Hiến Pháp 26.10.1956
và
Thực Tại Chính Trị Dân Chủ Miền Nam
Tiến sĩ Phạm Văn Lưu
Trước đây, hơn 50 năm, vào đầu năm 1954,
Việt Nam đă thực sự đứng trên bờ vực
thẳm của một sự phá sản toàn diện. Thật
vậy, tin Điện Biên Phủ thất thủ không
những gây nên một không khí bi quan tột
cùng tại Việt Nam, mà c̣n kéo theo một
cơn lốc chính trị khiếp hải tại nghị
trường Ba Lê, khiến chính phủ Laniel bị
sụp đổ. Mandes France được quốc hội tín
nhiệm lên làm thủ tướng với lời hứa hẹn
sẽ giải quyết cuộc chiến tranh Đông
Dương trong ṿng 30 ngày, nghĩa là phải
chấm dứt chiến tranh bằng mọi giá. C̣n
Hoa Kỳ, dù trước đó, được Pháp khẩn
khoản yêu cầu can thiệp, Tổng Thống
Eisenhower do dự, không dám quyết định,
sợ mất uy tín v́ viễn tượng vô cùng mờ
mịt cả về quân sự lẫn chính trị tại Việt
Nam.
Trước t́nh thế hầu như tuyệt vọng đó,
Ông Diệm đă chấp nhận mọi thử thách để
về nước chấp chánh. Không một quan sát
viên quốc tế nào vào thời đó, dù lạc
quan nhất đi nữa, dám tin rằng chính phủ
Diệm có thể tồn tại hơn 6 tháng. Nhưng
như một phép mầu, Ông Diệm đă vượt qua
mọi khó khăn nghiệt ngă, cùng những âm
mưu thâm độc đang vây hăm, muốn nhận
ch́m chính phủ của Ông từ trong trứng
nước.
Thật vậy, nhờ một ư chí quật cường, một
năng lực vô song, tài lănh đạo sáng suốt,
cùng một cuộc sống đạo đức cá nhân trong
sáng, thánh thiện và một thành tích
chống Pháp và chống Cộng không t́ vết …
đă giúp Ông Diệm thống hợp được ư chí
dũng mănh phi thường của toàn dân trong
công cuộc đấu tranh giải phóng đất nước
dành độc lập và tự do cho tổ quốc. Chỉ
trong một thời gian ngắn, Thủ Tướng Ngô
Đ́nh Diệm đă thực hiện được nhưng thành
tưu đáng kể như sau:
-
Biến một quân đội lệ thuộc ngoại bang và
t́nh trạng nhiều quận đội trong một quân
đội, thành một quân đội quốc gia độc lập
và thống nhất, có tổ chức qui củ, có kỷ
luật, có tinh thần chiến đấu bảo vệ tổ
quốc.
-
Biến t́nh trạng nhiều quốc gia trong một
quốc gia, do nạn giáo phái hung cứ mỗi
nhóm một phương thành một quốc gia thống
nhất, với một cơ chế chính quyền trung
ương vững mạnh, đủ uy lực để huy động
mọi tiềm năng quốc gia vào công cuộc
phát triển kinh tế, canh tân xă hội và
kiến tạo một đất nước dân chủ tiến bộ
trong ổn định và thanh b́nh.
-
Thay đổi một cơ chế chính trị mơ hồ bằng
một định chế chính trị dân chủ tiến bộ,
với một bản hiến pháp, phù hợp với trào
lưu chính trị thế giới, vừa đảm bảo được
những quyền tự do cơ bản của mọi công
dân, nhưng cũng vừa đủ mạnh để duy tŕ
uy quyền quốc gia, nhằm đối phó với cuộc
chiến tranh du kích, phá hoại và khuynh
đảo do Cộng sản Bắc Việt chủ xướng. Đồng
thời, tạo cơ hội để huy động mọi năng
lực để tái thiết đất nước và xây dựng
kinh tế thoát khỏi t́nh trạng nghèo đói
và lạc hậu của một quốc gia bị đô hộ mới
thu hồi độc lập.
Nhưng trong tất cả thành quả kể trên,
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă coi trọng và
rất tự hào về việc ban hành Hiến Pháp
26.10.1956, v́ theo Tổng Thống, các quốc
gia láng giềng Á Châu, đă mất ít nhất
một vài ba năm mới có thể kiện toàn cơ
chế căn bản của nền dân chủ của họ, c̣n
chế độ Việt Nam Cộng Ḥa chỉ cần một năm
đă ban hành được một bản Hiến Pháp dân
chủ và tiến bộ, đồng thời đáp ứng được
nhu cầu cấp thiết của đất nước về mọi
phương diện.
H́nh Thành Hiến
Pháp 26.10.1956.
Nếu cuộc Trưng Cầu Dân Ư ngày 23.10.1955
là hệ quả của cuộc cách mạng tự phát do
Ủy Ban Cách Mạng Quốc Gai gồm 18 chính
đảng và đoàn thể cùng 29 nhân sĩ có uy
tin của miền Nam lúc đó thực hiện (xem
Nhị Lang, trang 287-297) th́ việc h́nh
thành Bản Hiến Pháp đầu tiên của thể chế
Cộng Ḥa Việt Nam lại là thành quả một
cuộc tranh đấu lâu dài của chính vị
nguyên thủ quốc gia thời đó. Điều nầy
được chính Ông Diệm xác nhận:
“Cách đây 22 năm, khi tôi có trách nhiệm
quan trọng trong chính quyền, tôi đă đ̣i
hỏi thành lập một Quốc Gia Dân Cử. Nhưng
người và hoàn cảnh hồi đó chống lại ư
muốn ấy, nên tôi rời bỏ chính quyền. Ấy
vậy, khai nguyên một chế độ dân chủ,
chẳng phải v́ t́nh thế, mà cũng là việc
tôi hằng chủ trương tranh đấu”. (Niên
Giám Quốc Hội Lập Hiến, Sàigon, 1956,
tr17)
Tiếp đến Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă
quan tâm rất nhiều đến
tiến tŕnh dự
thảo Hiến Pháp 26.10.1956. Trong thực tế,
bản văn pháp lư căn bản nầy không chỉ
là sáng quyền duy nhất của Quốc Hội Lập
Hiến thời đó, mà c̣n có sự tham gia chỉ
đạo rất tích cực của Tổng Thống Diệm nữa.
Điều nầy đă thể hiện trong thông điệp
của Tổng Thống gởi quốc Hội Lập Hiến
trong ngày khai mạc 17.4.1956.
Việt Nam là một
nước Cộng Ḥa độc lập, thống nhất và bất
khả phân.
Mỗi người công dân được sinh ra, đều
được tự do và b́nh đẳng trước pháp luật.
quốc gia phải bảo đảm cho họ những điều
kiện đồng đều để họ hành xử quyền lợi
của ḿnh và hoàn thành các nhiệm vụ đă
được giao phó. Chính phủ có bổn phận
giúp đở và bảo vệ gia đ́nh họ, để họ có
thể phát phát triển một cuộc sống gia
đ́nh thuận ḥa. Tất cả các công dân đều
có quyền được hưởng một cuộc sống an
b́nh, với mục tiêu duy nhứt là được làm
việc với đồng lương xứng đáng để có thể
tạo nên một sản nghiệp và nhờ đó có thể
đảm bảo cho ḿnh một cuộc sống đầy nhân
phẩm và tự do, bảo đảm cho ḿnh những
quyền tự do dân chủ, và tạo cho ḿnh cơ
hội được phát triển đầy đủ bản chất
riêng ḿnh. V́ phúc lợi chung và v́
nền Cộng Ḥa, chống lại những kẻ phá
hoại nền tảng của cuộc sống cộng đồng và
của Hiến Pháp.
Chủ quyền quốc
gia thuộc vê Quốc Dân.
Quốc Hội Dân Cử được giao phó nhiệm vụ
lập pháp.
Tổng Thống của nên Cộng Ḥa được bầu ra
bằng một cuộc phổ thông đầu phiếu, trực
tiếp và kín, sẽ được ủy thác trách nhiệm
hành pháp.
Ṭa án phải được hoàn toàn ddộc lập để
có thể đóng góp thiết thực vào việc bảo
vệ được chế độ cộng ḥa, trật tự, tự do
và nền dân chủ.
Một Viện Bảo Hiến cũng phải được thành
lập để có thể giải quyết những tranh
chấp có lien quan đến các luật lệ hiến
định.
Các lựu lượng kinh tế phải lien kết với
nhau để hành xử quyền hành của họ bằng
cách thiết lập nên một Hội Đồng Kinh Tế
Quốc Gia (Ibid)
Thực tại chính
trị Việt Nam .
Như mọi người đều biết, Hiến Pháp tự nó
chỉ là một văn kiện pháp lư, không thể
mang lại tự do dân chủ cho người dân,
nếu chính quyền không thực tâm thi hành
những điều khoản đă được long trọng công
bố trong đó. Điều nầy thể hiện rơ nét
trong thực tại chính trị tại các quốc
gia cộng sản. Thực vậy, các quốc gia
cộng sản cũng có những bản hiến pháp rất
tiến bộ, qui định rất rơ rệt những quyền
tự do căn bản của mọi công dân. Nhưng
trong thực tế, đó là những chế độ độc
tài toàn trị, chính quyền đă thâu tóm
mọi quyền hành và những điều khoản căn
bản mà Hiến Pháp đă dành cho người dân
đều bị chính quyền chà đạp một cách thô
bạo.
Từ ư nghĩ đó, người viết muốn t́m hiểu
một cách khách quan vô tư về thực tại
chính trị Việt Nam trong việc thực thi
văn kiện văn kiện pháp lư căn bản của
chế độ. Đồng thời, cũng xin minh xác ở
đây, trong bài nầy sẽ không đề cập đến
nội dung của Hiến Pháp 26.10.1956, v́
luật sư Hà Như Chi, dân biểu của Quốc
Hội Lập Hiến và cũng là thành viên trong
Ủy Ban soạn thảo Hiến Pháp, đă tŕnh bày
khá đầy đủ trong quyển
Kỷ Yếu Ghi Ơn
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, xuất bản tại
California, 2005, dưới nhan đề Quốc Hội
Lập Hiến và Hiến Pháp Đệ Nhất Cộng Ḥa, tr 31-44.
Tổng Thống Ngô
Đ́nh Diệm độc tài?
Phần lớn những chính trị gia đối lập với
chế độ Đệ Nhất Cộng Ḥa Việt Nam, mà
người viết được tiếp xúc, đều cho là
Tổng Thống Ngộ Đ́nh Diệm là một người
độc tài, không chấp nhận đối lập, không
biết liên kết với đảng phái quốc gia để
tạo thành những liên minh chính trị có
qui mộ lớn để động viên sự ủng hộ của
toàn dân, nhằm chống cộng sản hữu hiệu,
như Bs Nguyễn tôn Hoan, một lănh tụ Đảng
Đại Việt, hệ phái Miến
Nam đă phê b́nh
Ông Diệm:
Ông Diệm lúc đầu là một nhà cách mạng
thật sự và đạo đức, tôi đă cộng tác với
Ông trong những thời gian đầu của thập
nên 1950. Nhưng đến khi Ông Diệm về nước
cầm quyền 1954, Ông càng ngày càng tỏ ra
độc tài không c̣n muốn nghe lời ai nữa,
Ông không muốn chia sẻ quyền hành với
các đảng phái quốc gia khác. Tôi không
đồng ư với quan niệm đó và đă rời Việt
Nam để sống lưu vong. (Bs Nguyễn Tôn
Hoàn trả lời phỏng vấn của tác giả, tại
San Jose, tháng 7,1986)
Trước đó nhiều năm, khi c̣n
là giảng sư Lịch sử Chính Trị Việt Nam Hiện Đại, tại
Viện Đại Học Đalat, tôi có nhiều dịp
tiếp xúc với ông Vơ Văn Hải, bí thư của
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm, và từ năm
1967-1975, ông cũng là giáo sư thỉnh
giảng tại cơ sở giáo dục nầy. Khi tôi
hỏi về thái độ của Tổng Thống Ngộ đ́nh
Diệm đối với các chính khách đối lập,
ông Hải tiết lộ:
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm cho rằng phần
lớn các chính khách Việt Nam không có
một kiến thức chính trị thực tiển và
không hiểu thực tại chính trị, kinh tế
và xă hội của quốc gia chậm tiến mới thu
hồi độc lập như Việt Nam, Việt Nam lúc
ấy phải đối đầu với hậu quả của cuộc
chiến tranh khốc liệt suốt 9 năm, trong
đó mọi hạ tầng cơ sở bị tiêu hủy hoàn
toàn, cầu cống, đường sá, hệ thống viễn
thông … toàn bộ bị phá sập, cắt đứt. hệ
thống ngân hàng sụp đỗ toàn diện v́
không ai tin tưởng nữa. Từ đó kinh tế
quốc gia đi vào ngỏ cụt đầy tăm tối …
Chính trị th́ vô cùng hỗn loạn, các giáo
phái hùng cứ mỗi người một phương. Ngay
tại đô thành Sàigon, lực lượng công an
cảnh sát do B́nh Xuyên nắm giữ, nhiệm vụ
chính của họ không phải bảo vệ an ninh
trậ tự cho dân chúng, mà để duy tŕ và
củng cố mức thu nhập tài chánh cho các
ṣng bạc (Casino), các ổ điếm và các
trung tâm hút thuốc phiện của Bảy Viễn.
Quân đội do các sĩ quan Pháp nắm giữ,
lúc nào cũng sẳn sàng thách thức quyền
lực chính phủ, để bảo vệ quyền lợi của
thực dân và tài phiệt Pháp. Thêm vào đó,
đất nước bị chia đôi, chính quyền phải
định cư cho gần 1 triệu đồng bào di cư
từ miền Bắc vào Nam. Mặc dù, theo hiệp
định Genève, cuộc chiến đă kết thúc và
cộng sản tập kết ra Bắc, nhưng thực tế
họ đă gài người ở lại để chuẩn bị cho
một cuộc chiến tranh du kích, phá hoại
và khuynh đảo mới. Thực dân Pháp, dù
tuyên bố trao trả chủ quyền cho Việt
Nam, nhưng trong thực tế vẫn c̣n có
nhiều ư đồ đen tối để duy tŕ đặc quyền,
đặc lợi của giới tài phiệt Pháp tại đây
… đất nước vừa mới thu hồi độc lập, dân
chúng c̣n bỡ ngỡ trước quan niệm tự do
dân chủ, dân chúng c̣n ngheo đói, không
đủ ăn đủ mặc. Nếu đem áp dụng những quan
niệm dân chủ lư tưởng của Tây Phương
chắc chắn sẽ đưa đến hỗn loạn.
Trong hoàn cảnh đó, mà Bs Nguyễn Tôn
Hoàn và Ks Phan Khắc Sữu .. đ̣i phải áp
dụng chế độ Dân Chủ Đại Nghị của Đệ Tam
Cộng Ḥa Pháp Quốc, để đem hứng khởi lại
cho người dân và cổ vũ cho mọi chính
đảng tham gia vào mặt trận chính trị
quốc gia nhằm đối đầu với cộng sản và
thực dân …
Theo Ông Diệm, các cụ không theo dơi
những biến chuyển chính trị trên thế
giới, đặc biệt các quốc gia Á Phi, sau
khi thu hồi độc lập, họ cần phải có một
chính quyền mạnh để có thể thực hiện các
cuộc canh tân khẩn cấp về chính trị và
kinh tế, để có thể bắt kịp đà tiến hóa
của thế giới sau nhiều năm bị kèm hảm
trong sự chậm tiến dưới chế độ thực dân
đô hộ. Và ngay quan niệm Dân Chủ Đại
Nghị của Đệ Tam Cộng ḥa Pháp Quốc, đă
lỗi thời ngay cả ở nước Pháp, một quốc
gia có truyền thống dân chủ lâu đời nhất
thế giới nầy, v́ nó gây nên quá nhiều
bất ổn chính trị, có khi trong một tháng
mà phải thay đổi chính phủ đến 2 lần, có
khi chính phủ tồn tại có 3 ngày là sụp
đỗ … thử hỏi, một người có chút công
tâm, một chút nhận thức về thực tế chính
trị đất nước và chiều hướng phát triển
kinh tế chính trị tại các quốc gia Á
Phi, sau thế chiến thứ 2 … có thể chấp
nhận quan điểm dân chủ của cụ Hoàn, cụ
Sữu … không?
Ông Diệm khẳng định, v́ quyền lợi tối
thượng của quốc dân và tổ quốc, Ông
không thể chấp nhận quan điểm nầy.
Nhưng bất hạnh cho cá nhân Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm và có thể cho toàn thể
miền Nam không ngừng ở đó. Ngày
27.1.1960, Cộng sản lợi dụng dịp Tết
Nguyên Đán, bất ngờ tấn công vào Trăng
Sụp, thuộc tỉnh Tây Ninh, gần biên giới
Việt Miên, với quân số cấp trung đoàn.
Điều nầy chứng tỏ mức độ xâm nhập, phá
hoại và khuynh đảo của cộng sản Bắc Việt
đă đến độ nguy hiểm cho sự tồn vong của
Việt Nam Cộng Ḥa.
Trong chính t́nh h́nh đó, thật là khó
hiểu và đầy mĩa mai, tháng 4 năm 1960,
18 chính kách tên tuổi của miền Nam họp
tại khách sạn Caravelle, đưa ra một kiến
nghị đ̣i Tổng Thống Diệm mở rộng chính
phủ, thực thi những quyền tự do căn bản
trong Hiến Pháp như quyền tự do báo chí,
tự do hội họp … thật là đầy bí ẩn, khi
đất nước đang ở trong t́nh trạng khẩn
trương của chiến tranh, các cụ lại đi
đ̣i hỏi thực thi những điều tự do quá lư
tưởng và không thực tế nầy. Đến nỗi, một
nhà b́nh luận người Anh có nhiều kinh
nghiệm về Việt Nam, Ducanson đă nhận xét
mà người viết có thể tóm lược như sau:
"Nếu bản kiến nghị nầy được đưa ra trong
điều kiện chính trị ổn định của một miền
Nam không bị cộng sản Hà Nội đe dọa tiêu
diệt, th́ đó là yêu sách đáng được cứu
xét nghiêm chỉnh. Điều đáng tiếc nhất,
là khi cộng quân đă tấn công cấp trung
đoàn và các vụ sát hại các viên chức
chính phủ hầu như xảy ra hằng ngày, th́
đó là những yêu sách nếu không muốn bảo
là ngớ ngẫn, th́ ít ra cũng bắt nguồn từ
sự thiếu khôn ngoan." (Ducanson, Denis
J. Government and Revolution in Vietnam,
1968)
Dù vậy, nhưng biến cố nầy sau khi được
nhà báo thiên tả như Jean Lacouture viết
những bài tường thuật trên báo Le Monde
tại Paris đă kết án chính quyền của Tổng
Thống Ngô Đ́nh Diệm là độc tài, không
thực thi nghiêm chỉnh Hiến Pháp và không
được sự ủng hộ của đa số chính khách đối
lập trong việc theo đuổi chính sách chỉ
đạo cuộc chiến tranh chống Cọng tại Việt
Nam. Điều nầy đă làm xấu đi h́nh ảnh của
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm tại chính
trường Hoa Thịnh Đốn.
Tiếp đến, một biến cố quân sự khác, đó
là cuộc đảo chánh 11-11-1960 do Trung Tá
Vương Văn Đông chủ xướng. Ông Đông là
một sĩ quan thân Pháp, bất măn với chính
quyền Ông Diệm, kết hợp với một số sĩ
quan gốc Bắc cũng bất măn như ông, v́
cho rằng Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm kỳ thị
địa phương, chỉ thích sử dụng người miền
Trung (Đại Tá Phạm Văn Liễu đàm luận với
tác giả tại California, 7-1986). Do đó,
các sĩ quan nầy chủ động một cuộc đảo
chánh quân sự một cách vội vă và thiếu
tổ chức, chứ không có một hậu thuẩn
chính trị nào đáng kể. Về phương diện
chính trị, ông Đông có liên lạc với luật
sư Hoàng Cơ Thụy, một người có họ hàng
với ông, như là người phụ trách bộ phận
chính trị của cuộc đảo chánh, nhưng ông
Thụy không có liên lạc hay nối kết hoặc
được sự ủng hộ của một chính đảng nào.
(xem Vương Văn Đông, Binh Biến
11-11-1960, Phụ Nữ Diễn Đàn, Virginia,
số 106 tháng 11/1992, tr 41-42). Chỉ khi
Đại Tá Nguyễn Chánh Thi, người tham gia
đảo chánh vào giờ chót, cho mời nhà văn
Nguyễn Tường Tam, kỷ sư Phan Khắc Sữu,
v́ không nắm vững t́nh thế lúc đó, nên
các cụ ủng hộ cuộc đảo chánh vào giờ
chót, và sau này, các cụ đă gặp khá
nhiều hệ lụy phiền phức với chính quyền.
Trong khi luật sư Thụy, v́ được CIA móc
nối và khuyến khích thực hiện cuộc binh
biến nầy từ trước, nên sau khi sự việc
bất thành, CIA đă đưa vị luật sư nầy rời
khỏi Việt Nam một cách an toàn.
Rồi ngày 20.12.1960, Cộng sản Bắc Việt
chính thức khai sinh Mặt Trân Giải Phóng
Miền Nam để phát động cuộc xâm lăng vơ
lực thôn tính Miền Nam.
Ba sự kiện trên đây, đối với người viết,
xảy ra hoàn toàn riêng rẽ, không có một
liên hệ hỗ tương, nhân quả hay luận lư
nào với nhau. Nhưng đối với dư luận,
nhất là tại Hoa Kỳ, họ cho rằng ba biến
cố nầy đă có một liên hệ nhân quả mật
thiết, nghĩa là chính quyền Diệm độc
tài, đàn áp đối lập, hạn chế những quyền
tự do căn bản …, xa rời quần chúng,
khiến đa số chán ghét chế dộ Diệm nên đă
có những thành phần trí thức bất măn như
nhóm Caravelle đ̣i hỏi cải cách chính
trị, nhóm sĩ quan nhảy dù thực hiện đảo
chánh quân sự và sau khi những nỗ lực
nầy thất bại, những thành phần đối lập
nầy, không c̣n phương cách nào khác hơn,
đă phải nối kết lại với nhau dựng nên
Mặt Trân Giải Phóng Miền Nam, hoàn toàn
độc lập với Hà Nội, xử dụng vơ lực để
chống lại chính phủ Miền Nam.
Điều thiếu
may mắn nữa cho Ông Diệm và cũng cho
Miền Nam, là quan điểm nầy lại được một
chuyên gia rất có uy tín về Việt nam là
G. Kahin, giáo sư của Địa Học nổi tiếng
Cornell và cũng là cố vấn của Tổng Thống
Kennedy về Việt Nam sau nầy nhiệt t́nh
ủng hộ. (xem Kahin George, Intervention,
1986). Từ những nguyên nhân sau xa đó,
uy tín của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm
trong chính giới Hoa Kỳ ngày càng giảm
sút nghiêm trọng, đến nổi, cuối năm
1961, những nhà làm chính sách tại ṭa
Bạch Ốc đă có lúc nghĩ đến việc ám sát
Tổng Thống Ngô Đ́nh diệm, nhằm thay đổi
cơ chế lănh đạo của Miền Nam.
Trong thời gian đó, chỉ có chính quyền
Úc có một cái nh́n sâu sắc và thực tiển
hơn về vấn đề xây dựng dân chủ và đường
lối chính trị cứng rắn của Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm trong chủ trương theo đuổi
cuộc chiến tranh chống Cộng, Ngoại
Trưởng R. G. Casey của Úc đă nhận xét:
"Hai sự việc cần được mọi người ghi nhớ
khi muốn chỉ trích chính quyền Việt Nam
. Thứ nhứt, Việt Nam đang ở tuyến đầu
của cuộc chiến tranh lạnh. Chính phủ
quốc gia đó, không thể để một khe hở nào
cho đối phương khai thác. Một kẻ hở nào
cũng sẽ cực kỳ nguy hiểm, không những
cho Việt nam mà c̣n cho cả tự do của
Đông Nam A` Châu nữa. Thứ hai, sự thực
hiện dân chủ trên b́nh diện quốc gia là
một quan niệm hoàn toàn mới mẻ tại Việt
Nam và cần phải có thời gian để phát
triển các định chế, các truyền thống,
các tập tục hầu thực hiện các quyền dân
chủ theo đường hướng xây dựng và có
trách nhiệm". (Richard Lindhelm,
Vietnam, the First five years Ann Arbor,
Michigan, 1959, tr 344)
Quan Niệm Dân
Chủ Việt Nam và Hoa Kỳ.
Sai Lầm của Mỹ
Điều khá khôi hài, khi quan niệm dân chủ
của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và của Tổng
Thống Kennedy đều bắt đầu bằng hai chữ
T. Đó là Dân Chủ Thành và Tín của Ông
Diệm trong khi Dân Chủ của Kennedy là
dân chủ thực tiển. Thật vậy, Tổng Thống
Ngô Đ́nh Diệm luôn luôn chủ trương rằng
đời sống dân chủ nói cho cùng … chính là
việc đem áp dụng các giá trị thành và
tín vào cuộc sống hằng ngày một cách
thật hoàn hảo. Trong khi đó, các giới
chức của chính quyền Hoa Kỳ chủ trương
dân chủ thực tiển, nghĩa là dân chủ phải
thực tế, từ ngữ tự do dân chủ, chủ quyền
quốc gia và công pháp quốc tế, chỉ một ư
nghĩa vô cùng tương đối và tùy tiện,
nhắm phục vụ cho quyền lợi của Hoa Kỳ
thời đó đă khẳng định rằng, v́ quyền lợi
của nước Mỹ, không những họ có quyền mà
c̣n có trách nhiệm để thay đổi cơ chế
lănh đạo Miền Nam lúc bấy giờ. Cũng như
ngày nay, Hoa Kỳ chỉ đặt nhân quyền, tự
do tôn giáo … với chính quyền Hà Nội,
khi người Mỹ c̣n muốn mặc cả về những
điều kiện kinh tế và thương mại cho giới
tư bản Mỹ, nhưng khi những yêu sách nầy
của Mỹ được Hà Nội thỏa măn, th́ những
vấn đề nhân quyền … của Việt Nam chắc
chắn sẽ không c̣n được chính quyền Hoa
Kỳ đề cập đến nữa. Đó là những thực tại
chính trị khá phủ phàng nhưng rất thực
tế của nước Mỹ và cũng là nan đề trong
việc thực thi dân chủ tại Miền Nam của
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm mà người viết
sẽ tŕnh bày một cách chi tiết trong
phần dưới đây.
Bối Cảnh Lịch Sử Chính Trị, ‘Chia để
Trị’
Tổng Thống Ngộ đ́nh Diệm thường tâm sự
với các cộng sự viên thân tín:
Người Mỹ không có khả năng phân biệt
được thế nào là uy quyền quốc gia và chủ
quyền dân tộc với lối cai trị độc tài …
V́ truyền thống xă hội Việt Nam, bối
cảnh chính trị và lịch sử của đất nước,
đ̣i buộc các nhà lănh đạo Việt
Nam phải chú trọng đến việc nâng cao chủ quyền
quốc gia (Ngô Đ́nh Luyện đàm luận với
tác giả tại Ba Lê, tháng 9,1986).
Thật vậy, xuyên qua lịch sử Việt Nam,
quốc gia nầy đă bị người Trung Hoa cai
trị gần một ngàn năm và hơn 80 năm bị
người Pháp đô hộ. Những người thống trị
ngoại bang nầy đă áp dụng một chính sách
chia để trị nhằm chia rẽ Việt Nam và
kiềm hảm quần chúng trong cảnh thất học,
nghèo đói và chậm tiến. Cũng theo Tổng
Thống Ngô đ́nh Diệm, chính sách nầy đă
để lại những hậu quả vô cùng nghiêm
trọng cho xă hội Việt Nam trên nhiều
b́nh diện khác nhau:
Trước hết là t́nh trạng phân hóa. Điều
nầy thể hiện khá rơ rệt trong lịch sử
đất nước chúng ta. Sau khi Ngô Quyền
dành độc lập cho tổ quốc và chấm dứt
thời kỳ lệ thuộc vào phương Bắc, đất
nước chúng ta đă phải trăi qua thời kỳ
Thập Nhị sứ quân. Và đến thế kỷ thứ 15,
dân tộc nầy phải sống trong cảnh Nam Bắc
Phân Tranh gần 100 năm. Dưới thời Pháp
đô hộ, chính quyền thức dân đă chia Việt
Nam thành 3 miền khác nhau: Bắc Kỳ,
Trung Kỳ và Nam Kỳ và được đặt dưới
những chế độ chính trị khác nhau:
Thật vậy, trên nguyên tắc, Bắc Kỳ và
Trung Kỳ được đặt dưới chế độ Bảo Hộ
(Protectorate), nhưng trong thực tế,
cách thức cai trị ở Bắc kỳ và Trung Kỳ
cũng khác nhau.
-
Ở Bắc Kỳ, người Pháp đ̣i
buộc Triều Đ́nh Huế ủy quyền cho một
viên chức Pháp gọi là Thống Sứ
để đại
diện Hoàng Đế Việt Nam điều hành công
việc hành chánh tại miền đất nầy.
-
Trong
khi Trung Kỳ thuộc thẩm quyền của các
Vua Triều Nguyễn, cai trị dân chúng dưới
sự chỉ đạo của Khâm Sứ Pháp tại Huế.
-
C̣n
Nam Kỳ được đặt dưới chế độ thuộc đia
(colony) hoàn toàn do người Pháp cai
trị. Người dân sống từ vùng nầy sang
vùng khác; ví dụ như Bắc Kỳ vào Nam Kỳ,
phải xin giấy thông hành (passport) giống như người từ quốc gia sang quốc
gia khác vậy. Rồi vào thập niên 1950,
người Pháp đặt Cao Nguyên Trung Phần
dưới một thể chế cai trị đặc biệt được
mênh danh là Hoàng Triều Cương Thổ. Và
tiếp theo, người Pháp cũng cắt một số
tỉnh miền Đông và miền Tây Nam Kỳ đặt
dưới quyền cai trị riêng của hai giáo
phái Cao Đài và Ḥa Hảo.
Áp dụng biện pháp cai trị đó, người Pháp
nhằm mục đích tạo t́nh trạng phân hóa
giữa người Việt và làm ung thối tiềm
năng đấu tranh dành độc lập của dân tộc.
Theo ông Ngô Đ́nh Luyện, khi về nước cầm
quyền, Ông Diệm đă phải đối dầu với t́nh
trang chia rẽ trầm trọng. Do đó, chính
phủ không c̣n cách nào khác hơn là tập
trung quyền hành để thống nhất uy quyền
quốc gia, nhằm xây dựng độc lập cho dân
tộc, phát triển kinh tế, cải tạo xă hội
và ngăn cản âm mưu khuynh đảo của cộng
sản.
Ngoài ra, để dễ dàng duy tŕ chế độ thực
dân, người Pháp đă kiềm chế dân tộc Việt
Nam trong cảnh thất học. Họ đă hạn chế
việc xuất bản sách báo và kiểm soát gắt
gao việc mở trường dạy học. Trong thực
tế, chính quyền thực dân chỉ mở một số
ít các trường học nhằm đào tạo một số
công chức cấp thấp để phục vụ cho guống
máy cai trị của họ tại Đông dương. Chủ ư
của họ là tạo nên một giới thư
lại thụ
động, thiếu trách nhiệm, chỉ biết vâng
lệnh và không biết tự t́m cách giải
quyết các vấn đề. Do đó, khi thu hồi độc
lập, chính quyền trung ương đă phải giải
quyết tất cả mọi vấn đề trên toàn quốc.
Theo ông Ngộ Đ́nh Luyện, trong nội các
của Ông Diệm năm 1955, chỉ có 2 đến 3
tổng trưởng là dám nhận lănh trách nhiệm
để điều hành các công việc thuộc phạm vi
quyền hạn của họ. C̣n những người c̣n
lại, v́ sợ trách nhiệm hoặc không đủ
hiểu biết chuyên môn để giải quyết các
vấn đề khó khăn; do đó, đă t́m mọi cách
để tránh né và chuyển gánh nặng hành
chánh của họ lên vai Tổng Thống Diệm.
Chính v́ t́nh trạng nầy, vào những năm
sau cùng của chế độ Đệ Nhất Cộng Ḥa,
Tổng Thống Diệm đă phải gởi hàng núi hồ
sơ cho ông Ngô đ́nh Nhu, người cố vấn
thân tín nhất của Tổng Thống để giải
quyết. Đó là lư do giải thích tại sao
hằng ngày Tổng Thống Diệm đă phải làm
việc hết sức cực nhọc từ 5 giờ sáng đến
nửa khuya và đôi khi đến 1 hy 2 giờ sáng
ngày hôm sau.
Như điều tai hại cho Tổng Thống Diệm, là
những người cộng sự viên thiếu tinh thần
trách nhiệm nầy, thường bí mật phàn nàn
với cố vấn Mỹ, là Tổng Thống Diệm không
biết ủy quyền cho các thuộc cấp, muốn
tập trung tất cả quyền hành vào trong
tay ḿnh, cho nên đă tạo nên nhiều sai
lầm nghiêm trọng. (Theo Ngô Đ́nh Luyện,
đàm luận với tác giả). Chính v́ vậy, mà
Hilsman, Thứ Trưởng Ngoại Giao, Đặc
Trách Viễn Đông Sự Vụ, khi quan sát t́nh
h́nh Việt Nam vào đầu năm 1963, đă kết
luận:
Dù có biện hộ hay né tránh thế nào đi
nữa, vấn đề cuối cùng vẫn là nơi Ông
Diệm.
(Xem Hilsman, To Move A Nation, tr 460)
Phương Cách
Thực Thi Dân Chủ.
Đối với Tổng Thống Diệm, dân chủ kiểu Mỹ
là một sản phẩm xa xỉ hoàn toàn không
thích hợp với một quốc gia chậm tiến như
Việt Nam . Cũng theo Ông, xă hội Việt
Nam, đa số dân chúng hơn 80% sống ở thôn
quê, c̣n đói nghèo, thất học, không có
an ninh, luôn bị du kích Cộng sản đe
dọa; th́ những tự do ngôn luận, tự do
báo chí, tự do hội họp, tự do bầu cử
chẳng có ư nghĩa ǵ cả đối với họ. Điều
mà dân chúng ở nông thôn mong muốn là
một chính quyền mạnh mẽ, đủ để bảo đảm
an ninh cho họ chống lại sự khủng bố của
Việt Cộng. Hằng đếm, du kích Cộng sản
dùng súng hăm dọa để thu thóc gạo, cưỡng
bách con em họ phải tham gia hàng ngũ
cán binh Việt Cộng. Ngoài ra, dân quê
cần chính quyền tạo cho họ một đời sống
đủ ăn, đủ mặc chống lại sự bóc lột của
chủ đất, và của một thiểu số có thế lực
và giàu có. Rồi từ đó, họ có đủ phương
tiện gởi con em họ đến trường học, hấp
thụ được một nền giáo dục căn bản, đủ
kiến thức chính trị cần thiết. Lúc đó,
người dân quê sẽ biết xử dụng quyền tự
do căn bản của họ, để thực sự tham gia
các cuộc bầu cử và ứng cử nhằm ngăn chận
những người địa chủ và một thiểu số giàu
có, lợi dụng sự nghèo đói và thất học
của họ đă khai thác và bóc lột họ.
Lư thuyết của Tổng Thống Diệm đă được áp
dụng vào thực tế qua những chương tŕnh
sau đây:
-
Chương tŕnh cải cách ruộng đất, được
mệnh danh là chương Tŕnh Người Cày Có
Ruộng trong đó chính phủ mua đất của các
địa chủ phát cho người nghèo.
-
Chương Tŕnh Dinh Điền, chính phủ đă
thực hiện một công cuộc di dân từ các
làng xă dân cư đông đúc và nghèo khổ; ở
đó dân không đủ đất để cày hoặc đất đai
quá cằn cổi, đến những vùng đất đai trù
phú hơn ở Cao Nguyên để khẩn hoang lập
nghiệp. Trong thời gian đầu, chính phủ
giúp cho dân chúng đầy đủ các vật dụng
để xây cất nhà cửa, các nông cụ canh
tác. Đồng thời, chính phủ cũng cung cấp
đầy đủ lương thực và quần áo để sống
trong ṿng 6 tháng đầu tiên để chờ đợi
mùa màng sinh hoa lợi.
-
Chương tŕnh Khu Trù Mật, chính phủ đă
chọn một số địa điểm ở thôn quê, để xây
dựng các cơ sở với những tiện nghi của
thành phố như lập nhà máy điện, đào
giếng nước được trang bị máy bơm tối
tân, xây bệnh viện, trường học .. để dân
chúng nông thôn hưởng thụ những tiện ích
của đời sống văn minh.
-
Chương tŕnh Ấp Chiến Lược. Đây là
chương tŕnh rất quan trọng nằm trong
sách lược của quốc gia nhằm chống lại
cuộc chiến tranh khuynh đảo do chính
quyền Hà Nội chủ xướng.
Qua chương tŕnh nầy, chính quyền địa
phương đă thực hiện một cuộc thanh lọc
để loại trừ những thành phần cộng sản
nằm vùng ra khỏi dân chúng. Sau đó,
chính quyền đoàn ngũ hóa dân chúng
thành những tổ chức chiến đấu để chống
lại sự khủng bố của cộng sản. (…)
Về phương diện kinh tế, mỗi ấp đă trở
thành một đơn vị phát triển kinh tế tự
túc. Thật vậy, lúc đầu với một máy sản
xuất gạch ngói có tính cách tiểu công
nghệ do chính phủ giúp đở, với lối làm
việc vầnn công và đổi công, chẳng bao
lâu trong ấp, tất cả các nhà tranh được
thay thế bằng các nhà gạch với mái ngói
khang trang với vườn cây ăn trái tốt
tươi và xinh đẹp.
Về phương diện chính trị, mỗi ấp tự bầu
lên một ban trị sự để điều hành mọi công
việc trong ấp. đây là phương cách hữu
hiệu và thực tiễn để người dân quê có
thể tiếp tục xử dụng những quyền tự do
dân chủ căn bản để bầu người đại diện
của ḿnh vào cơ cấu hành chánh xă ấp.
Theo Tổng Thống Diệm, đây là cách thực
hiện dân chủ hiệu quả nhất của một quốc
gia chậm tiến đang phải đối phó với cuộc
chiến tranh phá hoại và khủng bố do Cộng
sản điều động từ bên ngoài. Nói một cách
khác, đây là cách phát triển dân chủ từ
hạ tầng cơ sở đến thượng tầng kiến trúc
của quốc Gia. Chỉ trong cơ cấu nầy,
người dân quê cô thế và thất học mới
thật sự được thụ hưởng những quyên tự do
căn bản của con người. Cũng theo Tổng
Thống Diệm, phương cách chính trị phù
hợp với truyền thống dân chủ ngàn xưa
của dân tộc Việt. Đó là người dân được
quyến quyết định mọi việc trong làng,
phép vua thua lệ làng. Và thượng tầng,
vẫn được duy tŕ được uy quyền tối
thượng của quốc Gia.
Tổng Thống Diệm cũng thường nói với cộng
sự viên thân tín như sau:
Nếu đem áp dụng một cách cứng ngắt kiểu
dân chủ Mỹ vào Việt Nam, không những
không đem lại lợi ích cho Quốc Gia, mà
c̣n tạo thêm cho một thiểu số giàu có
bóc lột những người dân nghèo thất học,
giúp phương tiện cho những chính trị gia
cơ hội, xu thời và những thành phần thân
Cộng ở các thành phố dùng các phương
tiện truyền thông để chỉ trích chính
phủ, gây thêm rối loạn trong một quốc
gia cần sự ổn định, để theo đuổi cuộc
chiến tranh sống c̣n chống lại âm mưu
khuynh đảo của Cộng sản. (Vơ Văn Hải,
đàm luận với tác giả, tại Đalat, 1973)
(c̣n tiếp)
|