Sau Bức Màn Đỏ: hậu trường chính trị Việt Nam sau 1975 (15)
Twesday, January 08, 2008

Hoàng Dung

 

(Tiếp theo)

Vào ngày 6 tháng 2, 2001, tại tỉnh Đạc Lắc (Ban Mê Thuột) và Gia Lai (Pleiku), một biến động lớn đă xảy ra (13). Khoảng năm ngàn đồng bào thuộc nhiều sắc dân thiểu số Ê Đê, Gia Rai,... nổi lên biểu t́nh phản đối chính quyền đă dung dưỡng và hợp tác với người Kinh liên tiếp chiếm đoạt đất đai của họ để lập đồn điền trồng cà phê, đồng thời cũng ngăn cản họ được không cho theo đạo Tin Lành. Họ cũng đ̣i được tự trị về chính trị. V́ cà phê là một nguồn xuất cảng quan trọng (mấy năm gần đây Việt Nam đă xuất cảng cà phê chỉ thua có Colombia), dân người Kinh và ngay cả những “khu kinh tế quốc doanh” của quân đội cũng đă từ từ lấn chiếm và khai phá đất đai của dân thiểu số địa phương.

Theo báo Quân Đội Nhân Dân ngày 27-2-2001, một “khu kinh tế quốc pḥng” do binh đoàn 16 phụ trách đă được thành lập tại tỉnh Dak Lak từ năm 1999. Khu kinh tế này chiếm tất cả 584,032 mẫu rừng, được khai hoang để trồng cao su, bông vải, hạt tiêu, cà phê. Do việc khai hoang và định cư dân từ những vùng khác cùng với sự tham nhũng của những viên chức hành chánh bắt ép dân địa phương, những bất măn đă bùng nổ thành biểu t́nh bạo động, nhất là khi có tin chính phủ trung ương dự định sẽ xây đập thủy điện ở Sơn La và sẽ phải dời khoảng 100 ngàn người (gốc người Thái) đi nơi khác và nơi khác đó chắc chắn là vùng Tây Nguyên. Để đối phó với những cuộc biểu t́nh, chính quyền địa phương phong tỏa toàn tỉnh, cấm phóng viên ngoại quốc đến lấy tin, kiểm soát đường dây điện thoại, sau đó họ huy động công an, quân đội, xe xịt nước để đàn áp, nhưng các cuộc biểu t́nh vẫn tiếp tục nhiều ngày tại những địa điểm khác nhau.

Khác với những cuộc biểu t́nh của nhân dân tỉnh Thái B́nh mấy năm trước chỉ phản đối về thuế khóa và những viên chức tham nhũng, cuộc biểu t́nh này liên quan đến những vấn đề lớn lao hơn như luật lệ về sở hữu đất đai, về t́nh trạng những sắc dân thiểu số, về tự do tôn giáo và tự trị chính trị. Từ nhiều năm, do văn hóa và nếp sống khác nhau, những sắc dân thiểu số tại vùng Tây Nguyên đă khó ḥa đồng vào nếp sống của người Việt. Từ sau 1955, những chính quyền liên tiếp ở Nam Việt Nam đă tương đối để cho họ tự trị và đưa ra nhiều biện pháp nâng đỡ. Tuy thế trong năm 1964, đă có một phong trào nổi loạn của phong trào FULRO ( Front Unifié de Lutte des Races Opprimées - Mặt Trận Đoàn Kết Những Chủng Tộc Bị Áp Bức) nổi lên trong vùng Ban Mê Thuột. Cuộc nổi lọan này bị dập tắt nhanh chóng, những người cầm đầu chạy qua Căm Pu Chia. Sau năm 1975, do kinh tế Việt Nam tồi tệ, đời sống của những người dân thiểu số lại càng khốn khó hơn. Ngoài những khó khăn về vật chất, chính quyền c̣n t́m cách bóp nghẹt quyền tự do tín ngưỡng của họ, nhất là những người theo đạo Công Giáo hay Tin Lành. V́ thế, sau nhiều năm bị chèn ép, họ đă nổi lên biểu t́nh phản đối.

Trước những cuộc biểu t́nh của dân chúng Tây Nguyên, Bộ Chính Trị của Đảng phải họp phiên họp bất thường vào ngày 10-02-2001 để t́m cách đối phó. Trước hết, chính quyền trung ương ra lệnh bắt một số những viên chức hành chánh tỉnh Đắc Lắc phải xuống ở luôn trong các buôn ấp sinh hoạt với dân chúng và giải quyết nhanh chóng những tranh chấp khiếu nại. Các phái đoàn của Đảng và chính phủ lần lượt đến tận nơi tra xét. Đầu tiên là Nguyễn Tấn Dũng đến cao nguyên vào tháng 2/2002, sau đó là Phạm Thế Duyệt, Phan Văn Khải trong tháng 3, cuối cùng là Lê Minh Hương (bộ trưởng công an) đến vào tháng 7 và cuối cùng là Nông Đức Mạnh đến vào tháng 9. Những biện pháp lấy ḷng dân được hứa hẹn, chẳng hạn lập nhà máy điện, mở bệnh viện, trường học, lấy đất công cấp phát cho dân nghèo.

Công tác tuyên truyền cũng được đẩy mạnh, chương tŕnh phát thanh và truyền h́nh của các sắc tộc khác nhau (Ê Đê, Jarai, Koho, Mnong và Sedang) được tăng thêm thời gian. Học sinh sinh viên sắc tộc được tăng trợ cấp và quần áo. Những sách báo tuyên truyền ca tụng chính sách về sắc tộc của đảng được in và phân phát, h́nh Hồ Chí Minh được phát không. Sau đó, một số đất đai bị chiếm lănh được trao trả bớt lại. Tại Dak Lak, trả lại 165 ngàn mẫu, tại Lâm Đồng 66 ngàn mẫu. Song song với những biện pháp xoa dịu, chính quyền đổ thừa những vụ biểu t́nh là nằm trong “âm mưu diễn biến ḥa b́nh của những thế lực thù nghịch” và bắt giữ những người bị nghi là chủ mưu. Chính quyền tuyên bố đă bắt giữ khoảng 20 người và gán những người này là thuộc về lực lượng FULRO từng làm loạn đ̣i tự trị tại Nam Việt Nam bốn mươi năm trước. Họ tố cáo người cầm đầu là Ksor Kok, hiện định cư tại Hoa Kỳ, mưu định thành lập quốc gia Degar trên vùng Tây Nguyên.

Khoảng một ngàn người, phần lớn là đàn bà và trẻ em bỏ trốn sang Căm Pu Chia, nhưng chỉ một số nhỏ được đi định cư tại những quốc gia khác. Số c̣n lại bị chính phủ Căm Pu Chia đẩy trở về Việt Nam. Tuy đă có những biện pháp xoa dịu và đàn áp, những bất măn của những sắc dân thiểu số ở Tây Nguyên vẫn c̣n âm ỉ. Bị áp lực dư luận của Mỹ, Đại Sứ Peterson đă lên vùng Tây Nguyên quan sát vào tháng 7 năm 2001, nhưng khi trở về, ông đă than phiền là không được trực tiếp tiếp xúc với dân chúng. Chính quyền Hà Nội cũng mời Hội Đồng Về Tự Do Tôn Giáo của Hoa Kỳ cử một phái đoàn đến Việt Nam quan sát vào tháng 2 năm 2002. Tuy nhiên, phái đoàn đă không được gặp những Thượng Tọa Thích Huyền Quang, Thích Quảng Độ, Linh Mục Nguyễn Văn Lư hay ông Lê Quang Liêm của Phật Giáo Ḥa Hảo. Hà Nội đă phản ứng dữ dội khi hai tháng sau, Human Rights Watch đưa ra một bản báo cáo dày 200 trang nhan đề “Đàn Áp Những Người Miền Núi” lên án chính quyền Cộng Sản Việt Nam. Trước đó, ngày 6-9-01, Hạ Viện Hoa Kỳ biểu quyết đạo luật HR 2833 xác nhận không có tự do tôn giáo ở Việt Nam, nhưng đạo luật này đă bị Thượng Nghị Sĩ Kerry kiềm giữ không cho đưa ra Thượng Viện biểu quyết. Ba năm sau, chính quyền Việt Nam vẫn c̣n loan báo những xáo động lẻ tẻ vào những ngày lễ Easter hay Giáng Sinh năm 2004.

Lợi dụng biến cố Tây Nguyên, trước ngày Hội Nghị Trung Ương Đảng lần thứ 12 họp lần chót trước đại hội đảng để quyết định cải tổ nhân sự, Lê Khả Phiêu đă thuyết phục được đa số ủy viên Bộ Chính Trị là trong lúc t́nh h́nh đang biến động, không nên thay đổi lănh đạo. Tuy nhiên, khi Hội Nghị Trung Ương Đảng họp, ư kiến này bị bác bỏ. Ngoài ra, v́ bị Đỗ Mười và Lê Đức Anh kiềm chế, Lê Khả Phiêu đă mưu toan dùng Tổng Cục 2, cơ quan t́nh báo của quân đội đặt máy nghe lén máy điện thoại của những ủy viên Bộ Chính Trị khác (vụ nghe lén này được gọi ám số là A10) để theo dơi hành động và những mưu định của họ.

Vụ này bị Lê Văn Dũng và Phạm Văn Trà báo cho Đỗ Mười và Lê Đức Anh. V́ thế, cả hai đă được che chở, chỉ bị khiển trách trong hội nghị. Phạm Văn Trà sau Đại Hội IX vẫn được giữ làm Bộ Trưởng Quốc Pḥng và ở lại Bộ Chính Trị tuy bị sụt thấp xuống 2 hạng, c̣n Lê Văn Dũng tuy cũng bị khiển trách v́ vụ Lư Tống và bị mất chức tham mưu trưởng quân đội, nhưng vẫn được chuyển qua làm chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị và được vào Ban Bí Thư. Phùng Quang Thanh, đang là Tư Lệnh Quân Khu I được cử thay Lê Văn Dũng trong chức Tham Mưu Trưởng Quân Đội. Ngoài Phạm Văn Trà và Lê Văn Dũng, ba đảng viên cao cấp khác cũng bị khiển trách và sau đó mất chức là Đoàn Văn Kiên, Hoàng Đức Nghi và Hà Quang Dự. Đoàn Văn Kiên là tổng giám đốc tổng công ty than đá Vinacoal, v́ quản lư sai lầm đă khiến than sản xuất ra không ai mua bị ứ đọng 4 triệu tấn phải bán phá giá và khiến cho một số lớn nhân công phải nghỉ việc. Hoàng Đức Nghi, chủ tịch Ủy Ban Sắc Tộc, v́ đă để xảy ra biến cố Tây Nguyên và Hà Quang Dự, chủ tịch ủy ban thể dục thể thao, v́ có quá nhiều gian lận trong những cuộc tranh giải thể thao. Lê Khả Phiêu bị khiển trách và phê b́nh về việc nghe lén và mất chức tổng bí thư.

Đại Hội Đảng Lần Thứ Tám của đảng Cộng Sản Việt Nam họp vào giữa năm 1996 là lúc mà sự tranh chấp quyền lực giữa bộ ba Mười, Anh, Kiệt cầm quyền đang trở nên gay gắt. Sự tranh chấp này chỉ có thể giải quyết được vào hơn một năm sau, nhưng v́ những người thay thế như Phiêu, Lương, Khải đều yếu thế cho nên vai tṛ chính trị cũng như ảnh hưởng của bộ ba kể trên vẫn c̣n tồn tại cho tới hết nhiệm kỳ năm năm của đại hội. Trong thời gian đó, Lê Khả Phiêu đă được đưa lên cầm quyền như một biện pháp ḥa giải. V́ kém khả năng, không có một hậu thuẫn vững mạnh trong Đảng và lại phải cầm quyền trong một thời gian mà t́nh h́nh quốc tế và quốc nội gặp nhiều khó khăn cho nên Lê Khả Phiêu đă không có được một biện pháp lănh đạo mạnh mẽ nào để có thể cải thiện t́nh h́nh trong mọi phương diện: kinh tế, nội an hay bài trừ tham nhũng... Tệ hại hơn nữa, căn bản là một chính trị viên, trong sự chọn lựa giữa ư thức hệ xă hội chủ nghĩa và quyền lợi quốc gia, Lê Khả Phiêu đă nghiêng nhiều về ư thức hệ và đă nhượng bộ Trung Hoa quá nhiều, nhất là về lănh thổ và lănh hải, với hy vọng lấy ḷng được những phần tử bảo thủ (phần lớn do Đỗ Mười và Lê Đức Anh chi phối) hầu giữ nguyên được quyền vị. Do t́nh trạng kinh tế sa sút, tệ nạn tham nhũng trong đảng và chính quyền gia tăng, sự bộc phát những bất măn của nhân dân ở Thái B́nh, Đồng Nai, Tây Nguyên cùng với sự thao túng của Đỗ Mười và Lê Đức Anh,... Lê Khả Phiêu đă bị loại ra khỏi phạm vi quyền lực sau khi mới làm Tổng Bí Thư được hơn nửa nhiệm kỳ.

Chú thích:

1. Dù Nguyễn Văn Linh được coi như người bắt đầu phong trào Đổi Mới ở Việt Nam, nhưng về sau, ông ta rất sợ bị gọi là Gorbachev Việt Nam. Ông ta từng gọi Gorbachev là kẻ “cơ hội”. Những cán bộ cốt cán của Cộng Sản Việt Nam khác cũng rất thù ghét cả Gorbachev lẫn Yeltsin, hai người đă phá sập cái thiên đường của họ. Nhà xuất bản Công An Nhân Dân đă cho xuất bản cuốn sách “Sự Phản Bội Của Gooc Ba Trốp” qui lỗi cho Gorbachev về sự sụp đổ của khối Cộng.

3. Việc mất chức của Nguyễn Hà Phan, tài liệu mật của đảng Cộng Sản Việt Nam ghi rằng: “Trong cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, khi đồng chí Nguyễn Hà Phan bị bắt và giam cầm, đồng chí đă không giữ được danh dự của người Cộng Sản và đă tiết lộ cho địch những cơ sở nằm vùng. Sau khi được tha năm 1964, đồng chí không báo cáo những sai lầm với Đảng. Những lỗi lầm của đồng chí Nguyễn Hà Phan rất nghiêm trọng. Trung Ương đảng quyết định xử lư kỷ luật với đồng chí Nguyễn Hà Phan và trục xuất ra khỏi Đảng” (trích Robert Templer trong Shadows and Wind). Lỗi lầm của Nguyễn Hà Phan cũng như quyết định mật đó của Trung Ương Đảng chắc chắn do phe Vơ Văn Kiệt tiết lộ.

4. Lư Quư Chung trước khi chết đă viết cuốn “Nhật Kư Không Tên”. Người viết không biết nhiều về cá nhân ông, nhưng qua hành động, ông điển h́nh là một người “cách mạng 30”. Dĩ nhiên là ông đă từng đối lập với chính phủ Cộng Ḥa, nhưng chính phủ đó vẫn nương nhẹ ông, để cho ông viết báo chỉ trích chánh phủ, kiếm tiền, làm dân biểu, đi ngoại quốc. Bạn bè ông, người thân của ông đi tù, trong nhật kư của ông, ông không viết một lời thông cảm. Nhật kư chỉ ghi lại những hậm hực v́ không được trọng dụng. Một chuyện khác, trong khi cả những cán bộ Cộng Sản cao cấp cũng công nhận lỗi lầm về việc cải tạo công thương nghiệp sau 1975 th́ trong nhật kư của ông, điều duy nhất mà ông ấm ức là chính quyền đă tịch thu nhà của cha ông, khi ông “tại ṭa báo và thời điểm đó, tôi tuyên truyền cho các cuộc cải tạo tư sản mại bản, công thương nghiệp, tư sản tư doanh “.Bỏ rơi những người quốc gia, nhưng những người Cộng Sản chính thống cũng không coi ông ra ǵ, ông là điển h́nh của giai cấp lưng chừng, “phi cầm phi thú” theo như nhà văn Hoàng Hải Thủy.

5. Vụ đàn áp nhân dân Thái B́nh: www.hrw.org/reports/1997/vietnam

6. Kaysone Phomvihane: sinh năm 1920, cha là người Việt (tên Nguyễn trí Loan ?), là người thực sự chỉ huy đảng Cộng Sản Ai Lao đằng sau Souphanouvong. Làm tổng bí thư kiêm thủ tướng từ 1975 đến 1991 th́ từ chức, lên làm chủ tịch nước. Chết năm 1992, được Việt Nam bỏ tiền ra làm một viện bảo tàng kỷ niệm Phomvihane rất lớn. Mấy năm gần đây, v́ Trung Hoa muốn tranh giành ảnh hưởng với Việt Nam tại Lào, cho nên năm 2006, họ làm một cái tượng của Phomvihane cao 8.5m để đặt trước nhà bảo tàng này (xin đọc: Ai Lao: đất và người, của Hàn Lệ Nhân, website Vietnamexodus).

7. Vụ án của Trịnh Vĩnh B́nh và Phương Vicarrent, xin đọc bài của Trần Quốc Hoàn (bút hiệu) và bài của kư giả Trọng Kim (báo Ngày Nay) trên website Đàn Chim Việt. Người viết Trần Quốc Hoàn, có lẽ là một nhân viên trong Bộ Công An nên cũng đă rất rơ về Nguyễn Khánh Toàn. Nguyễn Khánh Toàn là nhân vật số 2 trong Bộ Công An, vào năm 2007 c̣n bị tai tiếng về gian lận nhà đất. Ông Hoàn c̣n biết rơ vợ Nguyễn Khánh Toàn là Phạm Gia Liên có hùn hạp làm ăn với Ngô Chí Đan.

8. Theo Sheri Prasso (http://sheridanprasso.com/viet.trade.htm), người ra lệnh cho Phan Văn Khải không kư BTA là Đỗ Mười dù cho lúc đó Đỗ Mười không c̣n là tổng bí thư, cũng không phải là ủy viên Bộ Chính Trị mà chỉ là “cố vấn”. Mấy năm sau, trong một Hội Nghị Trung Ương Đảng, nhiều ủy viên trung ương đă chỉ trích gay gắt Đỗ Mười là làm trái nguyên tắc, nhưng lúc này Đỗ Mười cũng đă không c̣n là cố vấn.

9. Chuyến đi của Phạm Thế Duyệt sang Trung Hoa năm 1999, ngoài việc tham khảo ư kiến về thỏa ước BTA, c̣n để học hỏi thêm về việc phát triển Mác xít khi thực hành kinh tế tư bản. Để biện luận điều này, ủy viên Bộ Chính Trị Trung Hoa Li Ruihuan nói rằng “chủ nghĩa Mác không gạt bỏ mà c̣n hấp thụ tất cả những thành tựu của văn minh loài người”

10. Trong lễ kư kết thỏa ước, Phan Văn Khải đến tham dự, nhưng Chu Đông Cơ không đến, mà chỉ cử Hoàng Nghị (Wang Yi), trưởng phái đoàn thương thuyết của Trung Hoa, tương đương với cấp thứ trưởng thay mặt mà thôi.

11. Việc xé lẻ ASEAN của Trung Hoa được Trần Quang Cơ gọi là để tránh cảnh “quần lang đả hổ”.

12. Cuộc đời Lư Tống là một cuộc đời bất khuất nhưng cũng ly kỳ không kém những nhân vật của Jack London và đă được kể lại trong báo Reader's Digest. Ông măn hạn tù (lần thứ ba) ở Thái Lan năm 2007, chính quyền Cộng sản Việt Nam đ̣i dẫn độ ông về Việt Nam. Mới đầu, ṭa sơ thẩm đồng ư nhưng ngày 3-4-2007, ṭa phúc thẩm đă bác bỏ chuyện này v́ hành động của Lư Tống đối với Việt Nam có tính cách chính trị và luật Thái Lan không cho phép dẫn độ tù chính trị. Ông trở về Hoa Kỳ vào tháng 4, 2007. Tổng cộng ông đă ở tù 21 năm. Trong lần đầu tiên vượt ngục từ Việt Nam tới Singapore, ông được chuyển qua trại Galant để cứu xét định cư, có một hội đoàn gửi tặng ông 500 Mỹ kim, ông đă không dùng và bỏ hết vào quĩ giáo dục trẻ em tị nạn trên đảo.

13: Vụ xáo trộn Tây Nguyên: Thunder from the Highlands của Margot Cohen trong Tập san Far Eastern Economic Review số tháng 3, 2001