Nhờ những kết quả có được nhờ đă từ bỏ đường lối kinh tế
chỉ huy, nhiều đạo luật cởi mở hơn được đưa ra như luật về quyền tư hữu,
luật lao động phân định quyền lợi giữa chủ và thợ, luật cho phép sang
nhượng ruộng đất, luật nới rộng đầu tư... được ban hành. Sau đó, năm
1992, Việt
Nam bắt đầu vận động để gia nhập khối
ASEAN và thiết lập quan hệ ngoại giao với Đại Hàn. Nhật Bản cũng bỏ cấm
vận và cho Việt Nam vay 370 triệu Mỹ kim. Năm 1993,
Việt Nam kư thỏa hiệp thương mại với khối
kinh tế Tây Âu. Năm 1994, do việc Việt Nam sốt sắng cộng tác trong việc
t́m kiếm người mất tích (MIA), Tổng Thống Clinton chấm dứt cấm vận vào
tháng 7 năm 1995 và thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Việt
Nam. Cựu Dân Biểu Pete Peterson, một cựu tù nhân Mỹ từng bị giam ở Hỏa
Ḷ sáu năm được cử làm đại sứ. Trong khi đó, đại sứ Việt Nam tại Hoa Kỳ là Lê Văn Bàng, từng
làm đại sứ ở Liên Hiệp Quốc. Cũng trong tháng đó, Việt Nam trở nên nước
hội viên thứ bảy của tổ chức ASEAN.
Việc gia nhập vào ASEAN không những đă giúp cho Việt
Nam được hội nhập và học hỏi
những kinh nghiệm phát triển kinh tế của các nước trong vùng mà c̣n giúp
cho Việt Nam nhiều thuận lợi về chính trị và
ngoại giao. Dưới danh nghĩa hội viên của một tổ chức quan trọng gồm
những nước có kinh tế năng động như Tân Gia Ba, Thái Lan, Mă Lai..., uy
tín Việt Nam được nâng cao. Trong khi chưa thể cầu thân với Hoa Kỳ để
thăng bằng áp lực của Trung Hoa, ít ra Việt Nam cũng có thể cùng những
nước trong tổ chức trên dàn xếp những xích mích với Trung Hoa. Ngoài ra,
việc gia nhập ASEAN cũng là cơ hội tiến thêm một bước để thiết lập bang
giao với Hoa Kỳ.
Nhờ tŕnh độ dân trí cao và nhân công tương đối c̣n rẻ so
với các nước ASEAN láng giềng, các công ty ngoại quốc bắt đầu bỏ tiền
vào đầu tư, kinh tế Việt Nam bắt đầu phát triển, nhất là về nông nghiệp
và kỹ nghệ nhẹ chế tạo hàng tiêu dùng. Tuy nhiên, để giữ vững “định
hướng xă hội chủ nghĩa”, chính quyền vẫn duy tŕ những công ty do nhà
nước quản lư dù cho những công ty này bị lỗ lă và chính phủ phải tài trợ
mới đứng vững. Khi Vơ Văn Kiệt kêu gọi cần có sự đối xử đồng đều đối với
cả công ty tư nhân lẫn quốc doanh, đề nghị này bị gán cho là “sai đường”.
Trong những công ty hợp doanh lớn, Đỗ Mười đă đ̣i hỏi phải có đại diện
của Đảng nằm trong công ty. Ngoài ra, do yếu tố chính trị nhằm nâng đỡ
những tỉnh miền Trung, xưởng lọc dầu được chấp thuận xây dựng tại Dung
Quất, Quảng Ngăi. V́ lư do địa điểm này không thuận lợi, không hợp lư về
kinh tế, cách xa những giếng dầu ngoài biển hàng ngàn cây số, những công
ty ngoại quốc rút ra khỏi công tác xây dựng, trung ương đảng nhất định
không đổi ư, dùng những công ty xây cất quốc doanh. Do đó mà xưởng lọc
dầu này đến nay vẫn chưa xong.
Ngoài việc t́m cách kiềm hăm sự đổi mới kinh tế, những
thành phần bảo thủ trong Bộ Chính Trị đă kiểm soát chặt chẽ hơn trên
lĩnh vực thông tin văn hóa. Ngay sau khi nhận chức Tổng Bí Thư, Đỗ Mười
đă cảnh cáo là “ngành thông tin cần được hướng dẫn” và “báo chí vẫn là
mũi tấn công chính của mặt trận văn hóa tư tưởng”. Đỗ Mười chê trách
ngành truyền thông đă lợi dụng sự cởi trói báo chí để “có những bài báo,
sách vở phủ nhận đảng, bóp méo lịch sử và sự thật”. Một ủy viên khác,
Nguyễn Đức B́nh, cũng gọi truyền thông đại chúng là “vũ khí hữu hiệu
trên mặt trận văn hóa tư tưởng”, và kêu gọi báo chí phải “vạch trần
những âm mưu của những lực lượng chống chủ nghĩa xă hội muốn phủ nhận
quyền lănh đạo của đảng”. Tuy không trực tiếp kiểm duyệt, nhưng những
giám đốc đài phát thanh, những tổng biên tập nguyệt san và báo chí đều
là đảng viên nên đảng tạo áp lực bằng những cuộc họp mỗi tháng với Ban
Tư Tưởng Văn Hóa Trung Ương Đảng. Nhiều tổng biên tập không tuân hành
đường lối của Đảng đă bị mất chức. Thí dụ là Vũ Kim Hạnh, Tổng Biên Tập
Báo Tuổi Trẻ, đă dám đăng bài phê b́nh chế độ cha truyền con nối của cha
con Kim Nhật Thành ở Bắc Triều Tiên, rồi sau đó lại đăng bài nói về
chuyện Hồ Chí Minh có vợ. Bài báo cũng đăng bài thơ Lư Thụy gửi bà vợ
Tàu Tăng Tuyết Minh ngay trên trang nhất (Dữ muội tương biệt. Chuyển
thuấn niên dư. Hoài niệm t́nh thâm. Bất ngôn tự hiểu. Từ nhân hồng tiện.
Dao kư thốn tiên. Tỷ muội an tâm. Thị ngă da vọng. Tịnh thỉnh nhạc mẫu
vạn phúc)). Theo Hoàng Tranh (Huang Zheng), phó viện trưởng Viện Khoa
Học Xă Hội Quảng Tây, đám cưới của hai người cử hành vào tháng 10 năm
1926. Bà Kim Hạnh v́ việc này mà mất chức (12). Mấy năm sau, bà quay
sang xin được làm tờ Sài G̣n Tiếp Thị, một tờ báo giúp ư kiến người đọc
mua bán hàng hóa.
Tuy nhiên, dù cho những lănh tụ Cộng Sản Việt Nam, nhất
là phe quân đội, tỏ thái độ tùng phục và dù cho đă có quan hệ ngoại giao
chính thức, Trung Hoa vẫn lợi dụng t́nh trạng cô thế của Việt Nam để mà
lấn át. Ngày 15-2-1992, Trung Hoa công bố Luật Lănh Hải của họ, bao gồm
gần hết biển Đông, và nói là sẽ dùng vơ lực để ngăn ngừa những vi phạm
chủ quyền của họ. Cùng với những lời công bố, Trung Hoa cho quân đến
chiếm đảo Ba Đầu trong quần đảo Trường Sa. Chiếm đảo này xong, Trung Hoa
mạnh mẽ cảnh cáo Việt Nam là “không nên làm điều ǵ gây phương hại cho
t́nh hữu nghị mới tái lập”. Một số đại biểu Quốc Hội phản kháng nhưng bị
Ban Đối Ngoại Trung Ương Đảng dẹp bỏ. Ba tháng sau, ngày 8-5-1992, khi
cố vấn của Bộ Chính Trị là Nguyễn Văn Linh sang gặp Giang Trạch Dân và
Lư Bằng tại Bắc Kinh, có lẽ để dằn mặt Cộng Sản Việt Nam, cùng ngày hôm
đó và ở cùng một pḥng trong Nhân Dân Đại Sảnh, Trung Hoa kư kết với
hăng thầu Crestone của Hoa Kỳ để khai thác dầu hỏa trên vùng đảo Tu
Chính, nơi mà Việt Nam và Trung Hoa đang tranh chấp. Tổng giám đốc công
ty Crestone là Randall Thompson sau đó đă xác nhận là những giới chức
Trung Hoa đă cam kết với ông là hải quân Trung Hoa sẽ dùng toàn lực bảo
vệ nếu có chuyện ǵ xảy ra trong vùng biển mà công ty khai thác. Nguyễn
Văn Linh không dám có một phản ứng nào về việc này, trái lại vẫn ngỏ lời
cám ơn Trung Hoa về “những giúp đỡ quí báu” trước kia. Ngày 27-5-92,
quân Trung Hoa cũng dời cột mốc biên giới ở Ải Nam Quan sâu vào lănh thổ
Việt Nam từ 400 đến 500 thước và đầu tháng 7, Trung Hoa cắm mốc nhận chủ
quyền trên đảo Đa Lạc thuộc Trường Sa.
Hành động lấn át của Trung Hoa đă gây tranh luận gắt gao
tại Hội Nghị Trung Ương Đảng từ ngày 18 đến 29-6-1992. Phe bảo thủ cho
là “v́ Trung Hoa vẫn là một nước xă hội chủ nghĩa, chúng ta cần phải
liên kết với Trung Hoa và bỏ qua những xích mích nhỏ nhặt”, trong khi đó,
phe thực dụng tố cáo Trung Hoa hai mặt và “lợi dụng chủ nghĩa xă hội để
trói tay Việt Nam”. Đỗ Mười tuy rất bảo thủ nhưng lúc nào cũng hô hào
đổi mới, ngoài mặt nói Trung Hoa là “bành trướng” nhưng lại không có một
phản ứng nào ngoài việc mời Lư Bằng sang thăm Việt Nam. Trước khi Lư
Bằng sang thăm Việt Nam, trong tháng 8, Trung Hoa dựng một dàn khoan
trên vùng biển mà hai bên trước kia đă thỏa thuận là để trống chờ sau
này sẽ thương thuyết giải quyết, đồng thời cũng tịch thu hai tàu buôn
của Việt Nam tại Hồng Kông, tố cáo là họ buôn lậu.
Sự quá đáng của Trung Hoa gây bất an không những cho Việt
Nam mà c̣n cho những nước ASEAN trong vùng. Vào tháng 11 năm 1992, Đô
Đốc Larson, tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ trên vùng biển Thái B́nh Dương
mạnh mẽ tuyên bố là Hoa Kỳ không muốn thấy một quốc gia nào thống trị
vùng Đông Nam Á mà chỉ muốn có một sự thăng bằng lực lượng. Có lẽ nhờ
vậy mà trước khi Lư Bằng sang Việt Nam, Trung Hoa rút bỏ dàn khoan dầu
và trả lại hai tàu buôn.
Tháng 12 năm 1992, Thủ Tướng Trung Hoa Lư Bằng sang thăm
Việt Nam. Chuyến viếng thăm chỉ chú trọng nhiều đến những hợp tác kinh
tế nhưng vấn đề biên giới và lănh hải vẫn có nhiều rắc rối. Trong cuộc
họp báo, Lư Bằng tuyên bố một cách lạc quan rằng “dù hai bên c̣n có
những bất đồng, nhưng chúng tôi đă thu hẹp những bất đồng lại chứ không
làm lớn ra” nhưng Ngoại Trưởng Nguyễn mạnh Cầm đă không chắc chắn lắm
“Thủ Tướng Lư Bằng đă cho biết nhận xét của ông về kết qủa những cuộc
thảo luận. Chúng tôi ghi nhận nhận xét của ông và hy vọng chúng sẽ được
thực hiện trên thực tế” (13).
Dù Bộ Ngoại Giao không được hài ḷng, nhưng phe quân đội
lại càng muốn liên kết chặt chẽ với Trung Hoa, nhất là sau khi thấy khả
năng tấn công của Hoa Kỳ trong chiến tranh vùng Vịnh và trong cuộc chiến
Bosnia. Ngay sau khi Lư Bằng về nước, đến lượt Bộ Trưởng Quốc Pḥng Đoàn
Khuê sang Trung Hoa gặp Bộ Trưởng Quốc Pḥng Tŕ Hạo Điền và sau đó được
gặp Giang Trạch Dân. Trong cuộc tiếp xúc, Đoàn Khuê đă cẩn thận không
nhắc nhở ǵ đến những vấn đề biên giới. Ba tháng sau, đến lượt Tŕ Hạo
Điền sang thăm Việt Nam đáp lễ. Do sự khác biệt về quan niệm ngoại giao
giữa hai Bộ Quốc Pḥng và Ngoại Giao, những viên chức Bộ Ngoại Giao đă
không được thông báo ǵ về những cuộc tiếp xúc kể trên của hai quân đội
Việt Hoa.
Quan hệ giữa Việt Nam và Trung Hoa được mô tả trong báo
cáo mật của Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Mạnh Cầm tại Quốc Hội vào tháng
9 năm 1992 như sau: “Chúng ta phải nỗ lực duy tŕ quan hệ của chúng ta
với Trung Hoa nhưng đồng thời cũng phải bảo vệ chủ quyền và sự toàn vẹn
lănh thổ. Tuy nhiên, đây là một tiến tŕnh lâu dài và rắc rối”. Sau
những cuộc họp ở cấp thứ trưởng, một bản thỏa ước về những nguyên tắc
căn bản để giải quyết vấn đề biên giới được hai bên kư kết ngày
19-10-93. Tuy nhiên, ở thế mạnh và kinh tế phát triển nhanh chóng, nhu
cầu cần dầu hỏa của Trung Hoa ngày càng cao, vùng biển Đông ngày càng
trở nên một vùng biển quan trọng không những v́ tài nguyên dầu hỏa ở đó
mà c̣n là một thủy lộ chiến lược quan trọng để các tàu dầu ngoại quốc
chở dầu đến bán cho Trung Hoa cho nên hải quân Trung Hoa luôn luôn tạo
ra một áp lực trên vùng biển này.
Từ 1992, nhờ kinh tế khá hơn và có tiếng nói mạnh mẽ
trong chính phủ, ngân sách quân đội Việt Nam sau một thời gian bị cắt
giảm bắt đầu được gia tăng, khoảng hơn 1 tỷ mỹ kim một năm. Ngân sách
này dần dần được tăng lên gấp đôi trong năm 1997. V́ vùng biển Đông là
một vùng có triển vọng sẽ có tranh chấp, Việt Nam chú trọng nhiều hơn
vào việc hiện đại hóa hải quân và không quân. Đồng thời, năm 1994, Đoàn
Khuê kêu gọi chính phủ tăng thêm ngân sách cho Tổng Cục Kinh Tế Quốc
Pḥng nhằm mục tiêu quân đội có ngày có thể tự túc. Trong tiến tŕnh
thay thế và canh tân vũ khí, Việt Nam đă đi mua vơ khí từ nhiều nước
khác nhau (Algeria, Anh quốc, Úc, Bulgaria, Pháp, Ấn, Nam Dương, Do
Thái, Ư, Nhật, Bắc Hàn, Đại Hàn, Ukraine, Liên Xô, Ba Lan, Tiệp Khắc, Mă
Lai...)
Lực lượng hải quân của Việt Nam ở miền Bắc mới đầu gồm có
những tàu tuần của Liên Xô. Những tàu này cũng như những tàu của hải
quân VNCH cũ đă trở nên lỗi thời và không có cơ phận thay thế. Dù được
Liên Xô viện trợ, những nhà quan sát nhận định là vào năm 1992, hải quân
của Việt Nam không thể ngang tay với đa số các nước trong vùng Đông Nam
Á và không cách nào so sánh được với Trung Hoa. Sau nhiều thăm ḍ tại
Úc, Nam Dương, Mă Lai, cuối cùng, năm 1994, Việt Nam mua được của Liên
Xô bốn tuần dương hạm Tarantus loại I và loại II trang bị hỏa tiễn Styx
với tầm bắn xa 83 cây số. Sau đó Việt Nam hỏi mua 3 tàu tuần duyên của
Đại Hàn. Liên Xô cũng hợp tác với Việt Nam để chế tạo tàu phóng ngư lôi
và hộ tống hạm nhỏ ở bến cảng Sài G̣n, sau đó, bán cho Việt Nam vài tàu
ngầm Kilo. Việt Nam cũng mua được hai tàu ngầm cũ của Bắc Hàn và đă trả
bằng gạo. Năm 1999, Việt Nam mua thêm của Bắc Hàn một số hỏa tiễn SS1
Scud B và hỏa tiễn pḥng không Igla (SA-16 Gimlet) trị giá khoảng 100
triệu Mỹ kim. Năm 2000, hải quân của Việt Nam đă đạt được một bước dài
sau khi kư một hiệp ước với Ukraine để Ukraine giúp đỡ canh tân và huấn
luyện chuyên viên tại xưởng đóng tàu Ba Son.
Không quân của Việt Nam ngoài những máy bay chuyên chở và
trực thăng mà t́nh trạng hoạt động không được biết rơ, lực lượng chiến
đấu chính là những máy bay Mig 21 và Su 22. Số máy bay Mig 21 năm 1987
bị hư hỏng dần, đến năm 1999 chỉ c̣n có 124 chiếc. Do thói quen, Việt
Nam lại dựa vào Liên Xô để mua vũ khí mới. Năm 1994, Việt Nam mua 6 máy
bay chiến đấu và oanh tạc Sukhoi Su-27, hai năm sau lại mua thêm 6 chiếc
nữa. Những máy bay này có tầm hoạt động là 4000 cây số và có thể bay
trên trời 5 giờ liên tiếp. Tới năm 2005, Việt Nam có thêm được 5 chiếc
Su30 và cũng mua thêm 40 chiếc Su 22 cũ của Ba Lan. Số máy bay Mig 21
c̣n lại cũng được Ấn Độ và Do Thái canh tân. Có lẽ Việt Nam sợ không dám
mua Su -27 của Liên Xô, v́ một chiếc bị rớt khi tham dự đại hội Air Show
ở Tân gia Ba, một chiếc khác rớt gần Cam Ranh. Riêng Phần Lan, khi canh
tân quân đội, những xe tăng T54 và T55 không dùng đến nữa đă bán tống
bán tháo cho Việt Nam (14).
Do sự bất lực trước những hành động lấn áp của Trung Hoa,
ngoài việc gia tăng ngân sách quốc pḥng, Việt Nam vẫn tiếp tục
đa phương hóa ngoại giao bằng cách cải thiện mối quan hệ với Hoa Kỳ và
các nước ASEAN. Riêng đối với Hoa Kỳ, Tổng Thống Clinton vừa lên cầm
quyền nên triển vọng thiết lập quan hệ ngoại giao tốt đẹp hơn. Năm 1992, Clinton đă cho phép ngân hàng thế giới trợ giúp Việt
Nam. Nhưng công cuộc thiết lập quan
hệ ngoại giao có lẽ bị trở ngại đôi chút khi một thương gia Việt Nam ở
Florida, ông Lư Thanh B́nh, tố cáo người hùn hạp của ông là Nguyễn Văn
Hảo (15), một viên chức cao cấp của Việt Nam Cộng Ḥa trước kia, đă làm
trung gian cho chính quyền Cộng Sản để mưu hối lộ ông Harold Brown, chủ
tịch đảng Dân Chủ, sau này làm bộ trưởng Bộ Thương Mại, để ông này nói
giúp Clinton bỏ cấm vận. Theo ông B́nh, Nguyễn Văn Hảo đă yêu cầu Việt
Nam gửi qua ngân hàng Indosuez ở Singapore mà một phó chủ tịch là Lê
Quang Uyển, bạn ông Hảo, một số tiền 700 ngàn Mỹ kim cho ông Brown. Dù
lời khai của ông B́nh đă được kiểm chứng qua máy phát hiện nói dối (lie
detector), và báo New York Time xác nhận là có sự chuyển giao tiền bạc
cho ngân hàng Indosuez, ông Brown đă không bị truy tố, nhưng chuyện này
đă khiến Tổng Thống Clinton phải hoăn lại tiến tŕnh thiết lập bang giao
cho tới ngày 3-2-1994, Hoa Kỳ mới tuyên bố băi bỏ cấm vận, chuẩn bị tái
lập quan hệ ngoại giao.
(C̣n tiếp)