Sau Bức Màn Đỏ: hậu trường chính trị Việt Nam sau 1975 (8)
Monday, December 24, 2007

Hoàng Dung

(Tiếp theo)

LTS.- Tác phẩm “Sau Bức Màn Đỏ, hậu trường chính trị tại Việt Nam năm 1975” ra đời vào đúng lúc xảy ra vụ Hoàng Sa và Trường Sa. Trong tác phẩm, những thâm cung bí sử được tác giả đào bới trong kho tài liệu mà ông đă công phu sưu tập, cho thấy mối liên hệ không lành mạnh giữa Việt Nam Cộng Sản và Trung Cộng. Chúng đă trở thành bản cáo trạng đối với chế độ hiện tại ở Việt Nam trước việc họ im lặng trước hành động ngang ngược xâm lấn đất đai và lănh hải Việt Nam của Trung Cộng. Chúng tôi tiếp tục trích thuật những đoạn quan trọng nhất trong tác phẩm này, kể cả chú thích mà chúng tôi nghĩ cũng rất quan trọng để làm sáng tỏ những dữ kiện được đề cập.

V́ đảng Cộng Sản Việt Nam đă bỏ cơ chế thời Brezhnev cũ là các chức Chủ Tịch Hội Đồng Nhà Nước và Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng mà thay bằng các chức Chủ Tịch Nhà Nước và Thủ Tướng với quyền hạn rộng lớn hơn, ban lănh đạo của Việt Nam được coi như một tam đầu chế của Mười, Anh, Kiệt. Mỗi người có những hậu thuẫn khác nhau, những trách vụ khác nhau. Đỗ Mười với tư cách Tổng Bí Thư Đảng được coi là người có nhiều quyền lực nhất. Người thứ hai là Lê Đức Anh, tương đối có khuynh hướng bảo thủ nhất, nắm được hậu thuẫn của công an và quân đội. Nhờ kiêm nhiệm luôn chức Chủ Tịch Hội Đồng Quốc Pḥng, Lê Đức Anh có ảnh hưởng mạnh mẽ đối với quốc pḥng, nội trị và đối ngoại, nhất là đối với Trung Hoa.

Do tư thế đó, vào giữa năm 1994, Lê Đức Anh đưa được Lê Khả Phiêu, chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị Quân Đội vào Bộ Chính Trị trong khi thượng cấp của Lê Khả Phiêu là Đào Đ́nh Luyện, Tham Mưu Trưởng Quân Đội lại không được vào. Đào Đ́nh Luyện, một người nghiêng về đổi mới, sau đó cũng bị Lê Đức Anh cùng Đào Duy Tùng loại khỏi chức vụ. Cùng bị loại với Đào Đ́nh Luyện là một số tư lệnh quân khu. Kể từ đó, Lê Đức Anh trở nên một Chủ Tịch Nhà Nước có thế lực mạnh nhất sau khi Hồ Chí Minh chết và thế lực này đă kéo dài nhiều năm sau.

Tuy chỉ đứng hàng thứ ba và đứng đầu phe đổi mới, một phe chiếm thiểu số trong Bộ Chính Trị, nhưng Vơ Văn Kiệt cũng có một tư thế mạnh mẽ v́ nhờ những biện pháp kinh tế của ông, kinh tế Việt Nam đă bắt đầu tăng trưởng. Ngoài ra ông lại là người miền Nam trong khi Đỗ Mười người miền Bắc và Lê Đức Anh miền Trung. Ngoài hậu thuẫn của các tỉnh ủy viên miền Nam và các viên chức cao cấp của chính phủ, Vơ Văn Kiệt c̣n được uy tín với những nhà đầu tư ngoại quốc. V́ thế, ông ta được tương đối tự do khi thi hành những biện pháp kinh tế cởi mở. Trong khi đó, Đỗ Mười có nhiều ảnh hưởng trong nội bộ Đảng. Tuy căn bản là một người bảo thủ, nhưng v́ quyền lợi riêng và để giữ tư thế Tổng Bí Thư, đă không phải luôn luôn ủng hộ Lê Đức Anh. Ba phe này trong suốt những năm từ 1991 đến 1994 bề ngoài đă không có những dấu hiệu chia rẽ hay chỉ trích nhau.

Phe bảo thủ không thể không biết đến những thành quả kinh tế phát triển và đó là một yếu tố quan trọng giúp cho chế độ độc đảng của họ có thể tiếp tục tồn tại. Hơn nữa, ngay cả phe quân đội cũng hưởng lợi khi họ cũng có những tổ hợp rất lớn như những công ty xây dựng, cơ khí, hóa chất, hàng không, thông tin, điện tử... để kinh tài nên đă không mạnh mẽ phản đối cởi mở kinh tế. Nhờ t́nh h́nh kinh tế trong vùng đang thịnh vượng và Việt Nam là một vùng thị trường tương đối chưa được khai thác, trong mấy năm đầu của thập niên 1990, kinh tế Việt Nam mỗi năm tăng khoảng 8%. Kinh tế càng khá hơn, phe đổi mới càng cảm thấy tự tin, càng được rảnh tay nên họ cũng không muốn đụng chạm ǵ với phe thủ cựu. T́nh trạng chịu đựng nhau để hợp tác này của hai phe đă kéo dài được khoảng 3 năm, cho tới năm 1995, khi đảng Cộng Sản dự trù họp Đại Hội Đảng Lần Thứ VIII vào cuối tháng 6, 1996, th́ cả hai phe bắt đầu huy động lực lượng để tranh giành quyền lực một cách quyết liệt hơn.

Chú thích:

1. Trích thư của Vơ Nguyên Giáp gửi Trung Ương Đảng năm 1991.

2. Về Đặng Đ́nh Loan, theo cựu Đại Tá Nhà Báo Nguyễn Trần Thiết, Loan đă bỏ Đảng 20 năm. Nhờ thế lực của Lê Đức Anh, được phục hồi đảng tịch và khuyến dụ được Thành Ủy Huế mời nói chuyện ngày 20-11-96 tại khách sạn Thắng Lợi. Trong buổi nói chuyện, Loan nói người chỉ huy Điện Biên Phủ là Nguyễn Chí Thanh chứ không phải Vơ Nguyên Giáp. Ngoài ra Loan c̣n tố Giáp thân Liên Xô, và là nguyên nhân của những thiệt hại trong trận Mậu Thân. Người cho phép Loan nói chuyện là Tỉnh Ủy Thừa Thiên tên Vũ Thắng, sau đó mất chức.

3. Ông Nguyễn Xuân Oánh hồi nhỏ được phong trào Đông Du đưa qua học ở Nhật Bản, sau đó qua Hoa Kỳ tốt nghiệp Đại Học Harvard, trở về miền Nam làm phó thủ tướng đặc trách kinh tế một thời gian. Nhờ vợ là Thẩm Thúy Hằng, trước đây là một minh tinh màn bạc ở miền Nam, có liên hệ họ hàng với Vơ Văn Kiệt nên ông được Vơ Văn Kiệt lănh ra khỏi tù và cử làm Trưởng Ban Cố Vấn Kinh Tế trong thời gian Vơ Văn Kiệt làm Bí Thư Thành Ủy hồi năm 1981 (hồi kư của Giáo Sư Nguyễn Như Cương). Nhờ sự cố vấn của ông, kinh tế của thành phố HCM đă vượt qua được những khó khăn do hậu quả của cuộc cải tạo công thương nghiệp. Mấy năm sau, ông lập một hăng cố vấn thương mại và tài chánh (NX Oanh Associates) ở Sài G̣n. Một trong những người hùn hạp với ông là Colby, cựu giám đốc CIA (tài liệu trong cuốn Dragon Ascendent). Trong hồi kư, ông Nguyễn như Cương đă viết về Nguyễn Xuân Oánh với sự quí trọng.

4. Ngô Bá Thành, tên thật Phạm Thanh Vân, con của thú y sĩ Phạm Văn Huyến, được Tạ Bá Ṭng móc nối. Sau khi bị Tổng Thống Diệm đẩy ra Bắc, ông Huyến sống chật vật trong bóng tối. Ngay sau 1975, ông mới được kêu ra và cho biết bà Thành, con ông sẽ được cho làm Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân thành phố HCM. Nhưng chẳng may cho bà Thành (và ông Huyến), chuyện này không xảy ra.

5. Về kẻ địch “diễn biến ḥa b́nh” của báo Quân Đội Nhân Dân: Có lần, báo QĐND đă lên tiếng cảnh giác những “Tây ba lô” (du khách Pháp nghèo nhiều khi sống lưu lạc trên đường phố) có thể là kẻ địch. Lần khác, báo tố cáo những nhà đầu tư đến họp hội nghị hay hội thảo có thể là những nhân viên đế quốc đến điều tra, do thám để phục vụ trong những âm mưu diễn biến ḥa b́nh. (Robert Templer trong Shadows and Wind). Kể từ 1991, dù Trung Hoa vẫn hiển nhiên là mối đe dọa chính cho an ninh lănh thổ, hai tờ báo chính thức là Nhân Dân và Quân Đội Nhân Dân tuyệt không có bài vở hay tin tức nào có thể làm mất ḷng Trung Hoa.

6. Theo Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Giang, đài truyền h́nh có chiếu lại cảnh Đỗ Mười sang gặp Giang Trạch Dân ở Bắc Kinh. Lúc đó, Đỗ Mười đă muốn chứng tỏ sự kính ái của ḿnh với những lănh tụ Cộng Sản Trung Hoa nên đă xồng xộc chạy lên lễ đài ôm chầm lấy Giang Trạch Dân “ôm hôn thắm thiết”, khiến ông này ngạc nhiên đến sững sờ.

7. Nhận xét của Lê Khắc: trong bài Đêm Trước Đổi Mới (thanhnien online).

8. Câu “Tư Tưởng Hồ chí Minh” đặt trong lời mở đầu của hiến pháp Việt Nam cũng giống như Trung Hoa. Mấy năm sau này, khẩu hiệu của Trung Hoa là “dưới sự lănh đạo của đảng Cộng Sản Trung Hoa, nhân dân Trung quốc lấy chủ nghĩa Mác- -Lê Nin, tư tưởng Mao Trạch Đông, lư luận Đặng Tiểu B́nh và tư tưởng quan trọng ‘Ba đại diện’ làm chủ đạo...” (tư tưởng ba đại diện là của Giang Trạch Dân, đưa ra trong Đại Hội Đảng năm 2002, theo đó đảng Cộng Sản là đại diện các lực lượng sản xuất tiến bộ, của nền văn hóa tiến bộ, cho lợi ích của đa số nhân dân Trung Hoa. V́ thế, đảng không những chỉ đại diện cho giai cấp công nhân mà c̣n đại diện thêm giai cấp trí thức và tư sản yêu nước). Chỉ có điều khác nhau là Cộng Sản Việt Nam chưa viết thêm “...lư luận Đỗ Mười, tư tưởng quan trọng Lê Khả Phiêu...” vào mở đầu điều lệ Đảng.

9. Kinh tế quân đội trích bài “L'armée Vietnamienne, acteur du development economique' của Carlyle Thayer và Gerard Hervonet

10. Những người bị Lê Duẩn và Lê Đức Thọ gán cho tội “xét lại” năm 1963 gồm có các ông: Hoàng Minh Chính, từng là Viện Trưởng Viện Triết Học, Tướng Đặng Kim Giang, Phó Chủ Nhiệm Tổng Cục Hậu Cần, Vũ Đ́nh Huỳnh, Vụ Trưởng Vụ Lễ Tân, Trần Minh Việt, Phó Bí Thư Thành Ủy Hà Nội, các Đại Tá Lê Trọng Nghĩa, Cục Trưởng Quân Báo, Lê Minh Nghĩa, Chánh Văn Pḥng Bộ Quốc Pḥng, Đỗ Đức Kiên, Cục Trưởng Cục Tác Chiến, Hoàng Thế Dũng, Phó Tổng Biên Tập Báo QĐND..., các nhà văn, nhà báo như Vũ Thư Hiên, Phó Tổng Biên Tập Tạp Chí Học Tập Phạm Kỳ Vân, những ông Nguyễn Kiến Giang, Trần Thư, Phạm Viết, Phùng Văn Mỹ, Nguyễn Cận, Mai Lâm, Mai Hiến, Minh Tranh, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan (giáo sư Anh ngữ, vợ nhà báo Phạm Viết), Trung Tá Công An Bùi Hồng Sĩ (được nhắc đến trong ‘Truyện Kể Năm 2000’ của Bùi Ngọc Tấn)... Tất cả đều bị tù đày nhiều năm. Một số người khác như Lê Liêm (cựu thứ trưởng), Ung Văn Khiêm (cựu Bộ Trưởng Ngoại Giao), Bùi Công Trừng, Nguyễn Văn Vịnh... không bị bắt nhưng bị khai trừ khỏi Đảng. Ông Nguyễn Minh Cần, Phó Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Hà Nội cùng Đại Tá Lê Vinh Quốc, Phó Chính Ủy Quân Khu III, cũng như Thượng Tá Đỗ Văn Doăn, Tổng Biên Tập Báo QĐND phải ở lại Liên Xô.

11. Thư của Phùng Văn Mỹ gửi ông Nguyễn Trung Thành (trong Tử Tù Tự Xử Lư của Trần Thư). Cuối thư ông c̣n viết: “Trong cái mất, chúng tôi thấy cái được và cái được lớn nhất, vô giá, đó là sự giải thoát. V́ thế quả là bất công nếu có ai đó thương hại chúng tôi. Tự do ở thời nào cũng quí, nhưng thứ tự do có được bằng sự đổi chác hay áp đặt th́ không đáng giá một xu. Chỉ có sự tự tại mới là thứ tự do mang tính tuyệt đối”.