|
Sau Bức Màn Đỏ: hậu trường chính trị Việt Nam sau 1975
(17) Hoàng Dung
(Tiếp theo)
Sau khi đă loại Lê Khả Phiêu,
những ủy viên Trung Ương Đảng bắt đầu họp để bầu tổng bí thư vào
ngày 17-4-2001, hai ngày trước đại hội chính thức của đảng.
Trong ṿng đầu, có ba người được đề cử là Nông Đức Mạnh, Nguyễn
Văn An và Trần Đức Lương. Tuy dẫn đầu, nhưng Nông Đức Mạnh được
chưa tới 60% số phiếu, người về thứ hai là Nguyễn Văn An, trưởng
ban tổ chức đảng được 35% và Trần Đức Lương được khoảng gần 10%.
V́ tỷ số phiếu 35% của Nguyễn Văn An là một số phiếu vững chắc
của những cán bộ hoạt động trong tổ chức đảng(2), Nông Đức Mạnh
cảm thấy không an tâm, sợ rằng với tư cách trưởng ban tổ chức
đảng, Nguyễn Văn An có thể gây khó khăn hay có thể kiếm thêm
được một số hậu thuẫn để lật lại ḿnh. Ngoài ra, với ảnh hưởng
sâu rộng của bộ ba “cố vấn”, Nông Đức Mạnh sẽ có thể bị trói tay
như Lê Khả Phiêu. Do đó, mới đầu Nông Đức Mạnh đă từ chối không
nhận chức.
Sự từ chối của Nông Đức Mạnh gây
khó khăn cho ủy ban trung ương, v́ trong số những ứng viên, chỉ
có Nông Đức Mạnh là có những điều kiện thuận lợi.
Trước hết, từ trước tới nay, Nông
Đức Mạnh vẫn là người đứng ngoài những tranh chấp giữa hai phe
bảo thủ và đổi mới. Trong gần mười năm làm chủ tịch quốc hội,
quốc hội này đă chấp thuận hết những đạo luật đổi mới kinh tế
lẫn đàn áp chính trị nên đă được ḷng cả hai phe. Uy tín của
quốc hội cũng khá hơn khi quốc hội được quyền triệu tập bộ
trưởng ra điều trần công khai. V́ chức thủ tướng chắc chắn về
tay Phan Văn Khải, một người miền Nam và chức chủ tịch nhà nước
là Trần Đức Lương, người miền Trung, chức tổng bí thư phải là
người miền Bắc như Nông Đức Mạnh hay Nguyễn Văn An. Ngoài ra,
với tin đồn là con rơi của Hồ Chí Minh, cá nhân và đời tư của
Nông Đức Mạnh sẽ không bị phanh phui (khi được hỏi, Nông Đức
Mạnh đă không phủ nhận và cũng không xác nhận tin đồn này).
Sau cùng, nhờ là gốc người Tầy,
được cử lên làm một chức vụ quan trọng nhất nước sẽ chứng tỏ là
chính quyền Việt Nam không kỳ thị chủng tộc, xoa dịu bớt sự phẫn
nộ của dân thiểu số đang biểu t́nh gây rối trên vùng Tây Nguyên
và làm vừa ḷng Trung Hoa
V́ không có ai thay thế và thời
giờ quá gấp rút, chức vụ tổng bí thư phải được bầu ngay để có
thể đưa ra cho đại hội đảng “nhất trí biểu quyết chấp thuận” hai
ngày sau nên Trung Ương Đảng phải t́m biện pháp ḥa giải bằng
cách thuyết phục để ba “cố vấn” từ chức, không c̣n dính dáng ǵ
đến việc điều hành của Bộ Chính Trị, đồng thời, thuyên chuyển
Nguyễn Văn An ra khỏi ban tổ chức, sang làm chủ tịch quốc hội.
Sau khi đạt được những nhượng bộ kể trên, Nông Đức Mạnh chính
thức nhận lời làm tổng bí thư. Tuy vậy, vây cánh của Đỗ Mười và
Lê Đức Anh vẫn c̣n rất mạnh (như Phạm Văn Trà, Trần Đ́nh Hoan,
Phan Diễn, Nguyễn Khoa Điềm...). Hai người này đă ủng hộ Nông
Đức Mạnh v́ thấy Nông Đức Mạnh là người tương đối không có một
hậu thuẫn vững mạnh nào để chống lại họ.
Tân tổng bí thư của đảng Cộng Sản
Việt Nam sinh năm 1940 ở tỉnh Bắc Thái, được du học Liên Xô và
tốt nghiệp kỹ sư lâm nghiệp, sau đó về làm việc ở ty lâm nghiệp
Bắc Thái, thăng trưởng ty năm 1977, sau đó được bầu làm chủ tịch
ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Thái năm 1986. Năm năm sau, trở nên ủy
viên trẻ nhất của Bộ Chính Trị và được đề cử làm chủ tịch quốc
hội từ năm 1992. Ngoài chức tổng bí thư, Đại Hội Đảng cũng bầu ra 150 ủy viên Trung Ương Đảng, trong đó đứng đầu là một Bộ Chính Trị gồm 15 người sắp xếp theo thứ tự:
1. Nông Đức Mạnh: Tổng bí thư
2. Trần Đức Lương, kiêm nhiệm chức
chủ tịch nhà nước
3. Phan Văn Khải, kiêm nhiệm thủ
tướng
4. Nguyễn Minh Triết, bí danh Sáu
Phong, là bí thư thành ủy thành phố HCM từ 2001. Trước đó,
Nguyễn Minh Triết là bí thư tỉnh ủy B́nh Dương, đă thiết lập một
khu kỹ nghệ hỗn hợp với Singapore tương đối thành công.
5. Nguyễn Tấn Dũng, phó thủ tướng
6. Lê Minh Hương, bộ trưởng công
An
7. Nguyễn Phú Trọng, bí thư thành
ủy Hà Nội
8. Phan Diễn, bí thư thành ủy Đà
Nẵng. Hơn một năm sau, được cử làm thường vụ Ban Bí Thư, một
chức vụ quan trọng để cùng Nông Đức Mạnh điều hành hoạt động
hàng ngày của nội bộ đảng
9. Lê Hồng Anh, trưởng ban kiểm
soát Đảng, từng là bí thư tỉnh ủy Kiên Giang, trong lư lịch khai
là có bằng cử nhân luật và chính trị
10. Trương Tấn Sang trưởng ban
kinh tế Đảng, quê ở Đức Ḥa, Long An. Trương Tấn Sang cũng là
anh em vợ của Nguyễn Tấn Dũng và là anh em của Trương Mỹ Hoa,
từng là phó chủ tịch nhà nước.
11. Phạm Văn Trà, bộ trưởng Quốc
Pḥng
12. Nguyễn Văn An trưởng ban tổ
chức đảng, từng là bí thư tỉnh ủy Hà Nam, từ tháng 11, 2001 được
đổi qua làm chủ tịch quốc hội.
13. Trương Quang Được, trưởng ban
vận động của đảng, từng là bí thư thành ủy Đà Nẵng trước Phan
Diễn.
14. Trần Đ́nh Hoan, sau này làm
trưởng ban tổ chức Trung Ương Đảng (3) 15. Nguyễn Khoa Điềm, sau này rời chức bộ trưởng Thông Tin Văn Hóa để thăng làm trưởng ban thông tin văn hóa của Đảng .
Xét thành phần Bộ Chính Trị khóa
IX, số đại diện quân đội chỉ c̣n có một người là Phạm Văn Trà.
Phạm Văn Trà đă được giữ lại v́ theo phe Lê Đức Anh chống lại Lê
Khả Phiêu. Nhờ uy tín quân đội giảm sút sau vụ Lê Khả Phiêu cho
đặt máy nghe lén, phe công an mạnh hơn lên trong phe bảo thủ,
dưới quyền của Lê Minh Hương, sau đó là Lê Hồng Anh. Ở giữa
nhiệm kỳ, Lê Minh Hương chết, Lê Hồng Anh, dù không có kinh
nghiệm một ngày trong quân đội hay công an cũng được phong chức
đại tướng công an và được cử lên thay chức bộ trưởng. Ban Thường
Vụ Bộ Chính Trị năm người của khóa trước bị giải tán và Trung
Ương Đảng giành lại quyền bầu cử Ban Bí Thư. Nhờ vậy, Lê Văn
Dũng tuy đă bị khiển trách v́ đă để cho tổng cục 2 đặt máy nghe
lén nhưng cũng được chọn vào Ban Bí Thư này (xếp hàng thứ 6
trong 9 người). Số ủy viên Trung Ương Đảng cũng được giảm xuống
từ 170 c̣n 150, trong đó 87 là ủy viên cũ, 63 là người mới. Số
ủy viên Bộ Chính Trị từ 18 xuống c̣n 15 người, 7 người trong Bộ
Chính Trị cũ bị mất chức, trong đó có Lê Khả Phiêu, Phạm Thanh
Ngân, Phạm Thế Duyệt, Nguyễn Đức B́nh, Nguyễn Thị Xuân Mỹ.
Nguyễn Thị Xuân Mỹ là ủy viên Bộ Chính Trị phái nữ đầu tiên và
duy nhất, được giao phụ trách ban kiểm soát của đảng, bị mất
chức v́ đă không chận đứng được tham nhũng và hối lộ (4).
Do tinh thần bè phái của Lê Khả
Phiêu (nâng đỡ người cùng tỉnh, xây dựng những công thự, cầu
cống không cần thiết ở Thanh Hóa...) đă gây bất măn, nên Tư Lệnh
Quân Khu 4 cũng như tỉnh ủy tỉnh Thanh Hóa đă không được bầu vào
Trung Ương Đảng. Người thân cận của Lê Khả Phiêu trong Bộ Chính
Trị là Phạm Thanh Ngân cũng bị mất chức ủy viên và mất luôn chức
chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị Quân Đội. Hai ủy viên Bộ Chính Trị
mới là Trần Đ́nh Hoan và Nguyễn Khoa Điềm được bầu là do hậu
thuẫn c̣n mạnh mẽ của Đỗ Mười và Lê Đức Anh, sau đó, hai người
này c̣n giúp cho Trần Đ́nh Hoan lên thay Nguyễn Văn An làm
trưởng ban tổ chức đảng, một chức vụ quan trọng trong việc sắp
xếp nhân sự. Trong khi đó, Phạm Văn Trà và Lê Văn Dũng c̣n tại
vị là nhờ sự vận động tích cực của Lê đức Anh. Cùng với Lê Hồng
Anh, Nguyễn Phú Trọng và Lê Minh Hương, Trần Đ́nh Hoan và Nguyễn
Khoa Điềm tạo nên một khối bảo thủ vững chắc trong Bộ Chính Trị.
Ngoài ra, dù đă từ chức cố vấn, Đỗ Mười và Lê Đức Anh vẫn tham
dự nhiều buổi họp của Trung Ương Đảng và vẫn c̣n có thế lực rất
mạnh.
(C̣n tiếp) |