăm bởi Giang
Trạch Dân và Lư Bằng, ông đă đi một ṿng vùng Hoa Nam để dùng uy
tín cá nhân phát động một đợt đổi mới thứ hai cho Trung Hoa. Chỉ
sau khi Đặng Tiểu B́nh chết, Giang Trạch Dân và Lư Bằng mới dám
tỏ ra thân thiết hơn với Việt Nam và đă tặng cho Lê Khả Phiêu
mười sáu chữ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định
lâu dài, hướng về tương lai” được Cộng sản Việt Nam gọi là “mười
sáu chữ vàng”, làm căn bản cho quan hệ giữa hai nước.
Cái chết của Đặng Tiểu B́nh vào
ngày 19-2-1997 cũng là lúc mà Nguyễn Tấn Dũng, lúc đó là ủy viên
Ban Thường Vụ Bộ Chính Trị đang thăm viếng Trung Hoa. Dũng được
gặp Giang Trạch Dân và cả hai đều hứa sẽ phát triển thêm mối
bang giao. Tuy nhiên, điện văn phân ưu của chính phủ Việt Nam về
cái chết của Đặng Tiểu B́nh đă không được nồng nhiệt lắm, khác
hẳn với điện văn phân ưu gửi đảng Cộng Sản Ai Lao về cái chết
của Phomvihane (năm 1992).
Trước chủ trương nghiêng về Trung
Hoa của Lê Khả Phiêu, về ngoại giao, phe đổi mới trong chính phủ
đă cố gắng quân b́nh lại bằng cách trao đổi đại sứ với Hoa Kỳ và
xúc tiến việc hoàn tất thỏa hiệp thương mại song phương (BTA -
bilateral trade agreement). Năm 1997 đă là năm đầu tiên sau 1975
mà Hoa Kỳ có đại sứ ở Việt Nam và lần đầu tiên, Ngoại Trưởng Hoa
Kỳ Madelein Albright thăm viếng Hà Nội. Trong cuộc thăm viếng
này, Ngoại Trưởng Albright ca ngợi thành quả đổi mới của Việt
Nam từ năm 1986, nhưng khuyến cáo Việt Nam nên phát động một
phong trào “đổi mới đợt 2”. Có lẽ như để cảnh cáo hành động làm
thân với Hoa Kỳ của Việt Nam, ngày 7-3-97, Trung Hoa đem dàn
khoan dầu Kantan III và hai tàu thăm ḍ 206 và 208 đến vùng biển
trong vịnh Bắc Việt mà Việt Nam đă xác nhận chủ quyền. Lần này,
sau khi đơn phương phản đối không kết qủa, Việt Nam cầu cứu tới
những nước ASEAN, gián tiếp cảnh cáo họ là “Nếu Trung Hoa có thể
lấn áp Việt Nam, họ có thể làm như thế với các nước khác”.
Đồng thời, trong thời gian đó,
ngày 22-3-1997, tư lệnh những lực lượng Hoa Kỳ vùng Thái B́nh
Dương cũng viếng thăm Hà Nội. Nhờ thế, ngày 1-4-1997, Trung Hoa
loan báo sẽ kéo dàn khoan về và ngỏ ư sẽ thương thuyết với Hà
Nội. Hai tuần sau, trong một buổi họp giữa những nước ASEAN và
Trung Hoa, sau khi các nước ASEAN mạnh mẽ phát biểu những quan
tâm của họ, Trung Hoa đồng ư là sau này sẽ thảo luận về những
tranh chấp lănh hải. Dù đạt được thắng lợi ngoại giao, báo chí
Việt Nam đă không dám đá động ǵ đến những tin này, sợ làm chạm
tự ái của Trung Hoa. Trong thời gian tranh chấp này, khi Bộ
Ngoại Giao Việt Nam đang phản đối, nhiều viên chức cao cấp Việt
Nam vẫn tấp nập sang thăm Trung Hoa như Chu Văn Ry, Phó Ban Tổ
Chức Đảng, Lê Minh Hương, Bộ Trưởng Nội Vụ, Tướng Nguyễn Văn Độ,
Chủ Nhiệm Tổng Cục Tiếp Vận..., coi như không có việc ǵ xảy ra.
V́ thế, vào Tháng Tư năm sau, Trung Hoa tiếp tục lấn tới bằng
cách đặt kế hoạch thành lập một trung tâm du lịch tại đảo Đông
Hưng, ḥn đảo lớn nhất trên quần đảo Hoàng Sa, Việt Nam lại phản
đối bằng miệng nhưng vô hiệu.
Ngoài những suy thoái kinh tế, năm
1997 cũng là năm bắt đầu có những vụ án tham nhũng nổi tiếng lọt
ra ngoài ánh sáng. Đầu tiên là vụ án nhà máy dệt Nam Định, 14
cán bộ bị tù v́ gian lận khoảng 14 triệu Mỹ kim. Sau đó là
Nguyễn Trung Trực của hăng Peregrine (được Bùi Thiện Ngộ, và có
thể cả Trần Đức Lương, đỡ đầu) bị phe Vơ Văn Kiệt bắt về tội
trốn thuế. Tiếp theo đến lượt hăng Tamexco, một hăng xuất nhập
cảng của chính phủ. Giám đốc của hăng là Phạm Minh Phước đă biển
thủ của hăng trên 50 triệu Mỹ kim. Người này đă từng đánh bài ăn
thua hàng trăm ngàn Mỹ kim và tặng cho t́nh nhân những biệt thự
đắt giá. Bản án cũng ghi nhận là có lần Phước cùng 87 cán bộ và
nhân viên chính phủ cùng bay ra nước ngoài ăn chơi. Ra ṭa, Phạm
Minh Phước bị tử h́nh cùng bốn đồng bọn. Khoảng một năm sau, đến
lượt công ty Minh Phụng. Đó là một công ty tư nhân lớn, kinh
doanh về nhiều mặt, từ dệt vải tơ lụa đến buôn bán địa ốc.
Công ty này cùng công ty quốc
doanh Epco thành lập 47 công ty ma và thông đồng với một ngân
hàng nhà nước để vay tiền sau đó quịt nợ. Vụ án có 77 bị can, số
tiền thất thoát lên tới 280 triệu Mỹ kim. Tăng Minh Phụng, giám
đốc các công ty Minh Phụng và Liên Khui Thin, giám đốc công ty
Epco, cùng Phạm Nhật Hồng, phó giám đốc nhà băng Kỹ Nghệ và
Thương Mại của nhà nước, đều bị tử h́nh. Những vụ buôn lậu dính
líu đến những cơ quan nhà nước tràn lan đến nỗi Cục Trưởng Cục
Thuế Quan Phan Văn Đính cũng bị mất chức cùng với nhiều bị cáo
phải ra ṭa. Phùng Long Thất, trưởng toán điều tra thuộc ty Thuế
Quan thành phố HCM cùng với Trần Đoàn, chủ tịch công ty Tân
Trường Sinh cũng bị xử bắn về tội thông đồng buôn lậu 900 thùng
đồ điện tử và phụ tùng xe hơi. Ngoài tệ nạn tham nhũng kinh tế,
cũng trong năm 1997, một số những sĩ quan công an cao cấp như
Thượng Tá Công An Vũ Hữu Chính, Đại Uy Công An Vũ Xuân Trường
cùng 30 đồng bọn bị ở tù v́ liên quan đến việc buôn bán thuốc
phiện lậu từ Ai Lao. Đến năm 1998, đến lượt Tổng Giám Đốc Việt
Nam Hàng Không Lê Đức Từ bỏ trốn v́ biển thủ trên 2 triệu Mỹ kim.
Ngoài ra, tháng 9 năm 1996, khi 5 nhân viên cứu hỏa đến chữa
cháy một căn nhà ở Sàig̣n, năm người này đă mở một két sắt và
lấy đi 47 lạng vàng. Công an điều tra sự việc và khi 47 lạng
vàng được trả lại chủ nhân, lại ḷi ra chủ nhân này là Nguyễn Kỳ
Cẩm, chủ tịch ủy ban bài trừ tham nhũng cả nước. V́ không thể
khai 47 lạng vàng này làm sao có được, Nguyễn Kỳ Cẩm bị mất chức.
Tuy nhiên, vụ án nổi tiếng nhất là vụ án Trịnh Vĩnh B́nh.
Trịnh Vĩnh B́nh là một thương gia
người Ḥa Lan gốc Việt. Trong những năm đầu của thập niên 1990,
Trịnh Vĩnh B́nh mang khoảng 4 triệu Mỹ kim về nước làm ăn (mở
công ty Tín Thành và B́nh Châu bán đồ biển, xây khách sạn, đầu
tư địa ốc...) ở Sài g̣n và Vũng Tàu. Bị một người tên Trịnh Hiển
Thanh tố cáo, Trịnh Vĩnh B́nh bị bắt năm 1998 và bị tịch thu hết
tài sản. Sau 18 tháng bị giam, Trịnh Vĩnh B́nh ra ṭa và bị kết
án 11 năm tù (3 năm về tội vi phạm luật nhà đất, 8 năm về tội
hối lộ), bị phạt 480 lạng vàng, 6.2 tỷ đồng, ngoài ra c̣n bị
tịch thu toàn bộ gia sản. Tuy nhiên, Trịnh Vĩnh B́nh là một
người từng hoạt động chính trị tích cực ở Ḥa Lan cho nên trong
thời gian ông ta bị giam giữ, chính phủ Ḥa Lan đă phản ứng mạnh
mẽ. Dù cho Phan Văn Khải đă can thiệp, Trịnh Hiển Thanh nhận là
đă tố cáo láo và đảng ủy Vũng Tàu cũng công nhận là xử án sai,
nhưng khi Bộ Chính Trị họp, Lê Khả Phiêu, Lê Minh Hương, Trần
Đ́nh Hoan và Phạm Thế Duyệt... nhất định tiếp tục đưa Trịnh Vĩnh
B́nh ra ṭa và qui án.
Chuyện rủi ro cho đảng Cộng Sản
Việt Nam là trong khi giải Trịnh Vĩnh B́nh từ Sàig̣n ra Hà Nội,
không hiểu bằng cách nào (có thể do hối lộ hay do được một phe
cánh nào đó thả ra ), Trịnh Vĩnh B́nh đă có thể trốn thoát ở phi
trường Tân sơn Nhất và trở về Ḥa Lan. Ông ta đưa đơn kiện chính
phủ Việt Nam đă vi phạm điều 9 của thỏa hiệp song phương mà Việt
Nam đă kư với Ḥa Lan, đ̣i bồi thường 100 triệu Mỹ kim. Ṭa án
quốc tế đă nhận đơn kiện và sẽ xét xử. Theo một người thành thạo
tin đang sống trong nước, (người này dĩ nhiên phải lấy tên giả
và ông ta đă lấy tên giả là Trần Quốc Hoàn, tên của một bộ
trưởng công an nổi tiếng nhất nay đă chết), Trịnh Vĩnh B́nh bị
một trung tá công an Vũng Tàu là Ngô Chí Đan, một đàn em của
Nguyễn Khánh Toàn, Thứ Trưởng Công An, kiếm chuyện để tịch thu
tài sản. Chính Nguyễn Khánh Toàn đă thúc đẩy Trần Đ́nh Hoan bắt
và tiếp tục xử Trịnh Vĩnh B́nh về tội gián điệp. Công an đưa ra
chứng cớ là Trịnh Vĩnh B́nh đă từng gặp mặt Phan Văn Khải,
Nguyễn Trọng Minh (chủ tịch ủy ban nhân dân Vũng Tàu) để lôi kéo,
mua chuộc. Nguyễn Trọng Minh do đó mà bị mất chức, Phan Văn Khải
th́ nghe nói liên quan đến gián điệp nên không dám can thiệp
tiếp. Ngô Chí Đan sau này cũng bị mất chức v́ liên quan đến một
vụ án khác, vụ án “Phương Vicarrent” năm 2003.
Do vụ Trịnh vĩnh B́nh, những giới
chức lănh đạo Việt Nam từ Trần Đức Lương, Phan Văn Khải, Nguyễn
Văn An, Nguyễn Di Niên mỗi khi qua thăm Ḥa Lan đều bị tiếp đón
rất lạnh nhạt.
V́ tệ nạn tham nhũng trong hàng
ngũ đảng viên tràn lan, tất cả những lănh tụ của đảng đều lên
tiếng đ̣i bài trừ tham nhũng. Phan Văn Khải ra chỉ thị bắt những
viên chức chính phủ phải kê khai những tài sản trị giá trên 50
triệu đồng (khoảng hơn 4,000 Mỹ kim), nhưng lại không bắt họ
phải khai nguồn lợi đó từ đâu tới. Đào Duy Quát, Phó Ban Tư
Tưởng Văn Hóa Đảng, đ̣i tăng thêm quyền hạn cho những cơ quan
điều tra của đảng và chính phủ, c̣n Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu
phát động hai đợt bài trừ tham nhũng và cuối cùng, cả đến Phạm
Thế Duyệt, Ủy Viên Bộ Chính Trị, cũng nói là đảng chưa kiểm soát
cán bộ nghiêm nhặt lắm. Phạm Thế Duyệt cũng là người trong năm
1998 bị 11 cán bộ và bộ đội hồi hưu tố cáo lợi dụng quyền thế
khi làm bí thư thành ủy Hà Nội để chiếm đoạt đất đai nhà cửa của
nhân dân một cách trái phép.
Bản tố cáo (được gọi là “tâm thư “
gửi tới Trung Ương Đảng vào tháng 8 năm 1998 ) chỉ đích danh
Phạm Thế Duyệt chiếm những nhà của Công đoàn ở phường Trùng Tu,
nhà số 64 phố Hàng Bông Nhuộm (sát bên nhà mà bà Nông Thị Xuân
trước kia đă ở), nhà số 26 Trại Gang, nhà hai tầng gần hồ Bảy
Mẫu. Cùng bị tố với Phạm Thế Duyệt là Đinh Hạnh, ủy viên Ban
Thường Vụ Thành Uy Hà Nội, phó chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành
phố. V́ lá thư không thể phổ biến công khai, nhưng đă được sao
chép và bí mật phổ biến rộng răi. Những người viết thư đă không
ngần ngại ghi rơ tên tuổi, địa chỉ, chẳng hạn như ông Đoàn Nhân
Đạo, cán bộ 48 tuổi đảng, nhà ở 37 Hàng Buồm, bà Đặng Thị Xuân
Tiên, 51 tuổi đảng ở số 27 Nghĩa Đô, Cầu Giấy...
Tuy nhiên, Phạm Thế Duyệt nhờ được
hậu thuẫn mạnh mẽ của Đỗ Mười nên không thấy bị một biện pháp kỷ
luật nào mà c̣n tiếp tục ngồi trong Bộ Chính Trị rồi Mặt Trận Tổ
Quốc nhiều năm sau. Ngoài ra, Phạm Thế Duyệt c̣n được Bộ Chính
Trị giao trách nhiệm đả kích và bôi nhọ Tướng Trần Độ (kể cả thủ
đoạn dùng công an gài bẫy, cho người ŕnh sẵn, hẹn Trần Độ tới
một nơi rồi cho một cô gái cới quần áo đến ôm chầm lấy ông cho
công an chụp h́nh). Trần Độ cuối cùng bị Đảng tuyên bố trục xuất
khỏi Đảng vào năm 1999. Vào ngày 15-4-1998, v́ bị cán bộ tỉnh Hà
Tây hà hiếp không có chỗ kêu oan, ông Nguyễn Văn Kinh chế xăng
tự thiêu tại công trường Ba Đ́nh trước lăng Hồ Chí Minh. Ông
được cứu sống và Bộ Ngoại Giao ngày 21-4-98 đổ tội là ông bị
bệnh thần kinh.