Sau Bức Màn Đỏ: hậu trường chính trị Việt Nam sau 1975 (7)
Thursday, December 20, 2007

Hoàng Dung

(Tiếp theo)

Tranh chấp, thanh trừng sau Đại Hội Đảng lần thứ VII

Với sự thắng thế của khuynh hướng bảo thủ và giáo điều trong Bộ Chính Trị, Cộng đảng Việt Nam càng tỏ thái độ nhún nhường hơn với Trung Hoa Hai tuần lễ sau đại hội Đảng, ngày 9-7-91, Tổng Bí Thư Đỗ Mười gặp đại sứ Trung Hoa Trương Đức Duy, ngỏ ư muốn cử “đặc phái viên” sang Trung Hoa để thông báo diễn tiến và kết quả của đại hội VII, một hành động gần giống như sai sứ cầu phong. Điều này làm cho Trung Hoa rất hài ḷng, và dù trước đó đă đồng ư hội đàm cấp thứ trưởng giữa hai chính phủ vào đầu tháng 8, Trung Hoa lại muốn gặp “đặc phái viên” của đảng Cộng Sản trước. Biết được ban lănh đạo Cộng đảng Việt Nam dễ thuyết phục hơn Bộ Ngoại Giao, Trung Hoa ngỏ ư muốn đổi danh xưng “đặc phái viên” thành “đoàn đại diện đặc biệt của Ban Chấp Hành Trung Ương đảng Cộng Sản Việt Nam”, gián tiếp loại ra ngoài các viên chức ngoại giao nhà nghề. Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng hiểu ư, nên đă gạt bỏ đại sứ Việt Nam tại Trung Hoa là Đặng Nghiêm Hoành không cho tham dự các buổi họp, tuy đại sứ Trung Hoa tại Hà Nội là Trương Đức Duy lại có mặt trong phái đoàn Trung Hoa. “Đoàn đại diện đặc biệt” của Việt Nam sang Trung Hoa báo cáo gồm có ba người là Lê Đức Anh, Chủ Tịch Nước, Hồng Hà, Bí Thư Trung Ương Đặc Trách Đối Ngoại và Trịnh Ngọc Thái, Phó Ban Đối Ngoại của Đảng.

Sau khi đă được báo cáo chi tiết về Đại Hội Đảng lần thứ VII, kể cả những ư kiến khác nhau, những tranh luận, những biểu quyết và những thay đổi nhân sự, Giang Trạch Dân và Lư Bằng lại bằng ḷng hơn nữa khi nghe nói Nguyễn Cơ Thạch bị loại. Giang Trạch Dân nói: “Từ đáy ḷng ḿnh, tôi rất hoan nghênh kết quả đại hội VII của các đồng chí Việt Nam”. Sau khi được gặp Giang Trạch Dân và Lư Bằng, Lê Đức Anh đă xin gặp Từ Đôn Tín hai lần để xin lỗi về việc Nguyễn Cơ Thạch đă to tiếng với ông ta mấy tháng trước. Ngoài ra, phái đoàn của Lê Đức Anh c̣n t́m gặp Kiều Thạch, chủ tịch quốc hội, người đă từng phụ trách t́nh báo và an ninh của Trung Hoa.

Biết là các nhà cầm quyền Trung Hoa sẽ cho nối lại quan hệ ngoại giao nếu Việt Nam tiếp tục nhượng bộ ở Căm Pu Chia, Lê Đức Anh và Hồng Hà sau khi về nước đă ép Bộ Ngoại Giao phải gửi đi một thứ trưởng “không tiền án” với Trung Hoa là Nguyễn Dy Niên sang Bắc Kinh dự cuộc hội đàm chính thức giữa hai chính phủ về vấn đề Căm Pu Chia. Sợ rằng những viên chức ngoại giao không chịu nhượng bộ sẽ làm hỏng mưu định cầu ḥa, Bộ Chính Trị cử thêm Trịnh Ngọc Thái đi theo phái đoàn để giám sát. Cuộc hội đàm một chiều theo ư của Trung Hoa đó dĩ nhiên đưa đến kết quả mỹ măn, vấn đề Căm Pu Chia coi như đă được giải quyết. Sau cuộc hội đàm, Ngoại Trưởng Tiền Kỳ Sâm của Trung Hoa mời Ngoại Trưởng Việt Nam Nguyễn Mạnh Cầm sang thăm giao hữu và hai tháng sau, ngày 5-11-1991, đến lượt Đỗ Mười cùng Vơ Văn Kiệt được mời sang Bắc Kinh (6), kư thông cáo chung chính thức b́nh thường hóa quan hệ giữa hai nước. Tuy Việt Nam rất muốn được có quan hệ “môi hở răng lạnh” như trước kia, nhưng Trung Hoa lại không muốn thế giới nghi kỵ một liên minh cộng sản mà trở ngại cho chương tŕnh “bốn hiện đại” nên chỉ chấp nhận một mối quan hệ “ thân nhi bất cận, sơ nhi bất viễn, tranh nhi bất đấu” (thân nhưng không gần, sơ nhưng không xa, ganh đua nhau nhưng không đánh nhau) tức là “đồng chí chứ không đồng minh”. Tuy thế, trong một nghị quyết về ngoại giao tháng 6 năm 1992, Việt Nam đă xếp hạng Trung Hoa vào loại bạn chí cốt số một cùng với Bắc Hàn, Cuba, Ai Lao và Căm Pu Chia (bạn xếp hàng thứ hai là những nước Cộng sản cũ như Liên Xô và Đông Âu, thứ ba là các nước lân bang Asean, thứ tư là những nước Phi châu, Tây Phương và Nhật Bản, đứng xếp hàng chót là Hoa Kỳ, một nước mà theo Việt Nam, luôn mưu toan phát động “diễn biến ḥa b́nh” để phá hoại xă hội chủ nghĩa. Cũng như những từ ngữ đồng chí, chủ tịch, thủ trưởng... xuất phát từ Trung Hoa, “diễn biến ḥa b́nh” cũng là một từ ngữ học được từ Trung Hoa (Trung Hoa đă dùng từ ngữ “he ping yan bian” này sau vụ Thiên An Môn năm 1989).

Ngoài bộ máy đảng lănh đạo, việc quản lư nhà nước của Việt Nam là do Vơ Văn Kiệt làm thủ tướng sau Đại Hội Đảng năm 1991. Chính phủ này gồm có:

- Ba Phó Thủ Tướng là Nguyễn Khánh, Phan Văn Khải và Trần Đức Lương

- Bộ Trưởng Nông Nghiệp: Nguyễn Công Tấn

- Bộ Trưởng Xây Dựng: Ngô Xuân Lộc

- Bộ Trưởng Văn Hóa Thông Tin: Trần Hoàn.

- Bộ Trưởng Quốc Pḥng: Đoàn Khuê

- Bộ Trưởng Giáo Dục: Trần Hồng Quân

- Bộ Trưởng Tài Chánh: Hồ Tế (Hồ Tế là người sau khi về hưu, đă phải than là ngân sách nhà nước của Việt Nam đă phải nuôi ba miệng ăn: chính phủ, Đảng và Mặt Trận Tổ Quốc).

- Bộ Trưởng Ngoại Giao: Nguyễn Mạnh Cầm. Nguyễn Mạnh Cầm là đại sứ Việt Nam tại Mạc Tư Khoa, được chọn lựa thay Nguyễn Cơ Thạch v́ đă không dính dấp ǵ đến những bất ḥa của Bộ Ngoại Giao với Trung Hoa năm 1990

- Bộ Trưởng Kỹ Nghệ: Đặng Vũ Chú

- Bộ Trưởng Nội Vụ: Bùi Thiện Ngộ, trước kia là giám đốc công an Vũng Tàu sau đó là giám đốc công an thành phố HCM

- Bộ Trưởng Tư Pháp: Nguyễn Đ́nh Lộc

- Bộ Trưởng Lao Động Và Thương Binh Xă Hội: Trần Đ́nh Hoan

- Bộ Trưởng Bộ Hải Sản: Nguyễn Tấn Tŕnh

- Bộ Trưởng Y Tế Công Cộng: Đỗ Nguyên Phương

- Bộ Trưởng Bộ Khoa Học, Kỹ Thuật Và Môi Trường: Đặng Hữu

- Bộ Trưởng Bộ Kế Hoạch Và Đầu Tư: Đỗ Quốc Sâm

- Bộ Trưởng Bộ Thương Mại: Lê Văn Triết

- Bộ Trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải: Bùi Danh Lưu

- Chủ Tịch Hội Đồng Chống Tham Nhũng và Buôn Lậu: Nguyễn Kỳ Cẩm

- Chủ Tịch Ủy Ban Sắc Tộc: Hoàng Đức Nghi

- Chủ Tịch Ủy Ban Chống Lụt và Ủy Ban Sông Cửu Long: Nguyễn Cảnh Định

- Chủ Tịch Quốc Hội là Nông Đức Mạnh, thay cho Lê Quang Đạo sang làm Chủ Tịch Mặt Trận Tổ Quốc

- Thống Đốc Ngân Hàng Nhà Nước: Cao Sĩ Kiếm

- Tổng Tham Mưu Trưởng Quân Đội: Đào Đ́nh Luyện, từng là Tư Lệnh Không Quân

- Chủ Nhiệm Tổng Cục Chính Trị Quân Đội là Lê Khả Phiêu

Dưới sự hướng dẫn của Vơ Văn Kiệt, Việt Nam tiếp tục chính sách đổi mới kinh tế. Từ khi c̣n là bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh, trước sự tê liệt của hệ thống kinh tế quốc doanh trong những năm đầu của thập niên 1980, Vơ Văn Kiệt đă dám làm những điều không đúng với đường lối của trung ương như dùng những người Hoa c̣n ở lại trong nước buôn bán với Hồng Kông, thành lập những công ty Imex lấy tiền của Việt kiều, dùng những chuyên viên chế độ cũ như Nguyễn Xuân Oánh, thậm chí c̣n mời cả cựu Thủ Tướng Lư Quang Diệu của Tân Gia Ba làm cố vấn. Trong thời gian đó, phương cách kinh tế trong Nam khác biệt với miền Bắc đến nỗi Bộ Trưởng Ngoại Thương Lê Khắc (thời Tố Hữu làm phó thủ tướng đặc tránh kinh tế) khi vừa xuống máy bay ở phi trường Tân Sơn Nhất đă phê b́nh là “ngửi thấy mùi Nam Tư” (7). Nhưng Vơ Văn Kiệt thật ra cũng chỉ cởi mở về kinh tế, c̣n về chính trị, ông vẫn xuôi theo đường lối chuyên chính của đảng Cộng Sản Việt Nam.

Hiến Pháp năm 1992 tái xác nhận Việt Nam tiếp tục theo đuổi chế độ độc đảng song song với chính sách “kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa”. Điều 4 của Hiến Pháp 1992 viết: “Đảng Cộng Sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh...” (8). Sau khi vào năm 1982 đă bỏ câu “tư tưởng Mao Trạch Đông” trong hiến pháp và điều lệ đảng th́ giờ đây, trước sự khủng hoảng ư thức hệ, đảng Cộng Sản Việt Nam thêm vào lời mở đầu hiến pháp “tư tưởng Hồ Chí Minh”, một loại “tư tưởng” mơ hồ, rời rạc, góp nhặt và tùy tiện, nhưng vẫn được những cán bộ thông tin văn ḥa tâng bốc. Chẳng hạn trước kia có lúc ông trích câu châm ngôn của Trung Hoa “dĩ bất biến ứng vạn biến”, lúc sau này có cả chục bài viết lấy từ câu trích dẫn đó ra rồi tán tụng cách áp dụng của ông, sau đó đề cao ông như một triết gia tài ba, siêu việt. Do sự cần thiết phải đổi mới kinh tế, quyền hạn của Vơ Văn Kiệt được tăng lên đôi chút. Danh xưng “chủ tịch hội đồng bộ trưởng” nhằm nhấn mạnh đến chỉ huy tập thể được thay trở lại bằng danh xưng “thủ tướng”. Trước kia, bộ trưởng do quốc hội bầu lên và đều là những đại biểu quốc hội. Sau 1992, thủ tướng có quyền lựa chọn bộ trưởng, trong hay ngoài quốc hội, nhưng những bộ trưởng này vẫn phải được quốc hội chấp thuận. Trên nguyên tắc, thủ tướng cũng có quyền băi nhiệm thứ trưởng trở xuống hay các viên chức hành chánh địa phương (cấp bộ trưởng trở lên thuộc diện “trung ương quản lư”, tức là do trung ương đảng trách nhiệm). Tuy là thủ tướng, nhưng Vơ Văn Kiệt chỉ có thể tương đối tự do trong những phạm vi kinh tế, giáo dục.., c̣n những ngành quốc pḥng, công an hay thông tin báo chí đều bị những phần tử bảo thủ như Lê Đức Anh, Đỗ Mười, Đào Duy Tùng thao túng. Không thể để lọt một khe hở nào, dù quốc hội chỉ là một cơ quan h́nh thức, danh sách được đảng cho ra ứng cử dân biểu quốc hội kỳ này cũng giảm đi tối đa những thành phần ngoài đảng. Bà Ngô Bá Thành là một trong vài người hiếm hoi được đảng cho ra ứng cử nhưng lại không trúng cử.

Do sự sụp đổ của đế quốc Xô Viết, chế độ Cộng sản Việt Nam cảm thấy bị lung lay. Những lănh tụ Cộng đảng suy luận rằng những chính quyền Cộng sản bị sụp đổ là v́ đảng đă không kiểm soát và chỉ huy được quân đội. Tại Liên Xô và Đông Âu, quân đội đă không chịu nghe lệnh đảng để đàn áp nhân dân. Tại Trung Hoa, trong vụ Thiên An Môn, quân đoàn 38 tại quân khu Bắc Kinh đă từ chối không đàn áp sinh viên khiến cho chính phủ đă phải huy động các quân đoàn khác từ xa tới. V́ thế, một mặt đảng gia tăng ngân sách quốc pḥng, củng cố lại hệ thống đảng ủy trong quân đội, mặt khác, tăng cường vị thế của quân đội trong trung ương đảng và Bộ Chính Trị. Năm 1986, tỷ số ủy viên quân đội trong trung ương đảng chiếm 7%, tới năm 1991, tỷ số này tăng lên 10.2% (15 người trong 146 ủy viên được bầu). Ngoài ra, nếu nghị quyết năm 1986 chỉ đ̣i hỏi quân đội phải “tôn trọng và quan hệ mật thiết” với những đảng bộ địa phương th́ điều 28 của nghị quyết năm 1991 nói rơ là những đơn vị quân đội phải được đặt dưới sự lănh đạo của các đảng ủy địa phương.

Cũng kể từ đại hội đảng năm 1991, những đảng viên quân đội bắt đầu được nắm những chức vụ cao cấp then chốt. Trong Bộ Chính Trị mười ba người, Lê Đức Anh được đứng hàng thứ hai và Đoàn Khuê, bộ trưởng quốc pḥng đứng hàng thứ năm. Tháng 9 năm 1991, Lê Đức Anh được đề cử làm chủ tịch nhà nước. Nhờ đại diện cho quân đội, một cơ chế được coi là “xương sống” của đảng, chức vụ chủ tịch Nhà nước do Lê Đức Anh nắm giữ được tăng cường quyền hành để thăng bằng với quyền hành của thủ tướng do Vơ Văn Kiệt nắm giữ. Hơn nữa, Lê Đức Anh lại c̣n được kiêm nhiệm luôn chức vụ chủ tịch hội đồng Quốc pḥng và tổng tư lệnh quân đội. Nhờ thế, kể từ 1969, sau khi Hồ Chí Minh chết, qua những đời Tôn Đức Thắng, Trường Chinh, Vơ Chí Công... Lê Đức Anh là một chủ tịch nhà nước có quyền lực rất lớn, giám sát luôn cả những trách vụ quốc pḥng, ngoại giao lẫn công an của chính phủ. Ngoài ra, trong bộ ba Đỗ Mười, Lê Đức Anh và Vơ Văn Kiệt, mỗi khi có tranh chấp, Đỗ Mười thường đứng về phe Lê Đức Anh, cho nên trong đảng Cộng sản Việt Nam, người ta c̣n phân biệt ra hai khối: đảng và chính phủ (tuy cầm đầu chính phủ cũng là những đảng viên). Trong quốc hội, quân đội cũng chiếm giữ 38 ghế (9.6%), trong đó ngoài Lê Đức Anh, Đoàn Khuê, Đào Đ́nh Luyện, Lê Khả Phiêu c̣n có Đặng Quân Thụy (Tư Lệnh Quân Khu II), Phạm Văn Trà (Quân Khu IIII), Nguyễn Trọng Xuyên (Tổng Cục Tiếp Vận), Phan Thứ (Tổng Cục Kinh Tế và Kỹ Nghệ Quốc Pḥng)... Đặc biệt trong kỳ bầu cử quốc hội năm 1992, ông Nguyễn Thanh Giang, tiến sĩ địa chất đă tự ḿnh ra ứng cử quốc hội và đă được đến 96% số phiếu. Đảng Cộng sản một mặt bịa ra một qui luật là bắt ông phải qua một ṿng tuyển chọn tại cơ sở nơi ông làm việc, mặt khác áp lực những người cùng cơ sở với ông phải bỏ phiếu loại ông ra. Sau khi ông viết và phổ biến bài Nhân Quyền-Khát Vọng Ngàn Năm, ông bị công an sách nhiễu nhiều lần và ngày 4-3-1999 th́ chính thức bị bắt về tội “lạm dụng quyền tự do dân chủ”, nhưng không bị đưa ra ṭa và được thả vào tháng sau.

Sự gia tăng thế lực của quân đội trong Bộ Chính Trị (4 ủy viên) và trong Trung Ương Đảng đă làm quân đội trở nên một thế lực mạnh mẽ không những về chính trị mà c̣n về kinh tế. Nhờ đó mà từ 1990, Tổng Cục Kinh Tế của quân đội đă ngày càng phát triển mạnh mẽ. Tới 1993 th́ đă có khoảng 70 ngàn quân nhân phục vụ trong các ngành kinh tế thuộc gần 300 công ty do quân đội kiểm soát. Những công ty này kinh doanh trong các ngành điện, dầu khí, xây dựng (xa lộ nối Hà Nội với phi trường Nội Bài là do quân đội thiết lập)... Công ty lớn nhất là Tổng Công Ty Xây Dựng Trường Sơn gồm có 19 công ty lớn nhỏ về xây cất, đặt đường xe lửa, trồng cà phe... Các công ty khác như tổ hợp hàng không của không quân dùng trực thăng chở chuyên viên đến những mỏ dầu, cung cấp dịch vụ chuyên chở y tế cấp cứu, t́m người Mỹ mất tích. Công ty Tây Nguyên của quân đoàn 15 chuyên về canh nông, công ty Đông Bắc khai thác than, công ty Hóa Chất số 21. Ngoài ra cũng có cả Ngân Hàng Thương Mại Quân Đội, khách sạn Saigon Star Hotel. Năm 1994, Vơ Văn Kiệt c̣n kư nghị định cho phép công ty viễn thông Vietel của quân đội được cạnh tranh với tổng cục Bưu Điện trong những dịch vụ viễn liên (9).

Song song với việc gia tăng thế lực của quân đội, ngành công an cũng được củng cố nhưng đă không hoàn toàn đàn áp được những tiếng nói phản kháng. Năm 1993, ông Hoàng Minh Chính, đă được thả ra sau khi bị giam cầm nhiều năm, gửi thư cho Đảng và chính phủ phản đối về việc đă bắt giữ ông trái phép, sau đó vợ của tướng Đặng Kim Giang cũng công khai tố cáo đích danh Lê Đức Thọ đă mưu hại và bôi lọ chồng và cả gia đ́nh của bà (10). Do những người bị oan ức gửi đơn khiếu nại, Trung Ương Đảng cử hai đảng viên đă về hưu là Nguyễn Trung Thành, cựu vụ trưởng vụ bảo vệ đảng, người đă từng tích cực tuân lệnh Lê Đức Thọ và Lê Duẩn để kết tội nhóm xét lại, và Lê Hồng Hà, cựu ủy viên đảng đoàn Bộ Công An để coi lại hồ sơ vụ án. Nhưng khi hai người đưa báo cáo cho Đỗ Mười, chứng minh là những người bị án đều bị oan ức, những chứng cớ chỉ là giả tạo, và xin trung ương đảng giải oan cho những người liên quan đến vụ án th́ Đỗ Mười gạt đi, nói là Trung Ương Đảng đă kết tội th́ chắc chắn là họ có tội. Ông Nguyễn Trung Thành cảm thấy ân hận nên đă trực tiếp xin lỗi những người bị án oan và cùng ông Lê Hồng Hà công khai phổ biến sự ghép tội vô căn cứ của Đảng. V́ việc này, hai ông bị trục xuất khỏi Đảng và liên tục bị công an làm khó dễ. Ông Hà c̣n bị kết án tù hai năm. Những người bị án c̣n sống hay gia đ́nh họ đều thông cảm và tha thứ ông Thành. Riêng ông Phùng Văn Mỹ, cựu giáo sư trường Đảng từng bị tù từ 1967 đến 1976 th́ nói là mặc dù ông rất cảm động trước hành động của ông Thành, nhưng ông không cần được giải oan hay phục hồi đảng tịch, v́ ông đang được sống cho chính ông. Ông không c̣n phải làm nô lệ hay nhân viên của bất cứ địa hạt nào trong bộ máy chuyên chính. Ông viết: “C̣n về mặt tâm hồn, th́ chúng tôi đang sống một cuộc sống thanh thản, không c̣n bị trói buộc vào một cơ chế máy móc nào. Chúng tôi đang thực hiện lời dạy của người xưa ‘Phú quí bất năng dâm, bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất’. Và như thế th́ cần ǵ phải có ai ‘cứu’ nữa. ‘Cứu’ để rồi được trở lại cách sống cũ ư? Quả là một điều hăi hùng! (11).

Khi ông Hoàng Minh Chính bị vào tù, ông Nguyễn Khắc Toàn đă giúp cho bà Chính viết kháng thư. Nguyễn Khắc Toàn là một bộ đội phục viên từng chiến đấu trong Nam. Sau 1975, ông thấy thất vọng với chế độ, và đă giúp phổ biến những lá thư đ̣i tự do dân chủ của Nguyễn Thanh Giang, Trần Độ, Trần Dũng Tiến...

(C̣n tiếp)