Nhân sự lănh đạo ĐCSVN – Nhận định (1)

 

Nhận định sơ lược về nhân sự lănh đạo, chiến lược phát triển quốc gia và đường lối chính trị của đảng CSVN sau đại hội X.
Đề nghị một phương hướng tranh đấu (cho những nhà dân chủ tiền phong) nhằm thúc đẩy tiến tŕnh dân chủ hóa Việt Nam.

Trương Nhân Tuấn
 

Đại hội lần thứ X của đảng CSVN vừa kết thúc. Thành phần nhân sự cấp lănh đạo được lựa chọn (hay sa thải) theo thực tiễn và theo tiêu chuẩn của người cộng sản. Ba bản báo cáo chính trị quan trọng về đảng và đường lối đảng, về nguyên tắc lănh đạo và phương hướng phát triển đất nước trong thời kỳ đổi mới được đại hội đại biểu lần thứ X thông qua. Ba văn kiện này được lần lượt công bố trên báo Nhân Dân. Bản thứ nhứt dài 30 trang A4, đăng vào ngày 6 tháng 6, là bản “báo cáo chính trị của ban chấp hành trung ương đảng khoá IX tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của đảng CSVN”. Đây là văn kiện quan trọng nhứt, có tựa đề viết như một biểu ngữ tuyên truyền: “Nâng cao năng lực lănh đạo và sức chiến đấu của đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi t́nh trạng kém phát triển”. Bản thứ hai dài khoảng 46 trang A4, đăng vào ngày 7 tháng 6, đề tựa: “kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ IX của Đảng về phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế xă hội 5 năm 2001 2005 và đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xă hội 5 năm 2006-2010 nhằm thực hiện thắng lợi chiến lược 10 năm 2001 - 2010, xây dựng nền tảng để đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.” Bản thứ ba dài khoảng 24 trang A 4, đăng vào ngày 10 tháng 6, tựa: “Báo cáo công tác xây dựng Đảng kiểm điểm, đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội IX, đồng thời đánh giá khái quát về t́nh h́nh Đảng và công tác xây dựng Đảng qua 20 năm đổi mới, xác định mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp của nhiệm kỳ tới.” Cùng lúc bản “điều lệ nội qui” mới của đảng CSVN cũng được công bố. Đây cũng là một yếu tố quan trọng đáng chú ư. Các văn kiện trên đây được đóng lại thành nhiều tập sách (5 tập).

So sánh văn kiện thứ nhứt và bản dự thảo đại hội đă công bố vào khoảng tháng 3 năm 2006 ta thấy không có sai biệt lớn. Văn kiện thứ nhứt là do bản dự thảo sửa đổi chút ít kết thành. Đây là văn kiện chủ yếu, có tính tổng quát, nội dung gồm hai phần: phần nói về quốc gia và phần nói về đảng. Hai phần này được hai văn kiện sau khai triển rộng răi. Văn kiện thứ hai nói về phát triển quốc gia và thành quả 5 năm vừa qua. Văn kiện được tŕnh bày theo lối “phê b́nh và tự phê b́nh”, đưa ra những thành tựu và những yếu kém về các mặt kinh tế, văn hóa xă hội và an ninh quốc pḥng. Việc tŕnh bày bề mặt tưởng như khách quan, khoa học, nhưng nh́n sâu th́ thấy đầy dẫy thói kiêu ngạo, chủ quan cộng sản, mị dân v.v… Luận điệu “mất mùa th́ tại thiên tai, được mùa nhờ bởi thiên tài đảng ta” vẫn c̣n thể hiện rơ rệt. Văn kiện này cũng đưa ra những nhận định chiến lược phát triển quốc gia cho 5 năm (và tới năm 2020) nhưng rất chung chung. Các phương hướng và mục tiêu về kinh tế, xă hội tuy cao xa nhưng chúng không có tính thuyết phục ; khó có thể đạt được v́ những lư do như khả năng chuyên môn nhân sự lănh đạo quá kém cơi, hành chánh cồng kềnh, kinh tế kềm hăm do sức tŕ “xă hội chủ nghĩa”, nạn tham nhũng, hạ tầng cơ sở lạc hậu, chuyên viên và công nhân tay nghề không đạt tiêu chuẩn, thiếu vốn chất xám cũng như vốn tư bản v.v…. Văn kiện thứ ba nói về đảng. Có một số điều đáng chú ư trong văn kiện này như đảng CSVN tiếp tục “kiên định chủ nghĩa Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xă hội, không đa nguyên, đa đảng”, đảng viên được phép làm kinh tế tư nhân v.v..


Phần thứ nhứt: nhân sự lănh đạo.

Nhân sự được lựa chọn vào ban chấp hành trung ương đảng khóa X gồm có 160 ủy viên chính trức và 21 ủy viên dự khuyết. Bộ chính trị gồm có 14 người. Đó là: Nông Đức Mạnh (Bắc Cạn), Lê Hồng Anh (Kiên Giang), Nguyễn Tấn Dũng (Cà Mau), Nguyễn Minh Triết (B́nh Dương), Trương Tấn Sang (Long An), Nguyễn Phú Trọng (Hà Nội), Phạm Gia Khiêm (Hà Nội), Phùng Quang Thanh (Vĩnh Phúc), Trương Vĩnh Trọng (Bến Tre), Lê Thanh Hải (Tiền Giang), Nguyễn Sinh Hùng (Nghệ An), Nguyễn Văn Chi (Đà Nẵng), Hồ Đức Việt (Nghệ An) và Phạm Quang Nghị (Thanh Hóa). Phe miền Nam chiếm đa số 6 người, Trung có 4 người và Bắc có 3 người. Phe miền Bắc nắm tổng bí thư đảng (Nông Đức Mạnh) và quân đội (Phùng Quang Thanh). Phe miền Nam, nếu không có ǵ thay đổi, sẽ nắm Thủ Tướng (Nguyễn Tấn Dũng) và công an (Lê Hồng Anh). 4 người miền Trung được sắp hạng chót bảng danh sách. Ông Lê Hồng Anh thứ nh́ và Nguyễn Tấn Dũng thứ ba. Chủ tịch nước có thể sẽ về tay phe miền Nam (Lê Hồng Anh hay Nguyễn Minh Triết) và chủ tịch Quốc Hội vào tay phe miền Bắc (Nguyễn Phú Trọng).

 

Bộ Chính Trị Đảng CSVN (Khoá X)
Nguồn: laodong.com.vn

Những người được ngồi lại từ bộ chính trị khoá 9 là các ông Nông Đức Mạnh, Nguyễn Minh Triết, Nguyễn Tấn Dũng, Lê Hồng Anh (từ hạng 9 lên hạng 2) và Trương Tấn Sang. Ngoài ông Nông Đức Mạnh, những người c̣n lại là người miền Nam.

I. Nhận xét về nhân sự ở một số bộ sau 5 năm làm việc: Những ổ sâu dân, mọt nước.

Lẽ ra theo thực tiễn th́ chúng ta chỉ được 1/3. Nhưng sau đàm phán, chúng ta và bạn đă thỏa thuận thác Bản Giốc được chia đôi, mỗi bên được 50%”. – Lê Công Phụng (28/1/2002)
Nguồn: vietnamnet.vn


1/ Nhân sự Bộ Ngoại Giao: Tập đoàn làm nhục quốc thể: Không có người nào thuộc bộ Ngoại Giao vô trung ương đảng. Có người giải thích rằng những người không vô được trung ương đảng v́ quá hạn tuổi như các ông Lê Công Phụng, Lê Văn Bàng, hay Nguyễn Phú B́nh… Người viết nghĩ khác. Toàn bộ nhân sự bộ ngoại giao không ai vô được trung ương v́ nhân sự bộ này trong 5 năm qua đă không làm được việc nào hữu ích. Ngược lại, họ đă gây thiệt hại rất nhiều cho Việt Nam, nhất là các hiệp ước về biên giới. Ông bộ trưởng Nguyễn Dy Niên có trách nhiệm về hiệp ước phân định vịnh Bắc Việt làm VN thiệt hại 11.000 km². Thứ trưởng Lê Công Phụng trách nhiệm không nhỏ về hiệp ước phân định biên giới trên đất liền. Về các mặt khác cũng không khá hơn. Ông Vũ Khoan tỏ ra bất lực trong vụ thương lượng WTO. Đến sau khi đại hội X bế mạc th́ mới có những cuộc chạy nước rút. Nhưng theo những chuyên gia kinh tế, những ǵ VN đă thỏa thuận với Hoa Kỳ đều bất lợi cho phía Việt Nam, nhất về nông nghiệp.

Bộ ngoại giao cũng đă thất bại, đem lại nhục nhă cho dân tộc VN, trong vụ hải quân Trung Cộng bắn giết ngư dân VN tháng 3 năm 2005 trong vịnh Bắc Việt. Đến nay gia đ́nh nạn nhân không nhận được một đồng bồi thường, thậm chí không một lời xin lỗi từ phía Trung Cộng. Thực tế cho thấy bộ Ngoại Giao VN đứng ngoài vụ sát nhân này.

Vấn đề phụ nữ VN bị bán hay gạt qua Đài Loan làm nô lệ t́nh dục, nhục nhă đủ điều, nhục luôn quốc thể. Đàn bà Việt Nam đă trở thành món hàng đem bán đấu giá trên mạng internet, trong lồng kính tại chợ Singapour, ở chợ trời xứ Mă Lai v.v… Thế giới lên tiếng, nhưng bộ ngoại giao VN chưa có lần lên tiếng. Các vụ công nhân VN bị ngược đăi tại Samoa, tại Indonesie, Mă Lai … cũng không hề nghe một lời can thiệp từ bộ ngoại giao VN. Trẻ em VN bị bán sang các nước để làm nô lệ t́nh dục, như bên Kampuchia, thế giới lên án, bộ Ngoại Giao không hề lên tiếng can thiệp hay bênh vực. Hầu hết các ṭa đại sứ VN (trực thuộc bộ ngoại giao) ở các nước đều dửng dưng trước những khó khăn của những người Việt sang nước ngoài theo diện hợp tác lao động. Ai cần, muốn giúp ǵ th́ phải đưa tiền. Nhân viên sứ quán t́m cách làm khó dễ kiều bào để ăn hối lộ trong dịch vụ Visa. Đây là bộ Ngọai Giao hay là bộ Làm Khó nhân dân? Nhân viên bộ Ngoại Giao VN c̣n nổi danh về các vụ buôn lậu. Khốn nạn hơn, bộ Ngoại Giao VN đă liên hệ với bộ ngoại giao các nước Nam Dương và Mă Lai yêu cầu đập bỏ các bia tưởng niệm những thuyền nhân bỏ ḿnh trên đường đi t́m tự do của đồng bào hải ngoại dựng lên.

Nhân viên cao cấp bộ ngoại giao kẻ th́ ăn cắp, kẻ th́ ṃ trộm ṣ, người th́ giở tṛ tồi bại với phụ nữ ngoài công chúng… Báo chí quốc tế loan tải, nhà nước Việt Nam ngậm tăm, thật là nhục cho quốc thể.
Nh́n lại kết quả 5 năm, bộ ngoại giao có cũng như không. Không ai làm được việc ǵ hết, ngoài việc làm bậy. V́ thế, toàn bộ nhân sự bộ Ngoại Giao không ai được vào trung ương kỳ này là đúng. Nếu ở xứ tự do dân chủ, toàn bộ nhân sự bộ ngoại giao phải trả lời trước quốc hội và luật pháp về các việc làm thiệt hại cho đất nước cũng như các việc làm nhục quốc thể.

2/ Nhân sự Bộ Giáo Dục: cũng không ai được vào lại trung ương. Bởi v́ nhân viên bộ này không làm được việc ǵ ngoài các vụ tai tiếng. Khảo sát tŕnh độ học sinh, sinh viên là biết học đường dạy thế nào. Sinh viên VN tốt nghiệp nhưng không có việc làm v́ khả năng làm việc không phù hợp hay không đúng tiêu chuẩn xí nghiệp đ̣i hỏi. Bằng cấp giả lan tràn, ông cán bộ nào bây giờ cũng là tiến sĩ. Giáo tŕnh không giúp cho học tṛ khai trí mà chỉ là một phương pháp cho cán bộ ḅn rút tiền nhà nước. Báo chí trong nước nói giáo dục VN xuống cấp. Thực ra giáo dục VN không có cấp nào nữa để xuống. Đă ở tận đáy rồi.

Báo chí trong nước đăng quá đủ, người viết không nhắc lại. Nói chung, bộ Giáo Dục có cũng như không, nó chỉ là một gánh nặng cho người dân

Đại tướng Út Anh, “siêu bộ trưởng”.
Nguồn/Ảnh: vietnamnet.vn/Trang Dũng

3/ Bộ Công An và Quốc Pḥng: Đây là hai bộ có nhiều nhân sự vô được trung ương. Ông Lê Hồng Anh khi thay thế Lê Minh Hương bị đột tử lên làm bộ trưởng bộ Công An th́ có nhiều người phê b́nh đảng CSVN hết người nên chọn một người không rành về công an lên lănh đạo công an. Đây là một nhận định hết sức sai lầm. Xem nội qui CSVN, chương VI, điều 25 th́ sẽ thấy việc bổ nhiệm ông Lê Hồng Anh lên làm bộ trưởng bộ Công An là một việc rất b́nh thường. Thực tế chứng minh ông Anh đă làm việc này rất có kết quả. Tất cả sinh hoạt xă hội đều nằm trong kiểm soát của công an. Nghe nói sắp tới bộ Công An có thể sẽ phân ra làm hai, gồm bộ công an và bộ an ninh. Ông Lê Hồng Anh sẽ nắm cả hai bộ, trở thành “siêu bộ trưởng”. Nếu vậy th́ Việt Nam có thể chuyển sang chế độ công an trị do ông Lê Hồng Anh lănh đạo.

Về quân đội th́ lúc nào cũng “bí mật quốc pḥng” nên không thể biết ra sao. Không có một vụ Lư Tống thứ hai để biết khả năng không quân thế nào. Riêng hải quân th́ qua vụ ngư dân bị thảm sát trong vịnh Bắc Việt năm 2005 cho thấy họ không hiện hữu. Hơn nữa, cơn băo Trân Châu vừa qua, hàng trăm ngư dân Việt Nam bị thiệt mạng do tin tức thời tiết sai lầm, không cập nhật. Hiện nay có một số nhân vật trong nước bị khiển trách. Thực ra hải quân VN cũng có trách nhiệm lớn nhưng không nghe nói tới. Nhân đó hải quân cũng giữ luôn im lặng. Cũng nghe nói Hải Quân VN được trang bị chiến hạm mới, nhưng là chiến hạm… mới thải của hải quân Nga. Vụ này cũng như vụ hàng không Việt Nam, trả tiền “đồ xịn” nhưng nhận “đồ dổm”, hoặc kiểu “bê tông cốt tre” của vụ PMU 18. Không biết vụ này đă điều tra tới đâu? Bờ biển VN th́ dài, hải quân như thế làm sao giữ được lănh thổ, lănh hải?

4/ Bộ Y Tế: cũng không có người nào được ở lại. Đây cũng là một ổ tham nhũng, ḅn rút của cải người dân. Báo chí trong nước không dám bươi móc. Cô kư giả Lan Anh, là nạn nhân của bộ Y Tế, khi cô này viết về một bê bối thuốc men của bà bộ trưởng. Tham nhũng có thật nhưng không bị pháp luật trừng phạt, người tố cáo tham nhũng th́ bị. Một đất nước quái đản ! Hy vọng báo chí trong nước quay lại soi vào cái ổ sâu mọt này để người dân khi bệnh c̣n có thể mua thuốc uống.
Các bộ khác như bộ GTVT với vụ án trứ danh PMU 18 điển h́nh là những ổ tham nhũng lớn, những con mọt nước. Báo chí trong nước đă nói nhiều, người viết miễn bàn thêm.
 


Nhân sự lănh đạo ĐCSVN – Nhận định (2)

Nhận định sơ lược về nhân sự lănh đạo, chiến lược phát triển quốc gia và đường lối chính trị của đảng CSVN sau đại hội X.
Đề nghị một phương hướng tranh đấu (cho những nhà dân chủ tiền phong) nhằm thúc đẩy tiến tŕnh dân chủ hóa Việt Nam.

Trương Nhân Tuấn

II. Nhận xét về tổng bí thư Nông Đức Mạnh: Thời thế tạo anh hùng.

Ông Nông Đức Mạnh lại được “bầu” làm Tổng Bí Thư thêm một “nhiệm kỳ”. Đây là một điều ngạc nhiên. Nhưng so với năm 2001, đại hội IX bầu ông Mạnh lên để thay thế Lê Khả Phiêu, đây không phải là ngạc nhiên mà là một điều bí ẩn.

Đến nay vẫn chưa thấy ai đưa ra nguyên do thuyết phục, có thể lư giải v́ sao một đảng viên b́nh thường gốc dân tộc thiểu số Tày, không có công trạng nào với đảng, không tham gia chiến tranh 54-75 ở chiến trường miền Nam, bị phê b́nh là không có khả năng lănh đạo, không có phe cánh trong đảng, không được mọi người biết đến… lại được các đảng viên bầu lên cấp lănh đạo tối cao của đảng. Bầu đến hai lần. Lạ lùng hơn, năm 2006, ông Mạnh đă quá tiêu chuẩn 65 tuổi để ở lại trung ương. Ông Mạnh năm nay đă 66 tuổi. Ông Lê Khả Phiêu bị loại năm 2001 v́ quá tiêu chuẩn tuổi.

Hoạn lộ của ông Mạnh hanh thông, vượt qua mọi trở ngại, tiến nhanh chóng như diều gặp gió. Nguyên do v́ đâu?

Người viết xin đưa một giả thuyết thử lư giải việc này.

1/ Tiểu sử:

Tiểu sử ông Mạnh được các cơ quan truyền thông trong nước công bố như sau:

Ông Nông Đức Mạnh sinh ngày 11/9/1940 tại xă Cường Lợi, huyện Na Ŕ, tỉnh Bắc Cạn, xuất thân trong gia đ́nh nông dân, dân tộc Tày.
Năm 1958 -1961: Học viên Trường trung cấp nông lâm Trung ương, Hà Nội.
1962 - 1963: Công nhân lâm nghiệp, Kỹ thuật viên điều tra rừng Ty Lâm nghiệp Bắc Cạn. Vào Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1963.
1963-1965: Đội phó đội khai thác gỗ Bạch Thông.
1966-1971: Sinh viên Học viện Lâm nghiệp Lê nin grát, Liên Xô.
1972-1973: Phó Ban Thanh tra, Ty Lâm nghiệp tỉnh Bắc Thái.
1973-1974: Giám đốc Lâm trường Phú Lương, Bắc Thái.
1974-1976: Học viên Trường Đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc.
1976-1980: Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Bắc Thái, Phó Ty Lâm nghiệp tỉnh Bắc Thái kiêm Chủ nhiệm Công ty Xây dựng Lâm nghiệp rồi Trưởng ty Lâm nghiệp tỉnh Bắc Thái.
1980-1983: Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Bắc Thái, Phó Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Thái.
1984-10/1986: Phó bí thư Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Bắc Thái, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Bắc Thái.
11/1986-2/1989: Bí thư Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam tỉnh Bắc Thái.
12/1986: Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI.
3/1989: Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
8/1989: Trưởng ban Dân tộc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
1l/1989: Đại biểu Quốc hội nước Cộng ḥa Xă hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, Phó Chủ tịch Hội đồng Dân tộc của Quốc hội
6/1991: Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam.
9/1992: Chủ tịch Quốc hội nước Cộng ḥa Xă hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX.
6/1996: Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII.
9/1997: Chủ tịch Quốc hội nước Cộng ḥa Xă hội chủ nghĩa Việt Nam khoá X.
1/1998: Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII.
4/2001: Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam, được bầu làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
4/2006: Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam, được bầu lại làm Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.
2/ Đặt vấn đề:

Một số thời điểm có thể gọi là quan trọng, là khúc ngoặc thay đổi cuộc đời ông Mạnh, là các năm: 1963, 1974, 1986, 1989, 1991, 1992, 1997, 2001, 2006.

Ông Mạnh được đào tạo để trở thành một kỹ sư lâm học. Vào đảng năm 1963. Đi du học Liên Xô, ra trường được bổ làm công chức lâm nghiệp vùng quê hương của ông. Đến năm 1974 ông Mạnh làm Giám Đốc Lâm Trường Bắc Thái. Đây là một chức vụ b́nh thường, phù hợp khả năng của một kỹ sư lâm nghiệp như nhiều trường hợp của các chuyên gia bậc kỹ sư khác. Sự nghiệp những người này cho đến cuối đời, cao nhất chỉ có thể đến bậc tương đương thứ trưởng trong bộ liên quan. Nhưng đến năm 1974 ông Mạnh được đưa đi học trường đảng cao cấp Nguyễn Ái Quốc. Đây là trường đào tạo cán bộ cao cấp của đảng CSVN. Nhờ vậy mà ông Mạnh đảm nhiệm những chức vụ lănh đạo cao hơn sau này.

Ông Mạnh vào trung ương đảng dự khuyết năm 1986 và ủy viên chính thức năm 1989. Yếu tố quan trọng, ông Mạnh làm trưởng ban Dân Tộc BCHTU năm 1989. Nắm chức vụ này ông Mạnh phụ trách mọi vấn đề liên quan đến các dân tộc thiểu số.

Năm 1991 ông Mạnh lên làm chủ tịch Quốc Hội hai khóa liên tiếp (khoá IX và khóa X) cho đến năm 2001. Đây là lần đầu tiên một người thuộc dân tộc thiểu số lên làm một chức vụ quan trọng hàng thứ 4 của nước CHXHCN Việt Nam.

Đại hội IX, diễn ra từ 19 đến 22 tháng 4 năm 2001, ông Lê Khả Phiêu bị ông Nông Đức Mạnh thay thế. Ở thời điểm này người ta đưa ra nhiều lư do v́ sao ông Lê Khả Phiêu bị hạ bệ nhưng ít ai đưa ra được lư do thuyết phục v́ sao đảng CSVN lại chọn ông Nông Đức Mạnh.

Ngày 24 tháng 4 năm 2006 đại hội X đảng CSVN bầu ban chấp hành. 160 ủy viên trung ương chính thức và 21 ủy viên dự khuyết được chọn. Ông Nông Đức Mạnh lại được bầu chọn làm tổng Bí Thư đảng CSVN thêm một nhiệm kỳ.

Việc một người thuộc nhóm dân tộc thiểu số lên vị trí lănh đạo tối cao đảng và nhà nước CSVN là một điều chưa bao giờ xảy ra. Tỉ lệ ủy viên trung ương thuộc gốc dân tộc thiểu số chiếm khoảng 3 - 5% tổng số ủy viên trung ương. Số ủy viên trung ương đại hội X là 5 trên tổng số 160 và 3 trên tổng số 21 ủy viên dự khuyết. Không biết tỉ lệ đảng viên thuộc dân tộc thiểu số là bao nhiêu trên tổng số đảng viên đảng CSVN. Tổng số dân tộc thiểu số nước Việt Nam khoảng 3 triệu dân trên tổng số cả nước khoảng 82 triệu. Như thế tỉ lệ khoảng trên dưới 3 - 5% th́ tương đối cân xứng trên b́nh diện cả nước.

Dân Tày có khoảng 1 triệu dân, sống rải rác ở các vùng Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Hà Giang, Bắc Kạn và Hải Ninh (Việt Bắc). Tày là một dân tộc có nguồn gốc từ các tỉnh Quảng Tây, Quảng Đông của Trung Quốc, hiện nay có khoảng hơn hai triệu người sống tại Việt Nam và khoảng 24 triệu sống tại Trung Quốc. Do có nhiều ảnh hưởng của văn hoá Hán nên các phong tục tập quán của dân tộc Tày đều giống như người Hoa, người Ngái, người Sán D́u (nguồn wikipedia). Chấp nhận rằng dân tộc Tày đại diện cho toàn dân thiểu số (trên 50 nhóm). Khó có một chế độ dân chủ nào mà đại diện nhóm thiểu số (3%) là đại diện cho cả nhóm đại đa số (97%), ngoại trừ có một “phép lạ” hay người đó chứng tỏ một khả năng lănh đạo xuất chúng. Như đă nói trên, ông Mạnh được nhiều người phê b́nh là không có khả năng lănh đạo, không có sáng kiến, cũng không thấy có công với đất nước, nói chung, ông ta là một người như thế hết sức b́nh thường.

Nhưng tại sao lại chọn ông Nông Đức Mạnh và chọn đến hai lần?

3/ Những giả thuyết đă được đưa ra:

3.1 Ông Mạnh là con rơi của Hồ Chí Minh.
 

Ông Mạnh tại vị chính là nhờ bóng ma của ông Hồ, mà nói theo nhân gian, ông Mạnh được chính cha ḿnh phù hộ? - Ảnh: AP

Đây là một giả thuyết đă đưa ra từ trong nước.

Sau khi tin đồn này lan truyền rộng rải, một nhà báo có dịp gặp ông Mạnh đă đặt câu hỏi (mà người viết quên nguồn) có phải ông Mạnh là con của ông Hồ hay không. Ông này trả lời chung chung toàn dân Việt Nam đều là con cháu của ông Hồ. Tuy nhiên, nếu đem yếu tố huyết thống để giải thích th́ không biết khi nào th́ ông Vũ Trung lên chức tổng Bí Thư? Không phải ông Vũ Trung là con rơi ông Hồ được thư kư riêng là Vũ Kỳ nuôi nấng hay sao? Và chắc chắn không phải chỉ có một ông Vũ Trung mà c̣n có nhiều ông Vũ Trung khác chưa lộ diện. V́ thế yếu tố hậu duệ của Hồ Chí Minh không thuyết phục. Nhưng dầu thế nào, lư thuyết này cần phải có bằng chứng cụ thể chứng minh liên hệ huyết thống giữa hai người.

3.2 Ông Mạnh thân Tàu và được sự đỡ đầu của “thiên tử”.

Nếu xét về nguồn gốc chủng tộc th́ dân Tày là một giống dân chịu nhiều ảnh hưởng văn hóa của Tàu. Sắc dân này sống trên vùng biên giới giữa Việt Nam và Trung Hoa. Nhưng ông Mạnh thay ông Lê Khả Phiêu năm 2001, một phần là do ông Phiêu thân Tàu, đă nhượng bộ Tàu trong hai hiệp ước về biên giới. Không lẽ đưa một người thân Tàu lên thế một người bị hạ bệ v́ lư do thân Tàu? Mặt khác, ông Mạnh là người đă được đào tạo tại Liên Xô (nay là Nga).

Vào khoảng thời gian tiền đại hội đảng IX, có nhiều bài viết trong nước tố cáo CSVN “bán đất nhượng biển”, nhưng mũi dùi nhắm vào Lê Khả Phiêu. Sau này người viết có đưa ra bằng chứng cho thấy việc “bán đất nhượng biển” là việc có thật và Hồ Chí Minh là người có trách nhiệm nhiều nhất trong vụ này. Hai hiệp ước nhượng đất và biển kư năm 1999 và 2000, CSVN chỉ hợp thức hóa những vùng đất mà ông Hồ Chí Minh đă hứa hẹn cho Tàu mà thôi (xem quyển Biên Giới Việt Trung 1885 2000 Lịch Sử Thành H́nh Và Những Tranh Chấp, Trương Nhân Tuấn, 2005). Nhưng trách nhiệm của ông Phiêu không nhỏ. Hai hiệp ước được kư dưới thời Lê Khả Phiêu làm tổng Bí Thư. Ông Mạnh cũng có trách nhiệm v́ với vai tṛ Chủ Tịch Quốc Hội ông đă kư tên sau khi các đại biểu thông qua hai hiệp ước. Nếu ông Phiêu bị hạ xuống v́ “bán đất nhượng biển” th́ không có lư do nào lại đưa ông Mạnh lên thế ông Phiêu. Ông Mạnh cũng có trách nhiệm trong vụ này ngang như ông Phiêu.

Ông Lê Khả Phiêu bị Thiến Sĩ Đỗ Mười hạ bệ qua câu nói trứ danh: Nó hạ tao th́ tao hạ nó. “Nó” ở đây là Lê Khả Phiêu và “tao” là TS Đỗ Mười . TS Đỗ Mười cùng với hai cố vấn Lê Đức Anh và Vơ Văn Kiệt hạ bệ Lê Khả Phiêu. Hạ ông Phiêu th́ dễ hiểu nhưng v́ sao đưa ông Mạnh?

Nguyên do v́ sao th́ ba ông cố vấn, trước khi làm cố cố vấn về hầu “cụ Mác và cụ Lê” như ông Hồ, th́ nên trối trăn lại. Người sau cần biết chi tiết này để viết sử.

Sau năm năm lănh đạo của ông Mạnh (4 2001 đến 4 2006) quả thực mối giao hảo hai nước Việt Trung ngày thêm ḥa ái. Nhưng cũng không thể nói là do ông Mạnh thân Tàu. Đó chỉ là hậu quả của một sự tiến triển ngoại giao b́nh thường. Người cộng sản hay không cộng sản, v́ nhu cầu phát triển đất nước, ở vị trí lănh đạo cũng đều chủ trương đường hướng tương tự. Không ai muốn hiềm khích với Tàu trong lúc này.

Nếu chỉ dựa vào yếu tố “thân Tàu” để kết luận nhờ đó mà ông Mạnh lên Tổng Bí Thư th́ quả không đủ để giải thích. Ông Mạnh chưa chắc đă thân Tàu. Trong đảng CSVN không thiếu những người thân Tàu hơn ông Mạnh, sẵn sàng ngả vào ḷng Tàu và “ngoan ngoăn như con chó nhỏ”. Họ sẵn sàng dâng trọn biển Đông cùng các hải đảo cho Tàu. Tại sao đấng con trời không chọn những người này?

3.3 Ông Nông Đức Mạnh là người có khuynh hướng trung dung.

Nhiều nguồn tin trong nước cho rằng giải pháp chọn ông Mạnh lên làm Tổng Bí Thư là một giải pháp dung ḥa giữa hai thế lực bảo thủ thân Tàu và cởi mở thân Hoa Kỳ trong đảng. Ông Mạnh là người Tày, bản chất hiền lành chất phác, không có thói kiên định lập trường, chết cũng phải tiến lên xă hội chủ nghĩa như đa số đảng viên gốc miền Trung hay gốc Bắc, cho dầu những người này vẫn chưa h́nh dung ra được cái xă hội “Xă Hội Chủ Nghĩa” đó mặt mày ra sao. Ông Mạnh không có cái “sát máu” của Lê Duẩn (Quảng Trị), không có cái b́nh dân học vụ “nó hạ tao th́ tao hạ nó” của Thiến Sĩ Nguyễn Duy Cống, tức TS Đỗ Mười (Hà Nội), cũng không thấy có cái đạo đức giả của ông Hồ Chí Minh (Nghệ An).

Một ghi nhận, làm sao có thể gọi một phần đảng CSVN “thân Mỹ” trong khi sự nghiệp của toàn đảng CSVN được xây dựng trên ngọn cờ “chống Mỹ”? Không thể có phe “thân Mỹ” trong đảng CSVN. Có thể có nhiều phe trong đảng CSVN nhưng hai phe chính là: phe thực tiễn phi đạo đức và phe của những người cộng sản chân chính. V́ thế không thể có tranh chấp giữa phe thân Tàu và phe thân Mỹ trong đảng CSVN được.
Phe thực tiễn phi đạo đức chiếm đa số trong đảng. Phe này thân ai cũng được, miễn có lợi cho đảng và cho bản thân. Họ t́m mọi cách để giữ quyền, cách nào cũng được. Hiện nay họ sử dụng lư thuyết Mác Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh như một cái b́nh phong và lấy “định hướng xă hội chủ nghĩa” để khẳng định tính chuyên chính nhằm giữ độc quyền lănh đạo đất nước. Nhưng thực sự những người này phong kiến c̣n hơn vua, bóc lột c̣n hơn tư bản ban sơ. Nh́n lối sống của họ th́ biết: ăn chơi theo kiểu nhứt dạ đế vương, cờ bạc đặt một cây hàng triệu đô la, nhậu nhẹt gái gung… đủ cả. Cái “định hướng xă hội chủ nghĩa” không một ai biết hướng đó là hướng nào, không phải v́ nó nhiều hướng mà v́ đi hướng nào cũng đúng. Ba bản báo cáo chính trị mà người viết sẽ khai triển ở phần sau là sản phẩm cưỡng từ đoạt lư của nhóm này.

Những người này tụ hợp lại thành những nhóm quyền thế trong đảng. Từ đó họ khuynh đảo cả quốc gia. Vấn đề mua quan bán chức ngày nay không kém thời nhà Nguyễn lúc mạt thời. V́ quyền lợi những người này có thể buôn cả dân và bán cả nước. Họ có cái mặt cộng sản, có trái tim vô tổ quốc và có lư trí của tư bản quốc tế. Những nhóm quyền thế trong đảng v́ mâu thuẩn quyền lợi nên tranh chấp với nhau để dành quyền. Mỗi nhóm có “đại ca” lănh đạo, y như băng đảng mafia. Hiện nay có ba nhóm do ba đại ca, tượng trưng cho ba miền là ba ông cố vấn Mười, Anh, Kiệt. Mỗi nhóm ủng hộ “gà” của ḿnh, khi “gà” được lên th́ phải đưa “gà nhà” vào các vị trí béo bở.

Phe thứ hai là phe cộng sản chân chính, có đạo đức của người cộng sản. Đáng tiếc là phe này không c̣n có mấy người trong đảng. Gương mặt điển h́nh thật tội nghiệp của phe này là GS Nguyễn Đức B́nh. Nhưng cũng có thể những người này chỉ đạo đức ở cái miệng và chuyên chính trên giấy tờ.


Nhân sự lănh đạo ĐCSVN – Nhận định (Kết)

 

Nhận định sơ lược về nhân sự lănh đạo, chiến lược phát triển quốc gia và đường lối chính trị của đảng CSVN sau đại hội X.
Đề nghị một phương hướng tranh đấu (cho những nhà dân chủ tiền phong) nhằm thúc đẩy tiến tŕnh dân chủ hóa Việt Nam.

 

Trương Nhân Tuấn


Ông Nông Đức Mạnh ở phe nào?
 

Nông Đức Mạnh ở phe nào? Câu trả lời không đơn giản - Ảnh: SpaceDaily

Những ngày gần đây người ta thấy một sự cởi mở có thật, nhưng c̣n giới hạn, cho giới báo chí trong nước, nhất là vào khoảng thời gian tiền đại hội. Có những bài viết chỉ trích đảng hay liên quan đến quốc gia được đăng trong khoảng thời gian này. Người ta cũng thấy báo chí mạnh dạn phanh phui các vụ tham nhũng. Nhờ vậy người ta mới thấy sự thật con đường cách mạng gái gung, mánh mung của các quan thầy. Đây chắc chắn không phải là quyền “tự do ngôn luận” thực sự như đă từng thấy thấy tại miền Nam trước 1975 nhưng các việc này chưa từng có từ trước đến nay trong chế độ XHCN Việt Nam. Mặt khác, sinh hoạt xă hội, từ khi ông Mạnh lên lănh đạo, tương đối người dân “dễ thở” hơn. Hiện nay các vụ đàn áp những nhân vật tranh đấu cho dân chủ vẫn chỉ ở mức răn đe, không phải bị tử h́nh hay bị căi tạo mút mùa như dưới thời Lê Duẩn, Đỗ Mười, mặc dầu những sinh hoạt tôn giáo như của Phật Giáo Việt Nam Thống Nhứt, Phật Giáo Ḥa Hảo, Tin Lành… c̣n rất khó khăn. Chư vị Ḥa Thượng Thích Quảng Độ, Thích Huyền Quang, lănh đạo PGVNTN vẫn c̣n bị “quản lư tại địa phương” và bị cấm chỉ nhiều sinh hoạt tôn giáo. Các anh Nguyễn Vũ B́nh, Phạm Hồng Sơn cũng như rất nhiều tù nhân chính trị vẫn chưa được trả tự do. Dầu vậy, thời gian 5 năm qua do Nông Đức Mạnh lănh đạo, Việt Nam đă có những dấu hiệu khá hơn so với những vị lănh đạo tiền nhiệm.

Ông Mạnh cũng bị tố là tham nhũng và lạm dụng quyền chức như cho trải nhựa con đường dẫn về quê của ông hay cho xây phi trường trực thăng tại làng của ông tại Bắc Cạn. Việc ông Mạnh cho làm đường trải nhựa dẫn về quê của ông không thể cho là hành động lạm quyền. Ngược lại đây là một việc tốt nằm trong lănh vực phát triển quốc gia và v́ có nhiều lư do để nhà nước quan tâm đến các dân tộc thiểu số. Việc xây phi trường cho trực thăng ở quê của ông Mạnh cũng không có ǵ quá đáng. An ninh và tiết kiệm thời gian quan trọng hơn. Người viết cho rằng việc thường xuyên về thăm cha mẹ, họ hàng, lối xóm của ông Mạnh là việc đáng khen. Ông Mạnh nhân bản, thấm nhuần đạo lư dân tộc, coi trọng liên hệ huyết thống gia đ́nh, hơn hẳn ông Hồ Chí Minh. Về mặt này ông Hồ là người bất nghĩa, vô ngh́. Vấn đề đáng chú ư là những chi phí cho phi trường và con đường có phù hợp với thực tế hay không? Nhưng vụ thân nhân ông Mạnh có thể liên can đến vụ tham nhũng PMU 18, việc này cần phải soi sáng thêm.

Như viết trên, ba nhóm tranh dành quyền hành với nhau. Rất có thể ông Mạnh không theo phe nào (hay thuộc phe… thứ tư). Vào thời kỳ đại hội IX th́ ba ông cố vấn nhứt định đ̣i tiếp tục làm thái thượng hoàng mà ông Phiêu không muốn. Không ai chịu ai, “tao không được th́ mày cũng không được”. Một, hai, ba… chúng ta cùng rút. Rốt cục chức tổng bí thư lọt vào tay ông Mạnh.

Giả thuyết này thuyết phục hơn các giả thuyết trên nhưng chắc chắn không phải là lư do chính yếu và duy nhất, chỉ hợp lư cho nhiệm kỳ đầu 2001. Năm 2006 ông Mạnh bị tố tham nhũng, lại quá tiêu chuẩn tuổi và ông cũng bị cho là nhu nhược, thiếu sáng kiến, không có khả năng lănh đạo. Nhưng tại sao vẫn là ông Mạnh?


4. Giả thuyết “thời thế tạo anh hùng”.

Giả thuyết này được đặt trên nền tảng thực tiễn và truyền thống lịch sử dân tộc Việt Nam.

Khoảng tháng 5 năm 1955, ông Hồ Chí Minh cho thành lập các khu tự trị cho các sắc dân thiểu số sống ở vùng biên giới Việt Trung (khu tự trị Việt Bắc, Tây Bắc, Thái Mèo v.v..). Điều này không mới mẻ ǵ, các vua triều Lê, Nguyễn và trước đó, đều xem các vùng đất do các bộ tộc thiểu số sinh sống là vùng “phên dậu”. Dưới thời Pháp thuộc, các bộ tộc này cũng được quyền tự trị trong các khu nhất định.

Ngày xưa các bộ tộc này sống tự trị trong các vùng đất mà họ sinh sống và mỗi bộ tộc có nhân vật lănh đạo theo lối cha truyền con nối. Các bộ tộc này có khi thần phục Việt Nam, có khi thần phục Tàu. Các triều vua Việt Nam thường phong quan “thổ ty” cho những tù trưởng các bộ tộc và cho họ có quyền cha truyền con nối để giữ họ lại trong vương quốc hay để họ không quấy nhiễu. Đôi khi c̣n gả những công nương, quận chúa trong hoàng tộc cho các thổ ty hay con trai thổ ty để thắt chặt giao hảo. Trong lịch sử Việt Nam có nhiều lần Việt Nam được đất do những lần làm “xuôi gia” như thế này nhưng cũng có nhiều lần mất đất v́ viên thổ ty đem dân đi thần phục nước Tàu.

Một số dân tộc thiểu số hiện nay có mặt tại vùng biên giới Việt Trung là do họ di cư từ vùng từ các tỉnh vùng Hoa Nam (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Quí Châu…) vào khoảng giữa thế kỷ 19 do giặc Thái B́nh Thiên Quốc hay do sự đàn áp của quân triều đ́nh lên người theo đạo Hồi sau khi những người này nổi loạn.

Sau khi người Pháp đến, v́ các dân tộc này bị người Tàu khinh bỉ (gọi là Mán) và cũng bị người Việt kỳ thị, coi thường cho nên có nhiều bộ tộc hợp tác với Pháp. Cũng nhờ sự hợp tác này mà Việt Nam lấy được vùng đất hữu ngạn sông Đà. Đất này của họ Đèo, do tù trưởng người Thái tên Đèo Văn Trị lănh đạo. Ông này thần phục Pháp năm 1893 qua đại diện là ông August Pavie. Vùng đất của Đèo Văn Trị theo Công Ước Phân Định Biên Giới 1887 th́ thuộc về Vân Nam. Đến năm 1895, ông Gérard mới kư thêm công ước bổ túc mới lấy được vùng đất này lại cho Việt Nam (xem thêm sách Biên Giới Việt Trung 1885 2000, Trương Nhân Tuấn, 2005).

V́ thế trong quân đội Pháp có rất nhiều lính gốc người thiểu số như Thái, Nùng, Tày v.v.. Đến khi thua trận Điện Biên Phủ và rút về Pháp, một số đông người Thái, Tày, Nùng… đi theo về Pháp. Những người này có người là sĩ quan cao cấp.

Sau khi dành được chính quyền miền Bắc, Hồ Chí Minh cũng cho các dân tộc thiểu số này sống thành khu tự trị. Tuy nhiên một số các bộ tộc thường xuyên bị nghi ngờ “làm tay sai cho địch” như trường họp dân Hmong. Các dân tộc Thái, Tày, Nùng… bị nghi kỵ v́ có nhiều người làm việc cho Pháp, mặc dầu cũng có nhiều đầu lĩnh các dân tộc thiểu số nổi lên chống Pháp (như Hoàng Hoa Thám là người Nùng). Đời sống của các dân tộc này rất khó khăn v́ không được sự lo lắng của chính quyền mặc dầu hiện nay dân số của họ tổng cộng trên 2 triệu người và họ chiếm đa số ở các tỉnh ven biên giới Việt Trung.

Đến tháng 8 năm 1975 các khu tự trị bị băi bỏ. Việc này gây bất măn cho nhiều thủ lĩnh của các dân tộc thiểu số. CSVN t́m cách kiểm soát chặt chẽ các dân tộc thiểu số bằng phương pháp đảng hóa những thủ lĩnh dân thiểu số. Nhờ vào sách lược này mà ông Nông Đức Mạnh, vốn là người gốc Tày trong một gia đ́nh đầu lĩnh, được chọn vào đảng. V́ vậy ông Mạnh mới không đi B như hàng triệu thanh niên miền Bắc và được cân nhắc vào các chức vụ quan trọng. Ông Mạnh học trường đảng dành cho cán bộ cao cấp vào các năm 1974 1976.

Sau năm 1975, người Tàu nhận thấy đă có những mâu thuẫn với CSVN v́ Việt Nam bỏ Tàu, thân Nga. Họ t́m cách tuyên truyền và dụ dỗ các bộ tộc thiểu số, cho rằng họ có gốc Tàu, kêu gọi gia nhập hộ khẩu Tàu hay đổi quốc tịch Tàu. Họ thâu phục bằng cách cho ưu đăi về khẩu phần lương thực hay vải vóc hơn khẩu phần ở bên Việt Nam. Không ít bản làng của người Nùng, người Tày, người Thái …. trở thành đất của Tàu.

Đến thời điểm VN có mâu thuẫn với Khmer đỏ th́ Trung Cộng đă có đủ lư do để cho Việt Nam một bài học. Đặng Tiểu B́nh chuẩn bị đánh chiếm một số đất của Việt Nam. Trong hồi ký của Zhou Deli, tham mưu trưởng của Quân khu Quảng Châu, nhớ lại rằng vào tháng Chín 1978, một cuộc họp về "cách giải quyết vấn đề lãnh thổ bị quân Việt Nam chiếm đóng" đã diễn ra tại văn phòng tham mưu trưởng quân đội nhân dân Trung Quốc (tin BBC, 22 tháng 2 năm 2006). “Lănh thổ bị quân Việt Nam chiếm đóng” là các vùng nào? Trong đó chắc phải có Trường Sa, nhưng cũng có các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Hà Giang… Vùng này là địa bàn sinh hoạt của dân Tày, Nùng v.v... Trung Cộng cho rằng các sắc dân thiểu số vùng biên giới là người Hoa v́ vậy các vùng đất họ sinh sống là của Tàu. Họ muốn lấy sông Kỳ Cùng làm biên giới mới. “Cách giải quyết” vấn đề lănh thổ là cách nào? Đó là cách đem quân sang đánh VN chiếm các vùng đất đó lại. Tuy nhiên Trung Cộng đă thất bại, học lại CSVN một bài học.

Cuộc chiến biên giới 1979 giữa Việt Nam và Trung Cộng kết thúc mau chóng, quân Tàu thua phải rút về nhưng cuộc chiến lấn đất dành dân âm thầm diễn ra. Đôi khi hai bên có những cuộc xung đột đẫm máu. Theo tin của quân đội Trung Cộng trên internet th́ có nhiều trận đánh diễn ra giữa quân đội Tàu và quân đội Việt Nam từ 1979 đến 1989. Nguyên nhân do tranh chấp đất đai, có trận lớn ở cấp trung đoàn, trận núi Lăo Sơn là một thí dụ. Tuy nhiên tin tức tuyên truyền một chiều của Tàu th́ nên thận trọng. Không phải họ nói ra mọi cái đều đúng.

Để giữ đất và giữ dân, nhiều nhân vật gốc thiểu số được trọng dụng. Điển h́nh là Nông Đức Mạnh. Ông này được vào trung ương dự khuyết năm 1986, đến năm 1989 vào trung ương thực thụ và phụ trách toàn bộ vấn đề dân tộc thiểu số.

Phải nh́n nhận ông Mạnh đă giải quyết vấn đề này rất thành công nhưng quyền hạn ông này vẫn c̣n rất giới hạn trong những quyết định. Ông Mạnh lên làm chủ tịch Quốc Hội, hàng thứ 4 sau tổng bí thư đảng, chủ tịch nước và thủ tướng. Ông làm hai nhiệm kỳ từ 1991 đến 2001. Các dân tộc đ̣i ly khai một phần được xoa dịu, nhưng ư tưởng ly khai vẫn chưa dứt bỏ.

Vấn đề tranh chấp đất và dân được hai nước giải quyết qua Hiệp Định Phân Định Biên Giới Trên Đất Liền, kư kết tháng 12 năm 1999. Để không bị mang tiếng bán nước, đảng CSVN phải bầu ông Mạnh lên tổng bí thư. Chỉ có ông Mạnh với cương vị lănh đạo đảng và đất nước mới có thể thuyết phục các dân tộc thiểu số. Các dân tộc này cảm thấy hănh diện v́ người của họ lên làm “vua” nước Việt Nam. Không lẽ họ bỏ thủ lĩnh của ḿnh để sang đầu Trung Cộng?

Đây là một tính toán khéo léo của đảng CSVN, tạo sự đoàn kết với các dân tộc thiểu số. Việc này đă thấy tương tự trong lịch sử như phong quan hay gă con cho các đầu lĩnh các bộ tộc. Ông Mạnh được ở lại chức tổng Bí Thư lần hai v́ vấn đề biên giới vẫn chưa hoàn toàn giải quyết (dự trù kết thúc năm 2008). Nhưng những tính toán của CSVN chỉ có tính xoa dịu nhất thời. Dưới thời cộng sản, không chỉ có các sắc dân biên giới mới bỏ nước. Hơn hai triệu người Việt hải ngoại cũng bỏ nước v́ chính sách hà khắc. Những người này bỏ đi không đem theo đất như các dân tộc thiểu số, không phải không muốn nhưng v́ không thể. Những người thiểu số bỏ nước không có nghĩa là bỏ làng quê, đất đai. Họ bỏ nước là họ nhập tịch Tàu. Đất họ đang sinh sống cũng thuộc về Tàu. Khi ông Mạnh xuống th́ không có ǵ bảo đảm nhũng người này chọn ở lại Việt Nam.

Tóm lại, lư do quan trọng mà CSVN cho ông Mạnh lên lănh đạo tối cao là do vấn đề ly khai của các dân tộc vùng biên giới. Không ai hiện nay, ngoài ông Mạnh, có thể giải quyết được các đ̣i hỏi ly khai của những dân tộc thiểu số sống vùng biên giới Việt Trung.

Thời thế tạo ra anh hùng Nông Đức Mạnh là v́ vậy.

Đến nay thực tế cho thấy ông Mạnh đă có công (trong nhất thời) v́ đă giữ được dân, tức là giữ được đất. Đây chắc chắn là một điểm son trong sự nghiệp chính trị của ông, lịch sử sẽ công bằng ghi chép. Nhưng vấn đề dân tộc là trường tồn, phải có một sách lược đứng đắn, không thể như hiện nay cột đèn biết đi th́ nó cũng bỏ nước mà đi. Hỏi thử nguyện vọng của tuổi trẻ VN hiện nay ao ước ǵ? Ứớc muốn lớn nhất của họ là được sống bên Hoa Kỳ, tức bỏ nước. Tuổi trẻ là tương lai đất nước. Tương lai như thế th́ đất nước này c̣n ǵ? Đất nước sẽ ghi công lớn ông Mạnh nếu ông Mạnh có những quyết định đột phá để cứu nước. Đó là quyết định dân chủ hóa chế độ. Chỉ có dân chủ hóa chế độ mới tạo được thế đại đoàn kết dân tộc thực sự. Và khi dân tộc ta đoàn kết th́ ta không mất dân, tức không mất đất và cũng không có thế lực nào có thể xâm lăng được nước ta. Cũng chỉ có dân chủ hóa chế độ th́ đất nước mới có thể phát triển lành mạnh, phúc lợi được phân phối đồng đều qua nhiều h́nh thức đến tận tay từng người dân chứ không tập trung vào một số người như hiện nay. Người viết sẽ phân tích kỹ vấn đề này trong phần II và III. Ông Mạnh có khả năng làm việc này hay không? Toàn dân đang chờ đợi.