|
Sau Bức Màn Đỏ: hậu trường chính trị Việt Nam sau 1975
(3) Hoàng Dung (Tiếp theo)
Chính quyền Cộng Sản Việt
Năm 1986, sự
suy kiệt của kinh tế quốc nội, sự cô lập về ngoại giao, sự đe dọa và gây
hấn thường xuyên của Trung Hoa cùng những biến chuyển trong t́nh h́nh
thế giới nhất là của nước đàn anh Liên Xô đă đẩy Cộng Sản Việt Nam vào
một bước ngoặt quan trọng trên con đường tiến lên xă hội chủ nghĩa.
Những thay đổi của Liên Xô về đối nội cũng
như đối ngoại đă tạo nên một cơn khủng hoảng ư thức hệ cho đảng Cộng Sản
Việt
Những nguyên
nhân của sự “đổi mới tư duy” về đối nội cũng như đối ngoại của Cộng Sản
Việt Nam được coi như chính thức bắt đầu từ sau bài diễn văn của
Gorbachev đọc tại Vladivostok (Hải Sâm Uy) ngày 28 Tháng Bảy 1986, trong
đó Liên Xô công bố một chính sách Á Châu và Thái B́nh Dương mới mà mục
tiêu chủ yếu là tái lập quan hệ ngoại giao b́nh thường với Trung Hoa.
Để đạt được mục đích đó, Gorbachev tuyên bố
sẽ giải quyết tất cả “ba trở ngại” mà Trung Hoa đ̣i hỏi. Gorbachev c̣n
nói thêm là “vấn đề Căm Pu Chia phải được giải quyết giữa Việt
Sự thay đổi
chính sách của Liên Xô đặt Việt Sau mấy tháng chuẩn bị, đại hội đảng lần thứ sáu được triệu tập từ ngày 15 đến 18 Tháng Mười Hai 1986 gồm có 1129 đại biểu tham dự. Khách tới dự đại hội này có Ligachev, nhân vật số 2 của đảng Cộng Sản Liên Xô, Kaysone Phomvihane của Ai Lao và Heng Samrin của Căm Pu Chia cùng vài đại diện các đảng Cộng Sản Đông Đức, Cuba... Đại hội đảng kỳ này đă biểu quyết chấp thuận 124 ủy viên trung ương đảng cùng 49 ủy viên dự khuyết mà đại hội trung ương đảng trước đó đă đưa ra. Sau đó họ lại bầu những ủy viên Bộ Chính Trị là những người có quyền lực nhất của đảng và chính phủ. Tại đại hội đảng, trước ngày bầu ra những ủy viên Bộ Chính Trị, Phạm Hùng tuyên đọc bức thư xin rút lui của bộ ba Trường Chinh, Phạm Văn Đồng và Lê Đức Thọ. Cả ba người sau đó được cử làm “cố vấn tối cao”.
Bộ Chính Trị
mới được bầu của đảng Cộng Sản Việt
1. Nguyễn
Văn Linh, tổng bí thư. Tên thật là Nguyễn Văn Cúc, bí danh Mười Cúc,
sinh tại miền Bắc nhưng phần lớn cuộc đời hoạt động tại miền Nam.
Từ 1940, đă nhiều lần làm bí thư thành ủy
Sài G̣n. Trong chiến tranh Đông Dương II, từng là phó bí thư trung ương
Cục miền
2. Phạm
Hùng: thay Phạm Văn Đồng làm chủ tịch hội đồng bộ trưởng vào Tháng Sáu
năm 1987 nhưng được có mấy tháng th́ bị bệnh chết vào Tháng Ba năm 1988.
Phạm Hùng sinh năm 1912 tại miền
3. Vơ Chí
Công: tên thật là Vơ Toàn, sau khi Trường Chinh từ chức năm Tháng Sáu,
1987, lên thay chức chủ tịch nhà nước. Từng
hoạt động trong trung ương cục miền 4. Đỗ Mười: sinh năm 1917, thay Phạm Hùng làm thủ tướng từ Tháng Sáu năm 1988. Đỗ Mười sau năm 1954 là bí thư thành ủy Hải Pḥng, sau đó tham gia cải tạo công thương nghiệp miền Bắc. Năm 1976 là bộ trưởng Bộ Xây Dựng, năm sau được cử vào Nam, phụ trách “cải tạo công thương nghiệp” để tập thể hóa kinh tế miền Nam.
5. Vơ Văn
Kiệt: Phó thủ tướng kiêm chủ tịch ủy ban Kế Hoạch Nhà Nước.
Vơ Văn Kiệt, sinh năm 1922, sinh trưởng và
hoạt động ở miền 6. Lê Đức Anh: từ thứ 12 lên hàng thứ sáu. Tổng tham mưu trưởng quân đội thay Lê Trọng Tấn năm 1986 rồi thay Văn Tiến Dũng làm bộ trưởng quốc pḥng năm 1987. Từng làm cai thợ ở đồn điền cao su. Trong chiến tranh Đông Dương II, hoạt động ở vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long. Sau 1975 làm tư lệnh quân khu IX. Khi Trần Văn Trà bị mất chức trước năm 1979, Lê Đức Anh được lên thay làm tư lệnh quân khu VII, một quân khu quan trọng hơn, để từ đó chỉ huy công cuộc đánh chiếm Căm Pu Chia. Nhờ thân cận với Lê Đức Thọ ở Căm Pu Chia, Lê Đức Anh được cất nhắc vào Bộ Chính Trị năm 1982. 7. Nguyễn Đức Tâm: lên thay Lê Đức Thọ làm trưởng ban tổ chức trung ương đảng. Từng là bí thư tỉnh Quảng Ninh, sau đó làm phó ban tổ chức cho Lê Đức Thọ trong nhiều năm. 8. Nguyễn Cơ Thạch, bộ trưởng ngoại giao, tên thật là Phạm Văn Thương, sinh quán Nam Định, ủy viên dự khuyết Bộ Chính Trị từ năm 1982. 9. Đồng Sĩ Nguyên: tên thật Nguyễn Sĩ Đồng, trong chiến tranh Đông Dương II phụ trách bảo vệ đường ṃn Hồ Chí Minh rồi sau đó làm bộ trưởng Bộ Giao Thông Vận Tải. 10. Trần Xuân Bách: kiêm nhiệm trưởng ban đối ngoại trung ương. 11. Nguyễn Thanh B́nh: từng là cục trưởng cục hậu cần sau đó làm bộ trưởng nội thương rồi bí thư thành ủy Hà Nội, được nâng đỡ v́ là cháu rể của Lê Đức Thọ. 12. Đoàn Khuê: cựu tư lệnh Quân Khu V, năm 1987, được cử thay Lê Đức Anh làm tổng tham mưu trưởng quân đội, được thăng đại tướng năm 1990. Tới 1991 thay Lê Đức Anh làm bộ trưởng quốc pḥng. 13. Mai Chí Thọ, em của Lê Đức Thọ. Từng hoạt động ở miền Nam. Sau 1975, có lúc làm chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân thành phố HCM, kiêm nhiệm luôn vấn đề an ninh toàn miền Nam. Trước khi vào Bộ Chính Trị, là bí thư thành ủy thành phố HCM. Sau đó, năm 1987 được cử làm bộ trưởng Bộ Nội Vụ (1). Một ủy viên dự khuyết là Đào Duy Tùng. Trước đó, năm 1977, Tùng là tổng biên tập Tạp Chí Cộng Sản tới năm 1982, đổi qua làm giám đốc Việt Tấn Xă, sau đó được cử làm trưởng ban tuyên huấn đảng. Tới năm 1988, Đào Duy Tùng được thăng làm ủy viên thực thụ Bộ Chính Trị. Là một người tham vọng, mấy năm sau Tùng mưu toan tranh chức tổng bí thư nhưng thất bại. Trong thành phần của Bộ Chính Trị, chỉ có Trần Xuân Bách là có tư tưởng cấp tiến nhất, bằng ḷng chấp nhận đa nguyên đa đảng. Trần Xuân Bách tên thật là Vũ Thiện Tuấn, sinh tại Nam Định năm 1924, từng làm bí thư tỉnh ủy tại nhiều tỉnh tại miền Bắc. Năm 1981, khi Lê Đức Thọ về nước sửa soạn đại hội đảng, Trần Xuân Bách được cử lên thay làm trưởng đoàn B68 phụ trách cai trị Căm Pu Chia. Năm 1985, ông về nước, làm chánh văn pḥng ban bí thư trung ương đảng trước khi được cử làm ủy viên Bộ Chính Trị. Theo ông, “đổi mới kinh tế phải đi đôi với đổi mới chính trị. Phải đi bằng hai chân, không thể đi khập khiễng bằng một chân” (2). Ngoài ra, c̣n có ba ủy viên Nguyễn Văn Linh, Vơ Văn Kiệt và Nguyễn Cơ Thạch tương đối cởi mở, số c̣n lại phần lớn là những kẻ cơ hội. Đă được khuyến dụ và rèn luyện để trở thành đảng viên Cộng Sản, họ không thể nào một sớm một chiều chấp nhận những sai lầm hay yếu kém của chủ nghĩa đó. Ngoài ra, một khi trở thành đảng viên, họ và gia đ́nh đă được bước vào một giai cấp mới, được hưởng đặc quyền đặc lợi không những cho đến măn đời của ḿnh mà c̣n của đời con, đời cháu. Cho nên nếu có sự sửa đổi, sự sửa đổi này cũng chỉ miễn cưỡng và nửa vời. Hơn thế nữa, với ảnh hưởng của Lê Đức Thọ, một số những người cộng sản thủ cựu vẫn được cử vào Bộ Chính Trị như Nguyễn Đức Tâm, Mai Chí Thọ, Đào Duy Tùng, Lê Đức Anh... Giữa hai ủy viên cởi mở từ miền Nam là Nguyễn Văn Linh và Vơ Văn Kiệt cũng có bất ḥa. Nguyễn Văn Linh thường hay tố cáo Phan Thanh Nam, tổng giám đốc công ty quốc doanh Tradico tham nhũng và là con rơi của Vơ Văn Kiệt(3). V́ thế, sự đổi mới của Cộng Sản Việt Nam đă không được thực hiện một cách triệt để. Hai năm sau, với sự tan vỡ của khối Cộng Sản Đông Âu và vụ sinh viên biểu t́nh ở Thiên An Môn, đa số đảng viên từ cấp nhỏ đến cấp lănh đạo, kể cả Nguyễn Văn Linh, cảm thấy nguy cơ đảng bị tan ră, đảng viên sẽ bị mất hết ưu quyền nên đă trở lại áp dụng chính sách cứng rắn và đàn áp về chính trị, nhưng vẫn phải tiếp tục cởi mở hơn về kinh tế v́ nhờ vậy mà đời sống của nhân dân và nhất là của chính họ đă khá hơn. Họ gọi chính sách đó là “kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa”. Chính sách này không c̣n được học tập từ đồng minh Liên Xô nữa mà đă rập khuôn theo đường lối cai trị của “kẻ thù lâu đời và nguy hiểm” cũ là Trung Hoa. Kể từ 1986, Cộng Sản Việt Nam đă cố gắng đủ mọi cách, kể cả nhường đất đai, để cầu thân với Trung Hoa. Người may mắn nhất trong đại hội đảng lần này là Lê Đức Anh. Được bất ngờ lên chức bộ trưởng quốc pḥng sau khi Hoàng Văn Thái và Lê Trọng Tấn chết một cách đột ngột, Lê Đức Anh đă làm lại lư lịch. Trong lư lịch cũ, năm 1976, Lê Đức Anh khai thành phần bản thân là viên chức và vào đảng từ Tháng Bảy năm 1945, nhưng khi lên bộ trưởng Bộ Quốc Pḥng, Lê Đức Anh khai bản thân là công nhân và vào đảng từ năm 1938. Những đảng viên Cộng Sản lâu năm như Phạm Văn Xô (từng là xứ ủy Nam Bộ), Đồng Văn Cống, Năm Thi (chủ nhiệm hậu cần cục R) đều biết rơ lư lịch của Lê Đức Anh và đă báo cáo với Nguyễn Đức Tâm, vụ trưởng vụ tổ chức. Hơn mười năm sau, sau khi đă mất chức và được hỏi về việc này, Nguyễn Đức Tâm trả lời là năm 1986, đă có báo cáo với Lê Đức Thọ, nhưng Lê Đức Thọ nói là nên xếp lại. Sau đó, Nguyễn Văn Linh cũng được báo cáo, nhưng “không có ư kiến”. Đến thời Đỗ Mười th́ Lê Đức Anh đă được làm chủ tịch nước nên bỏ qua luôn. Mấy năm sau, trong những đại hội đảng VIII, IX và X, đều có thư tố cáo Lê Đức Anh khai man lư lịch nhưng những lúc sau này, thế lực của Lê Đức Anh đă rất mạnh nên nội vụ luôn luôn được “khoanh lại” (4). Ngoài những ủy viên Bộ Chính Trị phụ trách quyết định đường lối chính sách của quốc gia, những ủy viên trung ương đảng c̣n bầu ra một ban bí thư để phụ trách điều hành nội bộ đảng. Ban bí thư này ngoài bốn ủy viên Bộ Chính Trị là Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Đức Tâm, Trần Xuân Bách, Đào Duy Tùng c̣n có: - Trần Kiên, tên thật Nguyễn Tuấn Tài từng là bí thư các tỉnh Hải Pḥng, Gia Lai, Đạc Lắc và Nghĩa B́nh. Từ 1979 đến 1981 là bộ trưởng Bộ Lâm Nghiệp. Tới 1982, được đề cử vào ban bí thư và chủ nhiệm ban kiểm tra trung ương đảng. - Lê Phước Thọ: trưởng ban nông nghiệp đảng. - Nguyễn Quyết: trung tướng, từng là tư lệnh đặc khu Thủ Đô và quân khu III. Năm 1986 là phó chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị. Mấy tháng sau, thay Chu Huy Mân làm tổng cục trưởng. - Đàm Quang Trung, gốc người Tầy, năm 1979 là thiếu tướng tư lệnh quân khu I thay Chu Văn Tấn sau khi Chu Văn Tấn bị thanh trừng, năm 1982 được thăng trung tướng rồi phó chủ tịch Quốc Hội. - Vũ Oanh: trước 1975, hoạt động tuyên vận ở miền Nam, từng phụ tá cho Lê Đức Thọ và Trần Xuân Bách trong đoàn B 68 ở Căm Pu Chia. Năm 1991 được đề cử vào Bộ Chính Trị. - Nguyễn Khánh, chánh văn pḥng trung ương đảng thay Trần Xuân Bách, Nguyễn Khánh là người phụ trách đưa thư khuyến dụ từ chức của Lê Đức Thọ cho Trường Chinh và Phạm Văn Đồng. Năm 1987, ra làm phó thủ tướng kiêm tổng thư kư Hội đồng bộ trưởng. - Trần Quyết: trung tướng công an, từng là thứ trưởng Bộ Nội Vụ. - Trần Quốc Hương, năm 1982 ở trong ban thường vụ đảng ủy thành phố HCM. Năm 1983 đổi sang làm phó bí thư thành ủy Hà Nội. 1986 làm tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch. Cùng với Mai Chí Thọ, Trần Quốc Hương là người ra lệnh phá bỏ nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi ở Sài G̣n. - Phạm Thế Duyệt: người tỉnh Thái B́nh, từng là phó rồi chủ tịch công đoàn, sau này cũng được vào Bộ Chính Trị. Sau khi Nguyễn Văn Linh lên làm Tổng bí thư, Trần Độ lại được tái bổ nhiệm làm trưởng ban Văn nghệ trung ương đảng, nhưng khi làn sóng đổi mới văn hóa bắt đầu nổi lên, ảnh hưởng đến uy quyền tuyệt đối của đảng th́ những đảng viên cao cấp bị giao động, Bộ Chính Trị sát nhập ban này vào Ban Tư Tưởng Văn Hóa do Trần Trọng Tân làm trưởng ban. Tới 1988, sau khi Nguyễn Văn Linh thay đổi đường lối, Trần Độ lại bị mất chức và sau đó, bị khai trừ ra khỏi đảng, cùng lúc với nhà văn Nguyên Ngọc, bí thư đảng đoàn của Hội Nhà Văn cũng bị mất chức v́ trong bản “Đề Dẫn” đọc ở Hội Nhà Văn đă viết câu “người viết vẫn cứ viết mà không thật tin ở những điều ḿnh viết ra”. Việc “đổi mới tư duy” đầu tiên của đại hội đảng lần thứ sáu là quyết định bỏ câu “Trung Hoa là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất” trong lời mở đầu điều lệ đảng, đánh dấu một sự thay đổi quan trọng trong đường lối đối ngoại. Vài ngày sau đại hội đảng, vào Tháng Giêng năm 1987, Ban Chấp hành Trung ương đảng lại họp hội nghị và đề cử nhân viên chính phủ. Lần này, Vơ Chí Công được cử làm chủ tịch nhà nước, Phạm Hùng được cử làm chủ tịch hội đồng bộ trưởng thay Phạm Văn Đồng. Nội các của Phạm Hùng gồm có 32 bộ trưởng, trong đó những bộ trưởng chính gồm có: - Phó chủ tịch kiêm tổng thư kư Hội Đồng Bộ Trưởng: Nguyễn Khánh. - Phó chủ tịch HĐBT kiêm bộ trưởng ngoại thương: Đoàn Duy Thành. Đoàn Duy Thành trước đây là tỉnh ủy Hải Pḥng, sau này làm chủ tịch pḥng thương mại. Năm 2006 viết cuốn hồi kư “Làm Người Là Khó, Làm Người Xă Hội Chủ Nghĩa Càng Khó Hơn” mà mục đích chính là để chỉ trích Đỗ Mười, người đă chèn ép con đường tiến thân của ông. Trong cuốn sách, Đoàn Duy Thành cũng kể lại là ông ta là người được Lê Duẩn cứu xét để cho làm tổng bí thư. Cuốn sách bị những người trong phe bảo thủ chỉ trích và giám đốc nhà xuất bản bị Bộ Thông Tin Văn Hóa khiển trách. - Bộ trưởng quốc pḥng: Lê Đức Anh. - Bộ trưởng ngoại giao: Nguyễn Cơ Thạch. - Bộ trưởng nội vụ: Mai Chí Thọ. - Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch nhà nước: Vơ Văn Kiệt, phụ tá là Đậu Ngọc Xuân. - Chủ nhiệm Ủy ban hợp tác kinh tế văn hóa với Ai Lao và Căm Pu Chia: Đặng Thí (5). - Chủ nhiệm Ủy ban Vật giá Nhà nước: Phạm Văn Tiệm. - Bộ trưởng Tài chánh: Hoàng Quy. - Tổng giám đốc Ngân hàng Nhà nước: Lữ Minh Châu. - Bộ trưởng Vật tư: Hoàng Đức Nghi. - Bộ trưởng Xây dựng: Phan Ngọc Tường. - Bộ trưởng Giao thông Vận tải: Bùi Danh Lưu. - Bộ trưởng Công nghiệp nhẹ: Vũ Tuấn. - Bộ trưởng Văn hóa: Trần Văn Phác. - Bộ trưởng Thông tin: Trần Hoàn (từng là trưởng ty văn hóa ở Huế sau 1975, tác giả bài Sơn Nữ Ca). - Bộ trưởng Tư pháp: Phan Hiền, từng là thứ trưởng Ngoại giao. - Bộ trưởng Y tế: Đặng Hồi Xuân (vài năm sau, Đặng Hồi Xuân bị tử nạn máy bay khi sang Vọng Các họp một hội nghị về y tế). - Đoàn Khuê được cử thay Lê Đức Anh làm tổng tham mưu trưởng quân đội. - Nguyễn Quyết thay Chu Huy Mân làm chủ nhiệm tổng cục Chính trị. Tháng Tư năm 1987, Việt Nam cho bầu cử Quốc Hội khóa 8 và sau khi Trần Độ từ chối, Nguyễn Đức Tâm, trưởng ban tổ chức đảng xếp đặt cho Lê Quang Đạo làm chủ tịch. Kỳ bầu cử này, ngoài các cán bộ được chỉ định, đảng Cộng Sản c̣n cho vào quốc hội một số nhỏ những nhân vật cơ hội không phải đảng viên như Phan Khắc Từ, Thích Minh Châu, Lư Chánh Trung, Nguyễn Xuân Oánh, bà Ngô Bá Thành... Bác Sĩ Dương Quỳnh Hoa được mời ứng cử nhưng từ chối. Sau năm 1975, dù đă được cử làm thứ trưởng Y tế, bà đă nhiều lần, kể cả khi gặp Phạm Văn Đồng, xin ra khỏi đảng nhưng chỉ được chấp thuận năm 1979 với điều kiện là việc ra khỏi đảng của bà chỉ được tiết lộ 10 năm sau. Sau này, khi được hỏi về biến cố lịch sử nào trọng đại nhất trong 50 năm qua, bà trả lời là sự sụp đổ của bức tường Bá Linh, v́ biến cố đó đă chấm dứt một “đại ảo tưởng”. Ngoài bà Dương Quỳnh Hoa, những người thuộc Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam cũ như Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Thị Định... được sắp xếp cho làm phó chủ tịch nhà nước. Chức vụ này chỉ có hư danh, dành cho những người sắp bị loại. Bà Hoa đă từng nói thẳng với Nguyễn Hữu Thọ là họ chỉ là “h́nh nộm, mặt nạ hay vài món trang sức rẻ tiền” của chế độ. Trong những năm đầu của chính sách đổi mới, Cộng Sản Việt Nam vẫn chỉ có một chỗ dựa duy nhất là Cộng Sản Liên Xô. Sau khi đă sắp xếp xong nội các, ngày 17 Tháng Năm 1987, đến lượt Nguyễn Văn Linh bay sang Liên Xô để gặp Gorbachev. Gorbachev vạch rơ cho Nguyễn Văn Linh những kinh nghiệp về sự tŕ trệ của kinh tế xă hội chủ nghĩa, sự cần thiết phải giao thương với những nước tư bản và khuyến cáo Việt Nam nên giải quyết vấn đề Căm Pu Chia sớm ngơ hầu ḥa hoăn được với Trung Hoa. V́ thế, sau khi từ Liên Xô trở về, ngày 23 Tháng Năm 1987, Nguyễn Văn Linh đă viết ngay một loạt bài “Những việc cần làm ngay” đăng trên báo Nhân Dân hô hào “đổi mới tư duy” và ngày 26 Tháng Năm 1987, Linh họp Bộ Chính Trị thông báo về những khuyến cáo của Liên Xô (6). Trong thời gian đó, trong bước đầu lấy ḷng Trung Hoa, Bộ Ngoại Giao đă làm tờ tŕnh lên Bộ Chính Trị xin bỏ câu nói “Trung Quốc là kẻ thù trực tiếp và nguy hiểm nhất” trong lời mở đầu của Hiến pháp. Sau phái đoàn của đảng Cộng Sản Việt Nam do Nguyễn Văn Linh hướng dẫn sang gặp Gorbachev, những phái đoàn chính phủ và quân đội cũng lần lượt bay sang Liên Xô để học kinh nghiệm và xin ư kiến. Phái đoàn chính phủ do Phạm Hùng hướng dẫn sang Mạc tư Khoa vào ngày 12 Tháng Sáu 1987 và phái đoàn quân đội do Nguyễn Quyết, chủ nhiệm tổng cục Chính trị, sang ngày 19 Tháng Sáu 1987. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi sau đại hội VI, Việt Nam lại học tập khuôn mẫu của Liên Xô để thực hiện sự thay đổi. Từ Liên Xô về, Nguyễn Văn Linh bắt đầu thi hành hàng loạt những biện pháp “đổi mới”. Trước hết về kinh tế, được thấy rơ bản chất thiếu năng động và sự tŕ trệ của nền kinh tế Liên Xô, được thông báo về kết quả thảm hại của nó sau hơn sáu chục năm xây dựng xă hội chủ nghĩa, và được chứng kiến sự phát triển kinh tế nhảy vọt của những nước lân bang, Cộng Sản Việt Nam đành chấp nhận sự thất bại của hệ thống kinh tế tập trung và bắt đầu đưa ra những phương cách sửa đổi lại. Dù cho những biện pháp tư nhân hóa và tản quyền kinh tế như vậy đi ngược lại với giáo điều Mác xít, họ vẫn muốn giữ ưu quyền độc tôn của Đảng để gọi chính sách kinh tế của họ là “kinh tế thị trường theo định hướng xă hội chủ nghĩa”. Những biện pháp cởi mở kinh tế được đưa ra gồm có: - Giải trừ việc tập thể hóa nông nghiệp. - Để cho những công ty quốc doanh được độc lập hơn. - Băi bỏ những trạm thuế quan từ địa phương này sang địa phương khác. - Hoàn chỉnh lại Luật đầu tư để các công ty ngoại quốc dễ dàng đem vốn vào Việt Nam đầu tư. - Băi bỏ độc quyền của Nhà nước trong việc buôn bán với nước ngoài. - Cho phép các công ty tư nhân thuê dùng mười nhân công trở xuống. - Giải thể bớt những cơ quan và bộ máy hành chánh hoạch định kế hoạch kinh tế trung ương. - Bớt đi 15 % nhân viên nhà nước. - Trả lại một số những xí nghiệp ở miền Nam đă bị nhà nước tịch thu sau 1975. - Băi bỏ chế độ “bao cấp”, theo đó công nhân viên ngoài lương bổng, tùy theo chức vụ mà được lănh một số nhu yếu phẩm (như gạo, đường, thịt, thuốc lá...) nhất định. Nhờ những biện pháp đổi mới, trong ṿng 2, 3 năm sau, nền kinh tế của Việt Nam bắt đầu hồi phục và phát triển. Nông dân không c̣n bị bó buộc lao động trong tập thể đă gia tăng sản xuất cho nên mấy năm sau, Việt Nam đă bắt đầu xuất cảng lúa gạo. Những cơ xưởng kỹ nghệ nhẹ sản xuất hàng tiêu dùng cũng bộc phát. Nhờ vị trí thiên nhiên thuận lợi, dân trí cao, nhân công được tiếng là cần cù siêng năng nên dù có phần nào bị g̣ bó do cấm vận, những nhà đầu tư ngoại quốc bắt đầu đổ tiền vào đầu tư. Ngoài ra, những giếng dầu hỏa ngoài khơi đă khai thác được đồng thời với nhu cầu về dầu hỏa trên thế giới tăng lên nhanh chóng. Thêm vào đó, tiền bạc của người Việt hải ngoại gửi về mỗi năm hang tỷ Mỹ kim đă giúp cho kinh tế của Việt Nam kể từ 1991 đă phát triển đều đặn từ 6 đến 8% mỗi năm trong liên tiếp 6, 7 năm. Tuy nông nghiệp và những xí nghiệp tư doanh đă đóng góp lớn lao cho việc hồi phục kinh tế, chính quyền Cộng sản lúc nào cũng nhắm ưu tiên cho việc phát triển những công ty quốc doanh, dù trong khoảng 6,000 công ty quốc doanh này, đa số bị lỗ vốn. Do việc phát triển nền kinh tế thị trường, một số luật lệ kinh doanh cần đặt ra. Tuy đại hội VI của đảng Cộng sản bắt đầu nhấn mạnh đến quan niệm “nhà nước pháp quyền” để điều hành kinh tế theo luật pháp, nhưng đại hội cũng vẫn xác nhận lại cái “pháp chế xă hội chủ nghĩa” có nghĩa “đảng lănh đạo, nhà nước quản lư, nhân dân làm chủ” nhằm bảo vệ quyền lợi của Đảng. Trước năm 1986, trong 8914 văn kiện luật pháp, chỉ có 62 đạo luật là do Quốc Hội biểu quyết, số c̣n lại hoặc là chỉ thị, hoặc thông tư, hoặc nghị quyết do Đảng hay chính phủ đưa ra. Họ giải thích luật pháp của họ như sau: “Luật pháp của chúng ta khác với luật pháp tư sản. Luật của chúng ta nhằm phát triển đất nước chúng ta theo định hướng xă hội chủ nghĩa, trong khi luật của các quốc gia tư sản là nhằm bảo vệ cho bọn tư bản”. Do sự mơ hồ của luật lệ, nếu có tranh chấp giữa xí nghiệp tư nhân và nhà nước, chắc chắn phía nhà nước sẽ thắng. Ngoài ra, nếu một xí nghiệp tư nhân có làm mất ḷng hay dám cạnh tranh với một công ty nhà nước, họ không những có thể bị truy tố về những vi phạm kinh tế mà c̣n có thể bị suy diễn sang thành tội chính trị, phá hoại quốc gia. Để chắc ăn, thường là những công ty tư nhân phải dựa dẫm vào một vài cán bộ cao cấp nào đó làm “ô dù”. Từ đó tham nhũng nảy sinh. Hệ thống cho vay tiền ngân hàng cũng thế. Một cái thư giới thiệu của một cán bộ hay ủy viên cao cấp sẽ giúp cho việc vay tiền được dễ dàng. Điển h́nh của việc đầu tư làm ăn ở Việt Nam là Nguyễn Trung Trực, một Việt kiều hải ngoại ở Úc về thành lập công ty Peregrine. Công ty này bắt đầu kinh doanh nhập cảng thuốc tây từ năm 1990. V́ có một công ty của nhà nước không chịu trả tiền, ông ta nhờ người quen bên vợ là bộ trưởng Bộ Công An Bùi Thiện Ngộ và vợ của phó thủ tướng Trần Dức Lương làm “ô dù” để can thiệp. Từ đó, trong thời gian Bùi Thiện Ngộ làm bộ trưởng, công ty của Nguyễn Trung Trực làm ăn rất phát đạt, được báo chí nhà nước ca tụng là “một tư nhân ngoại quốc đầu tư thành công” nhưng đến năm 1996, khi Bùi Thiện Ngộ (phe của đảng) bị loại khỏi Bộ Chính Trị, th́ Nguyễn Trung Trực bị “phe chính phủ” (của Vơ Văn Kiệt) đưa ra ṭa về tội trốn thuế, mục đích chính là để Trần Đức Lương cũng bị mang tiếng. V́ những người điều hành guồng máy nhà nước từ trên xuống dưới đều nằm trong tay những đảng viên đang nắm đặc quyền đặc lợi, trong đó những người tương đối có học hay có dịp ra nước ngoài đều được đào tạo ở Liên Xô hay Đông Âu là những nơi mà luật pháp chỉ dùng vào mục tiêu chính trị cho nên vấn đề thi hành những biện pháp đổi mới kinh tế đă được thi hành một cách tùy tiện, tùy theo hoàn cảnh hay địa phương. Về phương diện văn hóa tư tưởng, mấy tháng sau ngày đại hội đảng, không khí đổi mới c̣n tưng bừng nhộn nhịp, trong hai ngày 6 và 7 Tháng Mười năm 1987, trưởng ban văn hóa Trần Độ đă tổ chức để cho Nguyễn Văn Linh gặp gỡ khoảng gần 100 văn nghệ sĩ gồm có Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Nguyên Ngọc, Nguyễn Minh Châu, Dương Thu Hương, Lưu Quang Vũ, Nguyễn Khắc Viện... Trong buổi họp mặt, những văn nghệ sĩ đă phát biểu trung thực cảm nghĩ của họ và Nguyễn Văn Linh cũng tuyên bố “cởi trói” cho văn nghệ, đồng thời cũng nhắc nhở văn nghệ sĩ “đừng bao giờ uốn cong ng̣i bút”. Nghị quyết số 5 của Bộ Chính Trị Tháng Mười Hai năm 1988 cũng đề ra những mục tiêu cởi mở tích cực: “Văn học, nghệ thuật góp phần tích cực cho cuộc đấu tranh để mở rộng và làm sâu sắc thêm quá tŕnh dân chủ hóa mọi mặt của đời sống đất nước, cổ vũ nhiệt t́nh cho công cuộc đổi mới, tích cực tham gia giải quyết việc giải phóng những tiềm năng của đất nước, thực hiện thắng lợi nhiệm vụ kinh tế xă hội do Nghị quyết của đại hội VI của Đảng đề ra”. Được nới lỏng sự kiểm soát, những văn nghệ sĩ bắt đầu viết về những tệ nạn của xă hội và ngay cả của đảng, của chính quyền một cách táo bạo hơn. Điển h́nh nhất là Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Tụ. Tháng Chín năm 1988, dưới bút hiệu Hà Sĩ Phu, ông đưa ra bài tham luận “Dắt Tay Nhau Đi Dưới Tấm Biển Chỉ Đường Của Trí Tuệ”, nêu lên những sai lầm của chủ nghĩa Cộng sản. Ông Nguyễn Xuân Tụ có bằng tiến sĩ sinh học, từng du học ở Tiệp Khắc và làm viện phó học Viện Khoa Học Đà Lạt. V́ không chịu vào đảng, ông bị ép phải về hưu sớm. Trong bài tham luận, ông viết: “Ngày bác Hồ ra đi t́m đường cứu nước th́ cứu nước mưu hạnh phúc cho dân là mục đích chính, chủ nghĩa Mác Lê chỉ là phương tiện. Nhưng rồi dần dần lại phát sinh cái tín ngưỡng ‘dâng tất cả để tôn thờ chủ nghĩa’. Lạ như vậy đấy, chủ nghĩa với tư cách là con đường, là phương tiện th́ nó là cái để ta dùng chứ sao lại là cái để ta thờ”. Từ đó, Hà Sĩ Phu liên tiếp bị bắt giữ, tra xét nhà cửa, tịch thu máy vi tính hay tài liệu (7). Ngoài Hà Sĩ Phu có những đảng viên khác như Bùi Minh Quốc, từng là tổng biên tập báo Lang Bian cũng bất măn với đảng. Năm 1988, ông đi một ṿng khắp nước kêu gọi văn nghệ sĩ và trí thức đ̣i hỏi đảng Cộng sản mở rộng tự do dân chủ và báo chí (8). Trở về, ông bị mất chức và bị trục xuất khỏi đảng, sau đó liên tiếp bị bắt giữ. Một nhà văn khác là Vũ huy Cương, từng bị ở tù nhiều năm, sau khi ra tù viết thư ủng hộ Trần Độ cũng bị công an bắt lại (9). (C̣n tiếp) |