|
Sau Bức Màn Đỏ: hậu trường chính trị Việt
Nam sau 1975
(18)
Wednesday, January 16, 2008
Hoàng Dung |
(tiếp theo)
T́nh trạng dằng dai của bộ
ba cầm quyền Đỗ Mười, Lê Đức Anh và Vơ Văn Kiệt sẽ c̣n
kéo dài nếu Lê Đức Anh không bị xuất huyết mạch máu năo
vào tháng 11, 1996. Khi Lê Đức Anh phải vào bệnh viện,
Vơ Văn Kiệt ở bên ngoài chẳng những đă không nói lời
chúc chóng lành bệnh mà c̣n tuyên bố là nếu Lê Đức Anh
phải nằm bệnh viện lâu, Trung Ương Đảng sẽ phải bầu một
chủ tịch mới v́ “một nước không thể nào không có chủ
tịch”. Cùng lúc đó, phe Vơ Văn Kiệt cũng ngầm tố cáo
những hành động sai trái của Lê Đức Anh khi ở Căm Pu
Chia và thái độ hành hạ công nhân khi làm cai đồn điền
cao su trong những năm 1940. V́ thế, cho nên dù đă lớn
tuổi và sau khi ngă bệnh bị yếu đi nửa người, Lê Đức Anh
cũng không chịu về hưu mà chờ tới tháng 9 năm 1997 mới
dàn xếp để cùng với đối thủ là Vơ Văn Kiệt từ chức cùng
một lúc, nhường chỗ cho Trần Đức Lương và Phan Văn Khải.
Dù được tiếng là người của
phe đổi mới, chính Vơ Văn Kiệt đă là người kư “Chỉ thị
về Quản chế Hành chánh” (sắc luật 31/CP) ngày 14-4-97 để
“áp dụng cho những phần tử vi phạm luật lệ, phá hoại an
ninh quốc gia, nhưng không trầm trọng lắm để có thể đưa
ra ṭa xử như một trọng tội”. Chỉ thị này nhằm hợp pháp
hóa việc bắt giữ những tiếng nói đối lập, gán cho họ vào
thành phần của “những thế lực thù nghịch phát động diễn
biến ḥa b́nh”, cho phép những cơ quan hành chánh hay
công an địa phương có quyền bắt và giam giữ bất cứ người
nào trong ṿng từ sáu tháng đến hai năm mà không cần
phải đưa ra xét xử, không cho bị cáo một cơ hội biện hộ.
Ngoài ra, do đề nghị của Lê Đức Anh và Đoàn Khuê, Vơ Văn
Kiệt đă kư sắc luật 96/CP nâng cục quân báo C2 lên thành
cấp tổng cục, khiến cho quyền hành của Tổng Cục 2 này
lớn hơn quyền hạn của công an, tăng cường hơn nữa sự
kiểm soát nhân dân. Điều 1, chương 1 của sắc lệnh này
cho phép Tổng Cục 2 có quyền hạn hoạt động trong đủ mọi
ngành như chính trị, quốc pḥng, an ninh, đối ngoại,
kinh tế, khoa học kỹ thuật, kỹ nghệ và môi trường, văn
hóa xă hội. Điều 11, chương 2 của sắc luật này ghi rơ
“Mục tiêu của những lực lượng t́nh báo quốc pḥng là thu
thập tin tức và tài liệu liên quan đến Cộng Ḥa Xă Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam. Phải đặc biệt chú trọng đến những
quốc gia, những tổ chức hay cá nhân trong nước cũng như
ngoài nước đang âm mưu hay tham gia vào những hoạt động
nhằm chống lại đảng Cộng Sản hay nước Cộng Ḥa Xă Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam”. Tổng cục này chỉ chịu trách nhiệm
với Bộ Trưởng Quốc Pḥng, Bộ Chính Trị và Chủ Tịch Nước.
V́ quyền hạn quá rộng lớn, bao gồm đủ mọi phạm vi, lại
được quyền cho người đến nằm vùng tại các cơ quan, tổng
cục này sau đó đă gây ra rất nhiều lạm dụng.
Chủ nhiệm của Tổng Cục 2
lúc đó là Vũ Chính, một người thân cận của Lê Đức Anh
khi c̣n ở quân khu IX và Căm Pu Chia. Vũ Chính lên thay
Như Văn từ năm 1995. Sau khi nhậm chức, Vũ Chính thay
hết những cán bộ cũ bằng những người thân tín. Con trai
là Đặng Vũ Dũng đi lao động từ Đông Đức về được cho làm
giám đốc công ty xây dựng Hồng Bàng của tổng cục, con
gái là Đặng Thị Mai được mang quân hàm đại úy với công
tác “cán bộ mật”, vợ là Đặng Thị Nhẫn bắt ép vợ của Như
Văn nhường lại chức giám đốc khách sạn Hoàng Đế, và vợ
của Trần Tiến Cung (tổng cục phó) cũng phải nhường lại
chức giám đốc chi nhánh miền Trung của công ty du lịch
Deti Tour. Được 5 năm, tới năm 2000 th́ Vũ Chính về hưu,
nhường chức lại cho con rể là Nguyễn Chí Vịnh, con ruột
của Nguyễn Chí Thanh, đồng thời, Đặng Vũ Dũng cũng trở
về Tổng Cục 2 và được cử làm cục phó cục 12, hoạt động
t́nh báo ở miền Nam.
Ba tháng sau ngày Vơ Văn
Kiệt và Lê Đức Anh từ chức, do những thỏa thuận từ trước
trong Trung Ương Đảng, đến lượt Đỗ Mười phải nhường chức
Tổng Bí Thư cho Lê Khả Phiêu, người đang nắm chức chủ
nhiệm Tổng Cục Chính Trị của quân đội. Có tin là trong
Hội Nghị Trung Ương Đảng họp vào cuối tháng 12, 1997, Lê
Đức Anh vẫn mưu toan đưa Lê Khả Phiêu lên Chủ Tịch Nhà
Nước để tự ḿnh nắm chức Tổng Bí Thư nhưng mưu toan này
thất bại v́ chính Đỗ Mười cũng không muốn từ chức. Nhờ
được Đỗ Mười đỡ đầu, Lê Khả Phiêu thắng được một đối thủ
mạnh mẽ là Nguyễn Văn An, đang giữ chức trưởng Ban Tổ
Chức Đảng. Thay chỗ cho Lê Khả Phiêu trong chức chủ
nhiệm Tổng Cục Chính Trị là Tướng Phạm Thanh Ngân, trước
đó là tư lệnh không quân, ít lâu sau cũng được Lê Khả
Phiêu đưa vào Bộ Chính Trị. Một năm sau, khi Đoàn Khuê
bị bệnh chết th́ Phạm Văn Trà đang là tham mưu trưởng
quân đội được cử lên nắm Bộ Quốc Pḥng. Tướng Đào Trọng
Lịch, đang là tư lệnh Quân Khu II được cử lên làm tham
mưu trưởng quân đội.
Riêng về Ban Thường Vụ Bộ
Chính Trị, sau khi bộ ba Mười, Anh, Kiệt từ chức, Lê Khả
Phiêu với tư cách Tổng Bí Thư, đă áp lực để đẩy Nguyễn
Tấn Dũng ra ngoài, thay vào đó là Phạm Thế Duyệt, và Ban
Thường Vụ mới này gồm có 5 người: Lê Khả Phiêu, Trần Đức
Lương, Phan Văn Khải, Nông Đức Mạnh và Phạm Thế Duyệt.
C̣n ở Bộ Chính Trị, bốn người thay thế Mười, Anh, Kiệt
và Nguyễn Đ́nh Tứ là Phan Diễn, bí thư thành ủy Đà Nẵng,
Nguyễn Phú Trọng, bí thư thành ủy Hà Nội và Nguyễn Minh
Triết, bí thư thành ủy thành phố HCM cùng với Phạm Thanh
Ngân, một người thân tín của Lê Khả Phiêu vừa được cử
làm chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị thay Lê Khả Phiêu. Tuy
bộ ba Mười, Anh, Kiệt đă chính thức về hưu, trở nên “cố
vấn”, nhưng Đỗ Mười và Lê Đức Anh vẫn c̣n ảnh hưởng mạnh
mẽ trong Bộ Chính Trị và ngay cả trong Ban Thường Vụ
trong suốt nhiệm kỳ của Đại Hội VIII và IX. Chỉ có Vơ
Văn Kiệt sau khi từ chức dần dần bị thất thế.
Mấy năm sau, nhân viết một
bài nhận xét về cuốn sách của Lư Quí Chung và bị Nguyễn
Khoa Điềm chỉ trích trên báo chí, Vơ Văn Kiệt viết thư
trả lời nhưng Nguyễn Khoa Điềm không cho báo chí đăng
lại, ông ta đă phải viết một thư khác phổ biến ra hải
ngoại trong đó có câu”... Đối với người như tôi mà đồng
chí c̣n không cho in bài th́ người dân có quyền ǵ nói
lên sự thật...” Trong thư này, dù là một người tương đối
cấp tiến và viết một lá thư chính thức để phổ biến công
khai, lời lẽ trong thư đối với những người cam tâm đầu
hàng vẫn có vẻ khinh miệt: “...trừ những đoạn mà đám
Nhuận, Đức, Hạnh không chịu v́ có liên quan...” (“đám”
Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức và Nguyễn Hữu Hạnh đ̣i Lư
Quí Chung bỏ đi những đoạn này có lẽ v́ đă kể lại những
hành động không đáng hănh diện của họ)
Tân Tổng Bí Thư Lê Khả
Phiêu sinh năm 1931 tại Đông Khê, Thanh Hóa, gia nhập
đảng Cộng Sản từ năm 1949. Suốt mấy chục năm trong quân
ngũ và trong đảng, Lê Khả Phiêu chỉ giữ những chức chính
ủy trong quân đội. Trong Chiến Tranh Đông Dương I trước
1954, Lê Khả Phiêu là chính ủy đại đội, trong chiến
tranh Đông Dương II, Phiêu là chính ủy trung đoàn 9/ sư
đoàn 304. Sau đó lên chính ủy sư đoàn rồi chính ủy quân
khu Trị Thiên. Trong chiến tranh Căm Pu Chia, Lê Khả
Phiêu làm chính ủy quân đoàn 2 rồi phó chính ủy quân khu
9. Trong thời gian chiếm đóng Căm Pu Chia, Lê Khả Phiêu
được thăng thiếu tướng. Sau thời gian này, nhờ được thân
cận với Lê Đức Thọ và Lê Đức Anh, Lê Khả Phiêu lại được
thăng lên trung tướng, làm chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị
và sau đó vào Bộ Chính Trị rồi lên Tổng Bí Thư. V́ chỉ
giữ những chức vụ thuần túy chính trị trong quân đội, Lê
Khả Phiêu không có được hậu thuẫn vững mạnh trong đảng
(như Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, đă từng làm nhiều chức vụ
và công tác ở nhiều nơi), hay trong quân đội (như Lê Đức
Anh, từng có nhiều quan hệ với những tư lệnh quân khu
khi làm bộ trưởng Bộ Quốc Pḥng). Do đó mà Lê Khả Phiêu
thường phải dựa vào phe bảo thủ và sau đó là dựa vào
Trung Hoa.
Sự đề cử Trần Đức Lương
lên thay Lê Đức Anh làm chủ tịch nhà nước tương đối là
một bất ngờ. Trong Bộ Chính Trị, ông ta chỉ đứng hàng
thứ 16. Trần Đức Lương sinh năm 1937 tại Quảng Ngăi,
từng tốt nghiệp đại học về địa chất và được làm giám đốc
Nha Địa Chất năm 1979. Ông ta gia nhập đảng Cộng Sản năm
1959 và được cử làm ủy viên Trung Ương Đảng năm 1991 và
vào Bộ Chính Trị năm 1996. Từ 1987 đến 1997 từng là phó
thủ tướng cho Vơ Văn Kiệt.
Việc Trần Đức Lương được
lên làm Chủ Tịch Nhà Nước cũng là một thất bại cho Đoàn
Khuê. Ông ta vẫn mong muốn được thay thế Lê Đức Anh.
Đoàn Khuê, sinh năm 1923, cựu tư lệnh quân khu V, từng
làm tham mưu trưởng quân đội năm 1987 và bộ trưởng Quốc
Pḥng năm 1991, là một người nhiều tham vọng. Trong thời
gian trước đại hội VIII, phe bảo thủ, trong đó có quân
đội và công an (gồm Đoàn Khuê, Lê Khả Phiêu, Phạm Văn
Trà, Lê Minh Hương) tương đối chiếm ưu thế trong Bộ
Chính Trị. V́ Đào Duy Tùng và Nguyễn Hà Phan không giấu
tham vọng tranh chức tổng bí thư và thủ tướng nên Đoàn
Khuê nghĩ rằng ông ta có thể nhờ hậu thuẫn công an và
quân đội để kế nhiệm địa vị chủ tịch nhà nước của Lê Đức
Anh, cho nên khi viếng thăm nước Pháp với tư cách Bộ
Trưởng Quốc Pḥng, và được Tổng Thống Chirac tiếp, Đoàn
Khuê huênh hoang nói với Chirac là sẽ tới thăm nước Pháp
lần nữa với một tư cách ngang hàng (chủ tịch nhà nước)
với Chirac. Do tác phong quan liêu, Đoàn Khuê đă không
được ḷng thuộc cấp. Ngoài ra, tuy cùng ở trong phe quân
đội và bảo thủ, Đoàn Khuê lại rất bất măn với Lê Khả
Phiêu. Lư do là Lê Khả Phiêu từng là thuộc cấp của Đoàn
Khuê khi Đoàn Khuê là Bộ Trưởng Quốc Pḥng. V́ thế, khi
Đoàn Khuê ra tranh chức chủ tịch nhà nước, phe của Phiêu
trong quân đội đă nhập vào phe Vơ Văn Kiệt mà ủng hộ
Trần Đức Lương.
Người thay thế Vơ Văn Kiệt
là Phan Văn Khải, một người đă được Vơ Văn Kiệt nâng đỡ
để sửa soạn vào chức thủ tướng. Sự đề cử Phan Văn Khải
vào chức thủ tướng đă làm yên ḷng các nhà đầu tư ngoại
quốc, cho thấy đảng Cộng sản Việt Nam vẫn muốn tiếp tục
đường lối kinh tế cởi mở cũ. Phụ tá của Phan Văn Khải có
những phó thủ tướng:
- Nguyễn Tấn Dũng đặc
trách kinh tế và nội an. Sinh ở Cà Mau, xuất thân là
lính quân y (trong lư lịch khai là đă được huấn luyện
thành bác sĩ giải phẫu). Sau khi làm chính ủy đại đội
quân y chuyển sang làm chính ủy tiểu đoàn rồi trung
đoàn, từng phục vụ ở Căm Pu Chia. Năm 1994 làm bí thư
tỉnh Kiên Giang, năm sau thăng thứ trưởng Bộ Nội Vụ.
- Nguyễn Mạnh Cầm phụ
trách đối ngoại
- Nguyễn Công Tấn: quê ở
Thái B́nh, đặc trách phát triển nông thôn. Nguyễn Công
Tấn tốt nghiệp kỹ sư canh nông tại đại học Hoa Nam năm
1958.
- Ngô Xuân Lộc đặc trách
kỹ nghệ và phát triển thành thị (sau đó cũng bị mất chức
v́ bị phe Lê Đức Anh tố cáo tham nhũng trong việc xây
cất công viên tại Hà Nội)
- Phạm Gia Khiêm, đặc
trách giáo dục, khoa học. Phạm Gia Khiêm sinh năm 1944 ở
Hà Nội, từng du học ở Nga và Tiệp Khắc. Vào đảng năm
1969, từng dạy đại học Bắc Thái, trưởng khoa Giáo Dục
Khoa Học trong Ủy Ban Kế Hoạch Nhà Nước, sau đó lên làm
phó chủ tịch ủy ban.
Các bộ trưởng chính gồm
có:
- Thương mại: Trương Đ́nh
Tuyển, từng là bí thư tỉnh Nghệ An
- Nông Nghiệp: Lê Huy Ngọ
- Giao Thông: Lê Ngọc Hoan
- Xây Dựng: Nguyễn Mạnh
Kiểm
- Văn Hóa Thông Tin:
Nguyễn Khoa Điềm, sinh quán tại Huế, tốt nghiệp Sư Phạm.
Sau 1975, là chủ tịch hội Văn Hóa B́nh Trị Thiên. Với tư
cách này, Nguyễn Khoa Điềm đă cùng Trần Hoàn kết án
Trịnh Công Sơn về tội đă gọi cuộc chiến Việt Nam là nội
chiến và tội làm bài hát thương tiếc cựu đại tá không
quân VNCH Lưu Kim Cương rồi đẩy anh đi cải tạo.
- Quốc Pḥng: Đoàn Khuê,
sau đó là Phạm Văn Trà (trước đó là tư lệnh quân khu III
quanh Hà Nội, thay Đào Đ́nh Luyện làm tham mưu trưởng
quân đội từ Tháng giêng năm 1996)
- Giáo Dục: Nguyễn Minh
Hiền
- Tài Chánh: Nguyễn Sinh
Hùng, sinh quán Nghệ An, từng du học ở Bulgary, họ hàng
với Hồ chí Minh.
- Nội Vụ: Lê Minh Hương,
sinh quán Hà Tĩnh, xuất thân từ ngành t́nh báo. Theo học
trường An Ninh, từng làm cán bộ an ninh ở liên khu tư,
rồi làm công tác gián điệp ở các ṭa đại sứ Việt Nam tại
Ấn Độ và Nhật. Sau đó thăng giám đốc Sở T́nh Báo rồi thứ
trưởng Bộ Nội Vụ.
- Tư Pháp: Nguyễn Đ́nh Lộc
- Hải Sản: Tạ Quang Ngọc:
sinh quán Nghệ An.
- Kế Hoạch Và Đầu Tư: Trần
Xuân Giá, sinh quán ở Huế, từng là phó chủ tịch ủy ban
vật giá, phó chủ tịch ủy ban Kế Hoạch Nhà Nước rồi thứ
trưởng Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư
- Khoa Học, Kỹ Thuật và
Môi Sinh: Chu Tuấn Nhă
- Y Tế: Đỗ Nguyên Phương
- Lao Động và Thương Binh
Xă Hội: Trần Đ́nh Hoan, sau đó là Nguyễn Thị Hằng
- Văn Pḥng Chính Phủ: Lại
Văn Cừ, người tỉnh Vĩnh Phú.
- Chủ Tịch Ủy Ban Bảo Vệ
và Săn Sóc Trẻ Em: Trần Thị Thanh Thanh
- Chủ Tịch Ủy Ban Kế Hoạch
Gia Đ́nh: Trần Thị Trung Chiến.
- Chủ Tịch Ủy Ban Chống
Lụt Lội và Phát Triển Sông Cửu Long: Nguyễn Cảnh Đinh
- Chủ Tịch Ủy Ban Thể
Thao: Hà Quang Dự
- Chủ Tịch Ủy Ban Sắc Tộc:
Hoàng Đức Nghi.
Tất cả những bộ trưởng,
thứ trưởng hay chủ tịch ủy ban do Phan Văn Khải đề nghị
đều được quốc hội chấp thuận, trừ Thống Đốc Ngân Hàng
Cao sĩ Kiêm, bị quốc hội loại v́ sau 8 năm làm thống
đốc, hệ thống ngân hàng vẫn c̣n quá yếu kém. Vị trí này
bị bỏ trống cho tới 6 tháng sau, Phan Văn Khải mới đề cử
Nguyễn Tấn Dũng, phó thủ tướng đặc trách kinh tế kiêm
nhiệm chức vụ thống đốc. Nguyễn Tấn Dũng tuy không có
kinh nghiệm về ngân hàng, nhưng được đề cử nhằm nâng cao
uy thế chính trị của ngành này. Công việc điều hành hàng
ngày được giao cho Lê Đức Thúy, một chuyên viên từng du
học ở Harvard trong hai năm 1991 và 1992. Cho tới hơn
một năm sau, Lê Đức Thúy mới được chính thức làm thống
đốc.
Sau đại hội VIII, năm 1997
là một năm xảy ra nhiều biến cố đối với Việt Nam. Dù cho
cơn khủng hoảng kinh tế tại các nước Á Châu như Thái
Lan, Singapore, Đại Hàn, Nhật Bản... phải nửa năm sau
mới ảnh hưởng tới Việt Nam, nhưng kinh tế Việt Nam trong
năm 1997 cũng đă có những dấu hiệu suy thoái. Ngoài cơn
băo Linda gây cảnh băo lụt tại miền Nam và miền Trung
khiến mức sản xuất lúa gạo bị giảm sút, một lư do khác
là hệ thống ngân hàng của Việt Nam chưa vững mạnh khiến
cho những công ty ngoại quốc phải ngần ngại khi đầu tư
và cuối cùng, lư do quan trọng nhất là sự lăng phí và
kém hiệu quả của những công ty quốc doanh. Từ năm 1997,
số tiền ngoại quốc đầu tư tại Việt Nam mỗi ngày một
giảm. Một số công ty ngoại quốc đă phải đóng cửa hoặc v́
lỗ lă, hoặc do những trở ngại hành chánh hay tham nhũng.
Tuy thế, những phần tử bảo
thủ vẫn muốn duy tŕ và phát triển những công ty này v́
“định hướng xă hội chủ nghĩa” là niềm hy vọng duy nhất
của họ để sẽ có một ngày, tất cả đều sẽ trở lại là kinh
tế nhà nước, tất cả sẽ chỉ c̣n là những công ty quốc
doanh. Cơn khủng hoảng kinh tế của các nước Đông Nam Á
như Thái Lan, Đại Hàn, Nhật Bản... năm 1997 khiến cho họ
nghĩ đường lối kinh tế chỉ huy là đúng đắn và càng làm
cho họ cứng rắn hơn nữa để kềm hăm đà đổi mới. Những
biện pháp đổi mới mấy năm trước đă làm đời sống người
dân tương đối thoải mái hơn trước, nhưng so với những
nước lân bang, người dân Việt Nam vẫn c̣n rất nghèo.
Theo thống kê của Ngân Hàng Thế Giới, lợi tức b́nh quân
hàng năm mỗi người dân Việt năm 1997 là 350 Mỹ kim, chỉ
ngang với Bangladesh. Trong khi đó, lợi tức hàng năm của
người dân Phi Luật Tân cao hơn gấp ba lần (1,000 Mỹ
kim), Thái Lan cao hơn gấp 7 lần ( hơn 2,000 Mỹ kim). Dù
có những biện pháp cới mở về nông nghiệp, lợi tức của
nông dân vẫn thua xa người dân thành thị. Thống kê của
Bộ Nông Nghiệp cho biết sau khi trừ hết chi phí, lợi tức
trung b́nh của nông dân là dưới 100 Mỹ kim, trong khi
lợi tức trung b́nh dân Hà Nội là 800 Mỹ kim, Sài g̣n
1,000 Mỹ kim.
Trước hoàn cảnh đời sống
khốn khó và bị chèn ép, tháng 5 năm 1997, nông dân tỉnh
Thái B́nh vùng lên biểu t́nh phản đối những cán bộ địa
phương tham nhũng, đặt ra những thuế khóa vô lư (thuế
đất, thuế thầy giáo...), trả tiền lúa gạo mà nông dân
bán ra thật rẻ so với giá thị trường, chiếm hữu đất đai
cho gia đ́nh, bạn bè, lại ép nông dân phải xung phong
lao động xă hội chủ nghĩa không công ít ra là 10 ngày
trong năm. Việc đánh thuế vô lư đến nỗi tiền thuế thu
được trong 3 năm từ 1994 đến 1997 của tỉnh Thái B́nh bội
thu hơn con số dự trù của trung ương đến 176 tỷ đồng
(khoảng 16 triệu mỹ kim). Khởi xướng và đứng đầu những
cuộc biểu t́nh phản đối ở Thái B́nh đều là những cán bộ
hoặc bộ đội về hưu, họ đă tổ chức biểu t́nh qui mô, cho
người già và trẻ em đi trước, cựu cán bộ đi sau, sau đó
mới là thanh niên. Suốt từ tháng 5 đến tháng 12, kư giả
hoặc nhân viên những tổ chức thiện nguyện ngoại quốc đều
bị cấm không được đến tỉnh Thái B́nh. Mới đầu, những
cuộc biểu t́nh c̣n ôn ḥa, nông dân chỉ mong muốn được
giảm thuế, nhưng v́ chính quyền địa phương không chịu
giải quyết nên đă trở nên bạo động. Một số nông dân và
viên chức bị tử thương, nhất là ở huyện Quỳnh Phú. Công
an và ủy ban hành chánh nhiều xă đă phải bỏ nhiệm sở
chạy trốn. Những cuộc biểu t́nh này đă diễn ra trong
nhiều tháng. Chính quyền trung ương ở Hà Nội phải đem
1,200 công an đặc biệt từ những nơi khác đến để ngăn
chận không cho phong trào chống đối lan tràn. Đồng thời,
đảng cử Phạm Thế Duyệt, một ủy viên Bộ Chính Trị người
tỉnh Thái B́nh đến dàn xếp.
Chính quyền đă phải công
nhận lầm lỗi, giải nhiệm một số viên chức địa phương,
đưa ra một vài biện pháp xoa dịu. Nhưng mặt khác, họ
cũng đă bắt một số người biểu t́nh đưa lên đài truyền
h́nh ép phải thú nhận tội lỗi là đă có hành động “chống
đối” lại đảng và nhà nước. Trong một bài báo đăng ở báo
đảng, Bí Thư Tỉnh Ủy Thái B́nh Nguyễn Xuân Lai tiếp tục
coi những người đạo Công Giáo trong tỉnh là những phần
tử khả nghi và kêu gọi đảng phải tăng cường cảnh giác.
Sau nhân dân tỉnh Thái
B́nh, đến tháng 11, 1997, đến lượt nhân dân tỉnh Đồng
Nai (Biên Ḥa cũ). Tại vùng đất của dân Công Giáo, giáo
dân biểu t́nh phản đối những cán bộ địa phương đă ngang
nhiên truất hữu đất đai nhà thờ. Tuy nhân dân tỉnh Đồng
Nai không được xếp hạng là thành phần tốt đối với chính
quyền, nhưng họ đă biểu t́nh ngay trên quốc lộ 1, ngăn
chặn con đường lưu thông huyết mạch Bắc Nam và đă chọn
thời gian biểu t́nh vào lúc có một hội nghị quốc tế gồm
những nước biết nói tiếng Pháp tổ chức ở Hà Nội để gây
tiếng vang. Như thường lệ, chính quyền phong tỏa tỉnh
Đồng Nai, cấm người ngoại quốc lai văng và trên báo chí
quốc nội, không một báo nào được phép đăng tin. Phạm Thế
Duyệt lại đóng vai tṛ dàn xếp và chính quyền lại hứa
hẹn sửa sai. Một thời gian sau, bộ trưởng phát triển
nông thôn là Nguyễn Công Tấn bị mất chức.
Hiển nhiên là những phản
kháng của nông dân đă gây chấn động trong hàng ngũ lănh
đạo. Vào tháng 8, Bộ Nông Nghiệp loan báo ban hành “mười
chính sách lớn” cho nông thôn, gồm có tu sửa, cải thiện
hệ thống đường sá, giảm thế khóa cho nông dân và thiết
lập một qui chế sở hữu đất đai rơ ràng, không cho cán bộ
lạm dụng. Ngày 21-11-1997, Thủ Tướng Phan Văn Khải trong
diễn văn đọc trước quốc hội cũng nhấn mạnh đến chương
tŕnh cải tạo nông thôn, c̣n Tổng Bí Thư Đỗ Mười trước
khi từ chức, cũng kêu gọi phải diệt trừ tham nhũng trong
hàng ngũ đảng viên.
Tuy nhiên, vấn đề diệt trừ
tham nhũng trong nội bộ đảng kể trên chỉ được thi hành
theo những ư hướng và mục tiêu chính trị. Dù báo chí đă
được Hữu Thọ, trưởng Ban Tư Tưởng Văn Hóa của Đảng cho
là “tiếng nói của đảng, của nhà nước, của những tổ chức
xă hội và là diễn đàn của nhân dân” (ngày 25-8-97),
nhưng chỉ hai tháng sau, kư giả Nguyễn Hoàng Linh, tổng
biên tập báo Doanh Nghiệp bị bắt v́ đăng bài phanh phui
những gian lận liên quan đến việc mua 4 tàu tuần cho Cục
Thuế Quan. Ṭa soạn những báo Hà Nội Mới, Tiền Phong,
Thương Mại Pháp Luật cũng bị tra xét v́ bị nghi ngờ với
cùng một tội là “tiết lộ bí mật quốc gia”. Cũng trong
tháng đó, một phóng viên hăng Reuter bị hành hung và bị
bắt về Bộ Nội Vụ tra hỏi khi anh ta chụp h́nh một toán
phụ nữ biểu t́nh ở công viên Ba Đ́nh. Tháng 12, 1997,
nhà văn Phạm Văn Viêm bị công an Việt Nam bắt cóc ở
Bulgary và mang về Hà Nội sau khi anh dịch cuốn “Chế Độ
Phát Xít” (The Fascist Regime) của Tổng Thống Zhelev, vị
tổng thống Bulgary không Cộng Sản đầu tiên của Bulgary.
Anh bị giam và lúc sau này không nghe tin tức. Những học
giả, nhà thơ, nhà văn như Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo
Cự, Hà Sĩ Phu cũng bị làm khó dễ và theo dơi. Trong thời
kỳ tiền hội nghị của những quốc gia nói tiếng Pháp tại
Hà Nội tháng 11-1997, khi Liên Đoàn Phóng Viên và Kư Giả
thảo một thông tư trong đó có đoạn lên án sự đàn áp báo
chí tại 16 trong 49 quốc gia tham dự. Tuy thông tư này
không chỉ đích danh một nước nào, nhưng Phan Bằng, chủ
tịch hội Phóng Viên Việt Nam của nhà nước đă cực lực
phản đối v́ Việt Nam coi đó là chuyện “can thiệp vào nội
bộ quốc gia”
Cuối năm 1997, do quyết
định từ Đại Hội Đảng hơn một năm trước, Đỗ Mười bị bó
buộc phải từ chức và Lê Khả Phiêu được đề cử làm Tổng bí
thư. Trong t́nh trạng tranh chấp giữa bộ ba cầm quyền
năm trước, Lê Khả Phiêu dần dần đă được lợi thế. Đối thủ
sáng giá duy nhất trong Bộ Chính Trị của Lê Khả Phiêu là
Nguyễn Văn An, trưởng Ban Tổ Chức Đảng, nhưng Lê Khả
Phiêu có nhiều điều kiện thuận lợi hơn là được ở trong
Ban Thường Vụ Bộ Chính Trị, lại là trưởng Ban Bảo Vệ
Chính Trị của Đảng. Cả đời là chính ủy, không có cơ hôi
làm giàu, đời tư Lê Khả Phiêu trong sạch hơn Nguyễn Văn
An. Ngoài ra, vụ rối loạn ở Thái B́nh khiến Trung Ương
Đảng muốn có một người lănh đạo cứng rắn.
Tuy nhiên, dù được lên làm
tổng bí thư, Lê Khả Phiêu đă không có một hậu thuẫn
chính trị vững mạnh nên đă phải đu dây giữa hai phe bảo
thủ và cấp tiến, tuy ông ta đă dựa vào phe bảo thủ nhiều
hơn. Nhưng ngay trong đảng và trong phe bảo thủ, Đỗ Mười
lại có nhiều uy tín và ảnh hưởng hơn Lê Khả Phiêu. Là
một trong ba “cố vấn”, dù đă về hưu nhưng Đỗ Mười vẫn có
quyền tham dự những buổi họp của Bộ Chính Trị và Lê Khả
Phiêu sở dĩ được lựa chọn cũng nhờ ảnh hưởng của Đỗ
Mười. V́ thế, trong bộ ba cố vấn, Đỗ Mười xem thường Lê
Khả Phiêu nhất. Trong những buổi họp của Bộ Chính Trị,
ông ta hay xen vào những cuộc thảo luận, nhiều khi lấn
át cả Lê Khả Phiêu khiến mọi người đều nhận thấy Lê Khả
Phiêu là một tổng bí thư yếu thế. Quân đội cũng không
hết ḷng ủng hộ Lê Khả Phiêu. Bản chất là một chính ủy,
Lê Khả Phiêu t́m hậu thuẫn với phe bảo thủ bằng cách đề
cao khẩu hiệu chống đế quốc và phát huy xă hội chủ
nghĩa, thể hiện qua biện pháp lấy ḷng Trung Hoa, dù cho
phải chịu khuất phục và nhượng bộ đất đai. Sau khi lên
nhận chức tổng bí thư, tháng 2 năm 1999, Lê Khả Phiêu
sang Trung Hoa và gặp đủ mặt giới lănh đạo Trung Hoa. Từ
đó, mối quan hệ Việt Hoa trở nên ngày càng thân thiết.
Trong năm 1999, nhiều phái đoàn của hai nước lần lượt
qua lại, kể cả Phạm thế Duyệt, Nguyễn tấn Dũng cho đến
những cấp thấp hơn như Hoàng Kỳ, tư lệnh quân khu III...
Ngày 26-9-1999, nhân lễ kỷ
niệm 50 năm thành lập đảng Cộng Sản Trung Hoa, 2500 cán
bộ từng sống hay du học ở Trung Hoa tập họp ở sân vận
động để chúc mừng, trong đó có Hoàng Minh Thảo. Đầu
tháng 12 năm 1999, Thủ Tướng Chu Đông Cơ của Trung Hoa
sang thăm Việt Nam, dự định sẽ tham dự buổi lễ kư kết
thỏa hiệp về biên giới trên bộ, nhưng dự thảo thỏa ước
có một số chi tiết chưa được thỏa thuận nên phải chờ đến
cuối tháng, ngày 30-12- 1999, thỏa ước mới được ngoại
trưởng hai nước là Nguyễn Mạnh Cầm và Đường Gia Truyền
kư kết. Thỏa ước này được hoàn tất là nhờ những nhượng
bộ của Lê Khả Phiêu, từng hứa hẹn với Giang Trạch Dân là
sẽ giải quyết vấn đề biên giới trên bộ xong trước năm
2000 và trên biển trước năm 2001.
(C̣n tiếp)