Cần thẩm định
lại giá trị của
TT Ngô Đ́nh Diệm và chế độ Việt
Nam Cộng Ḥa I
Ông Diệm do chính phủ Pháp đưa lên cầm quyền và
được Pháp ủng hộ ?
Thuyết Nhân Vị phủ nhận cá nhân, cốt lơi của dân
chủ ?
Trong những năm gần đây vấn đề xét lại lịch sử
Việt Nam được đặt ra và càng ngày càng được
hưởng ứng. Trong sự xét lại này, giai đoạn
1954-1963, giai đoạn ông Ngô Đ́nh Diệm cầm quyền,
là một giai đoạn rất sôi động nhưng lại chưa
được khảo xét đầy đủ và đứng đắn, và nay cần
được chú ư nhiều hơn. Về điểm này có thể nhắc
đến những tác phẩm :
- Nhớ lại những ngày ở cạnh tổng thống Ngô Đ́nh
Diệm của đại tá Nguyễn Hữu Duệ (1),
- Ḍng họ Ngô Đ́nh, ước mơ chưa đạt của ông
Nguyễn Văn Minh (2),
- Đệ nhất Cộng Ḥa Việt Nam, 1954-1963, Một cuộc
cách mạng của tiến sĩ Phạm Văn Lưu và tiến sĩ
Nguyễn Ngọc Tấn (3).
Những tác phẩm trên đây đáng đánh giá cao v́ các
tác giả của nó hội đủ những điều kiện cần thiết
về vô tư và chính xác. Những tác phẩm này ra đời
đúng lúc. Nó có tác dụng góp một phần quan trọng
vào sự dọi ánh sáng mới vào lịch sử giai đoạn
1954-1963. Đặc biệt nhất là nó đă nói lên những
điều mà, đáng lẽ, chính anh em họ Ngô phải nói
lên trong hơn 50 năm qua để trả lời những công
kích chỉ trích về họ và chế độ Việt Nam Cộng Ḥa
I. Anh em họ Ngô đă im lặng. Họ đă im lặng, v́
họ đă bị sát hại. Nay mới có người nói thay họ.
Bài này chỉ bàn về tác phẩm của tiến sĩ Phạm Văn
Lưu và tiến sĩ Nguyễn Ngọc Tấn, v́, khác với các
tác phẩm của đại tá Nguyễn Hữu Duệ và của ông
Nguyễn Văn Minh, nó không thuộc về loại hồi kư/hồi
ức, mà là một công tŕnh sử học, đúng nghĩa của
nó, nghĩa là thỏa măn những tiêu chuẩn về khoa
học của những trường đại học lớn của thế giới :
khảo sát tường tận, hoàn toàn khách quan, dữ
kiện được cân nhắc kiểm tra kỹ lưỡng, tŕnh bày
một cách b́nh tĩnh, vô tư, ngôn ngữ đứng đắn. Nó
thỏa măn những điều kiện trên v́ nó trích từ
những luận án tiến sĩ của hai tác giả.
Hai tác giả trên đây đă tốt nghiệp từ Đại học
Monash University ở Melbourne, Úc, và đă từng là
giáo sư của các đại học đó. Họ đă chọn Việt Nam
và giai đoạn Ngô Đ́nh Diệm làm đề tài luận án
tiến sĩ, và những bài họ viết được trích từ các
luận án của họ. Năm nay họ đều 62 tuổi, nghĩa là
trong thời gian 1954-1963 họ c̣n là học sinh nên
không có liên hệ ǵ với chế độ Cộng Ḥa I. Họ
cũng không có quan hệ gia đ́nh ǵ với họ Ngô.
Sau khi đến Úc, họ theo học các đại học nói trên,
và họ đă bỏ rất nhiều công đi sưu khảo tại rất
nhiều nơi có chứa tài liệu dồi dào liên quan đến
Việt Nam : Bảo tàng viện chiến tranh Úc;
East-West Center, Đại học Hawaii; Archives of
Indochina, Đại học Berkeley, C.A.; Thư viện của
Austin University, Texas; Đại học Harvard; Đại
học Cornell, Ithaca, N.Y.; Thư viện Eisenhower,
Thư viện Kennedy, Thư viện Johnson; và Library
of Congress, Washington D.C. Cuối cùng, sau khi
tốt nghiệp, họ đă giảng dạy ở những đại học Úc,
và vị thế này bắt buộc họ phải vô tư để giữ uy
tín đứng đắn của ḿnh và... khỏi mất việc. Như
thế ta có thể chắc về tính chất khả tín của
những ǵ họ viết : chính xác, vô tư, và đứng đắn.
Quyển Đệ nhất Cộng Ḥa Việt Nam 1954-1963 (ĐNCHVN
I), 229 trang, có 5 chương. Hai chương 4 và 5
không quan hệ lắm v́ nó chỉ chứa một số h́nh ảnh
về các cuộc viếng thăm các quốc gia bạn, hay
đăng lại một số diễn văn của Tổng thống Diệm. Ba
chương c̣n lại là những chương đáng chú ư.
Chương 1, "Những thách thức nghiệt ngă khi về
chấp chánh" của P. V. Lưu, nói về những thách
thức mà ông Diệm gặp phải trong hai năm
1954-1955 sẽ được bàn đến một cách khá chi tiết,
v́ nó chứa đựng nhiều điều mới mà người Việt Nam
cần biết. Chương 2, "Chủ nghĩa Nhân Vị, con
đường mới, con đường tiến bộ", của N. N. Tấn,
nói về thuyết Nhân Vị cũng vậy v́ đây là lần đầu
mà thuyết này được tŕnh bày một cách tường tận,
đầy đủ, và nhất là trung thực khách quan. Chương
3, "Thành quả 9 năm cầm quyền" của tiến sĩ Lưu,
nói về thành tích 9 năm cai trị của ông Diệm
cũng là một cái ǵ mới. Trong quá khứ, sách báo
nói về ông Diệm và chế độ ông thường chú tâm vào
khía cạnh chính trị, cá nhân và gia đ́nh ông -
độc tài, gia đ́nh trị - nhưng không hề đề cập
đến những thành quả lớn mà chính phủ ông đạt
được trong 9 năm ông lănh đạo : kiện toàn độc
lập - lấy lại chủ quyền quốc gia trong tất cả
các lănh vực : chính trị, ngoại giao lẫn quân sự
và kinh tế tài chính - cải thiện đời sống của
dân chúng bằng cách phát triển tất cả các lănh
vực hoạt động - kỹ nghệ, nông thôn, ngư nghiệp,
chuyên chở, giáo dục... Chương này rất phong phú
về thống kê, cho độc giả một ư niệm rơ ràng về
những thành tích lớn lao mà Việt Nam đă đạt được
dưới chế độ Việt Nam Cộng Ḥa I.
Trong 50 năm qua, sách báo về Việt Nam rất nhiều,
nhưng phần lớn trong loại "khảo cúu" xuất phát
từ các giới Tây phuơng, đặc biệt là Hoa Kỳ,
thường xuyên tạc sự thực, bôi xấu Việt Nam, và
đặc biệt là ông Diệm. Đó là v́, như David
Horrowitz, lănh tụ phát động trào phản chiến
"sit in" của Đại học Berkeley, C.A., trong thập
niên 1960 thú nhận sau khi đă bỏ và chống lại
phong trào này trong thập niên 1980, những giới
đại học và truyền thông Hoa Kỳ đă bị các tổ chức
phản chiến và cộng sản mang danh "cách mạng" xâm
nhập, chi phối và áp đặt quan điểm "politically
correct" của họ. Ông Diệm bị công kích bôi xấu
đặc biệt v́ ông chống thực dân cả Pháp lẫn Mỹ đă
gắt gao mà chống cộng sản c̣n gắt gao hơn nữa.
Phần khác, trên những kệ sách của các thư viện
vắng bóng những tác phẩm loại "khảo cứu" của
người Việt có đủ tầm thuyết phục, phản bác lại
các tác phẩm của những giới phản chiến và "cách
mạng" trên đây. Có nhiều tác giả lại vô t́nh a
dua người Tây phương lặp lại những luận điệu bôi
xấu Việt Nam và lănh tụ Việt Nam, nhứt là lănh
tụ chống cộng hữu hiệu như ông Diệm.
V́ lư do trên đây, không ít người Việt phe "quốc
gia" thường có mặc cảm xấu hổ hay nghi hoặc về
xứ sở, dân tộc, và các lănh đạo của Việt Nam khi
nghĩ hay bàn về thời sự. Riêng về ông Ngô Đ́nh
Diệm, th́ họ lại càng chê bai, kết tội hơn nữa,
và những ǵ tốt về ông th́ không nói đến. Khuyết
điểm trên đây cũng dễ hiểu. Đối với nhiều người
Việt, Bụt nhà không thiêng !
Trong chương 1, tiến sĩ Lưu đă dùng những từ ngữ
"thách thức" và "nghiệt ngă" để nói về những trở
ngại mà ông Diệm gặp phải khi về nước chấp chánh
và trong hai năm đầu để giữ chính quyền. Hai từ
ngữ này rất đúng. Ông Diệm đă găp vô vàn trở
ngại. Nhưng những trở ngại lớn nhất là do chính
phủ Pháp ở Paris hoặc Washington, những viên
chức Pháp và những giới tài phiệt Pháp ở Việt
Nam gây ra trong việc t́m cách lật đổ ông, một
đằng bằng cách xúi giục những người Việt chống
đối ông dùng đủ mọi cách, kể cả quân sự, để gây
bất ổn, một đằng bằng cách thuyết phục lôi kéo
đại diện chính phủ Hoa Kỳ ở Paris, ở Sài G̣n, và
ngay cả ngoại trưởng và tổng thống Hoa Kỳ ở
Washington đừng ủng hộ ông ấy nữa.
Tuyên truyền cộng sản và các giới phản chiến
"politically correct" Tây phương đă không ngớt
quả quyết rằng ông Diệm là "người của Mỹ", được
chính phủ Mỹ lựa chọn và đưa lên làm thủ tuớng
và yểm trợ hết ḿnh. Phần khác, gần đây lại có
tác giả quả quyết rằng "Ngô Đ́nh Diệm do chính
phủ Pháp đưa lên cầm quyền và được Pháp hỗ trợ"
(4). Cả hai luận cứ trên đều là những quả quyết
vu vơ, và đă bị tiến sĩ Phạm Văn Lưu phản bác
với những dữ kiện rất vững chắc không thể phủ
nhận được, v́ rút ra từ các điện văn mật trao
đổi giữa những toà đại sứ Mỹ ở Paris, Sài G̣n,
bộ ngoại giao Mỹ và Ṭa Bạch Ốc, và với chính
phủ Pháp. Các điện văn đó được bạch hóa và phổ
biến trong những năm gần đây đă cho ta biết được
sự thực đích xác về những ǵ đă xảy ra ở Việt
Nam trong những năm 1954-1956, thời gian mà ông
Diệm chấp chánh và ổn định t́nh h́nh.
Ông Lưu đă cho ta thấy rằng ngay từ ngày được
cựu hoàng Bảo Đại bổ nhiệm làm thủ tướng ngày
16-6-1954, và ngay cả trước đó nữa, cho đến cuối
năm 1956 ông đă bị nhân viên dân sự cũng như
quân sự Pháp ở Sài G̣n và chính phủ Pháp, dù là
thiên tả như Mendès-France, hay thiên hữu như
Edgar Faure ở Paris, nói xấu và t́m đủ mọi cách
lật đổ. Và trong cố gắng thực hiện ư đồ này, họ
đă hết ḿnh thuyết phục các đại diện Mỹ ở Sài
G̣n, Paris, bộ trưởng ngoại giao J.F. Dulles, và
ngay cả tổng thống Eisenhower chấp nhận giải
pháp loại bỏ ông Diệm, và đă suưt thành công
trong sự vận động này.
Ngày 13-6-1954, ba ngày trước khi ông Diệm được
chính thức bổ nhiệm làm thủ tướng, ông Dejean,
phó cao ủy Pháp ở Sài G̣n, nói với ông
McClintock, đại diện Mỹ tại Sài G̣n, rằng ông
Diêm "không có cơ may để lập một chính phủ hữu
hiệu cho Việt Nam". Ngày 15-6-1954, một tuần
trước khi ông Diệm bước chân xuống Sài G̣n và ba
tuần trước khi ông Diệm tŕnh diện chính phủ của
ông, tướng Ely, cao ủy Pháp ở Sài G̣n cũng nói
với ông McClintock rằng ông Diệm không đủ khả
năng lănh đạo. Ngày 20-6-1954 tại Paris, ba ngày
trước khi ông Diệm đáp máy bay đi Sài G̣n, hơn
hai tuần trước ngày ông Diệm tŕnh diện chính
phủ của ông (7-7-1954), thủ tướng Pháp
Mendès-France nói với đại sứ Mỹ Dillion rằng ông
Diệm là một người cuồng tín và nhờ Hoa Kỳ ngăn
cản không cho ông làm hỏng Hội nghị Genève. Ông
Mendès-France không đặt vấn đề không cho ông
Diệm làm thủ tướng v́ bận tâm của ông ta
(Mendès) lúc đó là phải kư cho đuợc hiệp định
nội trong ngày 20-7, nếu không ông ta phải từ
chức, v́ khi nhận chức thủ tướng ông đă cam kết
với Quốc hội Pháp như vậy ! Trong nhưng cuộc
tiếp xúc khác với đại diện Mỹ, lúc ông Diệm
quyết định dùng binh đương đầu với thách thức
quân sự của B́nh Xuyên, tướng Ely nói ông Diệm
là người "mắc chứng hoang tưởng tự đại"
(mégalomane), hoặc "điên khùng". Trong cuộc hội
nghị với các ngoại trưởng Mỹ, Anh, ở Paris ngày
8-5-1955, thủ Tướng Pháp E. Faure đă kích ông
Diệm nặng nề, gọi ông là "điên khùng".
Trong những buổi họp với đại diện Hoa Kỳ để bàn
về Việt Nam, luận đề được đại diện Pháp luôn
luôn đưa ra là "giải pháp" Ngô Đ́nh Diệm chỉ là
một cuộc thí nghiệm, "thời gian thí nghiệm đă
qua", ông Ngô Đ́nh Diệm đă tỏ ra "không có khả
năng tập họp các lực lượng chính trị", không
được quân đội yểm trợ, không ổn định được t́nh
h́nh, gây hận thù đối với Pháp, cho nên phải
thay thế ông bằng một người, hay nhóm người, có
khả năng hơn. Người, hay nhóm người "có khả năng
hơn" này tất nhiên lấy trong những nhân vật mà
Pháp chi phối.
Những đại diện Mỹ ở Sài G̣n - các cố vấn
McClintock và Kidder, đại sứ Heath, đặc sứ
Collins - cũng ngă xiêu theo quan chức Pháp,
nhất là những quan chức này có uy tín như phó
cao ủy Dejean, và tướng Ely, và nhiều lần đề
nghị với chính phủ Hoa Kỳ nên thay thế ông Diệm.
Ngay cả ngoại trưởng Dulles và tổng thống
Eisenhower cũng chấp nhận nguyên tắc này sau khi
nghe phúc tŕnh của đặc sứ Collins về vụ ông
Diệm ra lệnh cho quân đội quốc gia dẹp B́nh
Xuyên, và ngày 27-4-1955 đă điện cho ṭa đại sứ
Sài G̣n chỉ thị về quyết định này. Họ bực bội
với ông Diệm v́ ông từ chối những giải pháp mà
họ cho là có khả năng ổn định t́nh h́nh.
Lư do thật sự của thái độ này là sự bực bội của
họ trước thái độ cứng rắn, không nhân nhượng của
ông Diệm. Nói cho đúng, quan chức Pháp cũng như
quan chức Mỹ ở Sài G̣n hồi đó bực bội với ông
Diệm v́ ông tỏ ra một người không dễ bảo. Nói
trắng ra, ông Diệm không chịu làm bù nh́n, dù là
của Pháp hay của Mỹ, nhất là khi những đề nghị
của họ vi phạm độc lập, danh dự, và tương lai
của Việt Nam. Ví dụ : sau những xáo động ở thủ
đô do B́nh Xuyên và tướng Hinh gây ra trong mùa
thu 1954, đại sứ Heath đề nghị ông Diệm lưu
tướng Hinh lại trong quân đội, nhưng ông Diệm
không chấp nhận. Đại sứ bèn quyết định là ông
Diệm phải ra đi, và ông tường tŕnh về
Washington như sau : "chúng ta phải tranh thủ
thời gian để chuẩn bị điều mà Mendès-France gọi
là một cơ cấu chính quyền khác... Tất cả mọi
người ở ṭa đại sứ tin chắc rằng ông Diệm không
thể tổ chức và điều hành một chính quyền vững
mạnh".
Đặc sứ Collins đă nhiều lần, đặc biệt là ngày
13-12-1954 và ngày 31-3-1955, điện cho Ṭa Bạch
Ốc đề nghị thay thế ông Diệm v́ ông Diệm "quá
cứng rắn". Các đề nghị của ông không được chấp
nhận. Nhưng hạ tuần tháng 4-1955, sau vụ chạm
súng giữa B́nh Xuyên và quân đội quốc gia, một
buổi họp quan trọng được tổ chức tại Ṭa Bạch Ốc
để nghe ông phúc tŕnh, một giải pháp do ông đề
nghị được chấp nhận : loại ông Diệm khỏi chức vụ
thủ tướng, đưa ông Trần Văn Đỗ thay thế ông, và
cử bác sĩ Phan Huy Quát làm phó thủ tướng. Trong
những người chấp thuận có cả ngoại trưởng Dulles
và tổng thống Eisenhower. Lập trường này được
thông báo cho ṭa đại sứ Mỹ ở Sài G̣n ngày
27-4-1955.
Sự chấp nhận trên đây của ngoại trưởng Dulles
cũng khá lạ, v́ ông là người ủng hộ giải pháp
Diệm mạnh nhất. Nhưng thật ra, ông cũng đă pḥng
xa. Trong một văn thư gởi cho đặc sứ Collins
ngày 20-4-1955, trước khi ông này rời Sài G̣n đi
Washington, ông nêu ra hai điều kiện để quyết
định sự ở lại hay ra đi của ông Diệm : 1/ Ông
Diệm có can đảm và quyết tâm để hành động và 2/
Ông ta có được sự trung thành của quân đội không
? Nếu ông Diệm thất bại một trong hai điều kiện
này th́ ông phải ra đi.
Nhưng ngày 28-4-1955 quân đội B́nh Xuyên lại tấn
công quân đội quốc gia. Ngày 29-4-1955, bất chấp
sự khuyến cáo của tướng Ely, ông Diệm ra lệnh
cho quân đội đánh trả, và quân đội quốc gia đă
thắng. Chính phủ Mỹ hiểu rằng những dự đoán của
tướng Ely về ông Diệm không có khả năng địch lại
B́nh Xuyên là sai lầm, và làm cho đặc sứ Collins
cùng chính phủ Mỹ quyết định sai lầm. Từ nay họ
không c̣n tin vào nhận định của Pháp nữa. Ngày
1-5-1955 nhận lệnh tổng thống Eisenhower, ngoại
trưởng Dulles gởi điện đến Paris và Sài G̣n hủy
bỏ điện tín ngày 27-4-1955. Ngày 8-5-1955, tại
hội nghị Anh-Mỹ-Pháp ở Paris, ngoại trưởng
Dulles tuyên bố rằng về Việt Nam, từ nay sẽ
không c̣n thỏa hiệp chung Mỹ-Pháp nữa.
Tổng thống Ngô Đ́nh Diệm công du Hoa Kỳ (1957)
Tổng thống Eisenhower và Ngoại trưởng Dulles
nghênh tiếp tại sân bay
Ông Diệm thắng.
Cái thắng của ông Diệm là sự thắng của can đảm,
và cương quyết bảo vệ chính nghĩa quốc gia Việt
Nam. Đặc biệt hơn nữa, nó là một cái thắng của
chính ông, dù ông bị Pháp cản trở và không có sự
ủng hộ của Hoa Kỳ.
Sự thắng này đưa đến những quyết định căn bản
mang lại độc lập thật sự cho Việt Nam trong ṿng
chỉ một năm:
- về chính trị Việt Nam ra khỏi Liên Hiệp Pháp
tư chọn quy chế cho ḿnh - chế độ Cộng Ḥa;
- thu hồi chủ quyền về ngoại giao : bang giao
giữa Việt Nam và Pháp qua Bộ Ngoại Giao Pháp
thay v́ Bộ Các Quốc Gia Liên Kết và Cao Ủy Pháp
ở Sài G̣n và Cao Ủy Việt Nam tại Paris thành Ṭa
đại sứ, chấm dứt lệ thuộc ngoại giao Việt Nam
vào Pháp;
- thu hồi chủ quyền về quân sự : ngày 26-4-1956
quân đội Pháp rút hết khỏi Việt Nam, quân đội
Việt Nam không c̣n lệ thuộc vào Pháp nữa, viện
trợ Hoa Kỳ cấp trực tiếp cho Việt Nam;
- chủ quyền kinh tế tài chính : cuối tháng 12
năm 1955, Việt Nam ra khỏi khu Phật lăng;
- giáo dục : Việt Nam tự do nhận giáo sư, chuyên
viên từ bất cứ nơi nào, và gởi sinh viên ra bất
cứ nơi ngoại quốc nào.
Như tiến sĩ Lưu nhấn mạnh : những chuyển biến
trên "mang theo ư nghĩa chính thức chấm dứt 72
năm chế độ Pháp bảo hộ Việt Nam (1884-1956)".
Người thực hiện được điều này cho Việt Nam là
ông Ngô Đ́nh Diệm. Với tác phẩm "Đệ nhất Cộng
Ḥa Việt Nam 1954-1963", tiến sĩ Phạm Văn Lưu đă
giúp ta thấy rơ điều này.
Cũng như với tiến sĩ P. V. Lưu, những sưu khảo
của tiến sĩ Nguyễn Ngọc Tấn đóng góp một phần
quan trọng vào vào việc soi sáng giai đoạn lịch
sử 1954-1963, thời gian ông Diệm cầm quyền.
Những sưu khảo này nhằm vào chủ thuyết Nhân Vị.
Theo tiến sĩ Tấn, trong 40 năm qua, "chưa có
cuốn sách nào viết về chủ nghĩa Nhân Vị dưới
khía cạnh hàn lâm [khoa học] cũng như đánh giá
về tầm quan trọng của nó như là một chủ thuyết
chính trị" dù rằng chủ thuyết này là chủ thuyết
khai sanh ra nền Cộng Ḥa đầu tiên tại Việt Nam.
Đây là "một vấn đề lịch sử c̣n tồn đọng" trong
thế kỷ qua. Bài của ông t́m hiểu vấn đề này, đặc
biệt là t́m giải đáp cho những "nghi vấn lịch
sử" sau đây :
1. Chủ nghĩa Nhân Vị là ǵ ?
2. Quan niệm Nhân Vị về các lư tưởng của cuộc
cách mạng quốc gia ra sao và thể hiện qua các
đường lối chính sách như thế nào ?
3. Về nguồn gốc triết học Nhân Vị là một thuyết
ngoại lai hay mang bản chất chính trị văn hoá
của Việt Nam?
Ông Tấn nói : những câu trả lời cho các nghi vấn
trên đây "sẽ đặt nền móng cho công việc thẩm
định phẩm chất lănh đạo và những đóng góp lịch
sử của tổng thống Ngô Đ́nh Diệm trong 9 năm cầm
quyền...". Bài khảo luận của tiến sĩ Tấn "Chủ
nghĩa Nhân Vị, con đường mới, con đường của tiến
bộ" chứa rất nhiều dữ kiện, suy diễn, và phân
tích rất tỉ mỉ, buộc độc giả phải đọc kỹ và
nghiền ngẫm, không thể kể chi tiết ở đây. Bài
này chỉ đề cập đến một số khía cạnh cần được độc
giả đặc biệt chú tâm.
Về Nhân Vị là ǵ, tiến sĩ Tấn đă dựa trên những
lời của chính ông Diệm để giải thích : Về Nhân
Vị là ǵ, TS Tấn đă dựa trên những lời của chính
Ông Diệm để giải thích: Nhân và Vị là hai học
thuyết Nho giáo. Nhân 仁 do chữ Nhân 人 và chữ Nhị
二 hợp thành (仁) có nghĩa là ḷng thương người,
đạo lư làm người; Vị 位 do chữ Nhân 人 và chữ Lập
立 hợp thành (位) có nghĩa là người có cái vị trí
của họ, đứng giữa và ngang hàng với Trời và Đất.
Hai chữ này hợp lại để diễn tả ư tưởng: vị trí
và phẩm giá con người trong cộng đồng nhân loại
và trong vũ trụ. Ông viết :
"Tóm lại, chủ thuyết Nhân Vị là một triết lư
nhằm đề cao giá trị của con người trong tương
quan với vũ trụ, Trời và Đất, với người khác
trong xă hội. Lư thuyết Nhân Vị chủ trương rằng
: v́ con người có một giá trị tối thượng nên mọi
sinh hoạt trên đời này đều phải hướng về việc
phục vụ con người. Chủ nghĩa Nhân Vị lấy CON
NGƯỜI biết tu thân (vừa tĩnh vừa động) làm nền
tảng để giải quyết các mâu thuẫn trong sinh hoạt
của con người".
Về nguồn gốc, tiến sĩ Tấn nhận xét rằng trong
suốt 40 năm qua không mấy ai chú ư t́m hiểu "Lư
thuyết Nhân Vị" v́ cho rằng lư thuyết đó là
ngoại lai, cho rằng "Nhân Vị của các ông Diệm,
ông Nhu là của Mounier, là của Công Giáo". Những
lời phê b́nh này hoặc:
a/ mang một chủ đích chính trị nào đó, hoặc b/
thiếu hiểu biết về chủ nghĩa Nhân Vị.
Trong số những người loại (a) có những người như
Nguyễn Thái. Trong tác phẩm Is South Vietnam
Viable ?, ông nói rằng ông Nhu đă say mê thuyết
dân chủ xă hội dựa trên ḷng bác ái và giá trị
nhân bản mang danh "Personnalisme" của Emmanuel
Mounier, và "mối liên hệ của nó với xă hội mà
ông Nhu cổ vơ chẳng có ǵ là mới mẻ", và cái
thuyết Nhân Vị "Personnalisme" cũng chẳng có ǵ
xa lạ v́ trong một trường phái triết học Pháp
trong đó có Emmanuel Mounier và Jacques Maritain
để hết ḿnh cổ vơ cho nó... Trong số những người
loại (b) th́ có thể kể ông Nguyễn Gia Kiểng. Gần
đây, trong một bài phê phán ông Ngô Đ́nh Diệm,
ông viết :
ông cố vấn Ngô Đ́nh Nhu
"Nếu dựa trên những ǵ ông Nhu đă viết [sic!] về
chủ nghĩa nhân vị th́ có thể nói là chính ông
cũng chỉ hiếu lơ mơ [sic!] Có lẽ [sic!] ông đă
du nhập chủ nghĩa nhân vị vào Việt Nam v́ lư do
là lúc đó nó được coi là giải pháp Thiên chúa
giáo cho ḥa b́nh Công giáo của thế giới. Nó có
tham vọng là một vũ khí tư tưởng chống lại chủ
nghĩa cộng sản. Trên thực tế, nó là một bước lùi
lớn, gần như một sự đầu hàng, bởi v́ nó phủ nhận
cá nhân [sic!], cốt lơi của dân chủ" (5).
Tiến sĩ Tấn đă bác bỏ dễ dàng những nhận định
sai lầm nặng nề và những phê phán hời hợt trên
đây. Ông đă trích dẫn những tuyên bố, phát biểu
của các ông Diệm-Nhu, và những khảo luận của
những nhà học giả Việt Nam có úy tín để chứng
minh rằng "Nhân Vị là một lư thuyết chính trị
mang một bản sắc dân tộc rơ rệt", và "với biện
chứng mạch lạc rơ rệt của triết gia Kim Định,
giáo sư Nghiêm Xuân Hồng, và học giả Đinh Văn
Khang, Chủ Nghĩa Nhân Vị (Tâm linh, Đông phương)
của ông Ngô Đ́nh Diệm và ông Ngô Đ́nh Nhu bắt
nguồn từ nền tảng văn hóa của Việt Nam, không
thể nào lầm lẫn với Personalisme của Mounier
(Duy tâm Tây phương) được". Ông nói : "Mọi việc
đă được sáng tỏ và cuộc điều tra lịch sử này
chấm dứt với kết luận : Chủ Thuyết Nhân Vị của
hai ông Diệm-Nhu mang một bản chất văn hóa và
chính trị hoàn toàn Việt Nam" (in đậm của chính
TS Tấn).
Tiến sĩ Tấn đă minh chứng thêm xác quyết của ông
với những trích dẫn trực tiếp từ một số tuyên bố
của ông Diệm và ông Nhu.
Ông Ngô Đ́nh Diệm : "Nhắm mắt bắt chước nước
ngoài khác ǵ nhận trước sự bảo hộ của ngoại
bang” (nói với kư giả Marguerite Higgins).
Ông Ngô Đ́nh Nhu :
- "Chủ thuyết [Nhân Vị] đặt nền tảng trên quan
niệm tôn trọng phẩm giá con người và đẩy mạnh sự
phát triển đến mức độ cao nhứt. Quan niệm này...
ở ngay trong truyền thống dân gian Việt Nam"
(Đại hội văn hóa quốc gia, 11-1-1957).
- "Tôi phải nói ngay rằng : chủ thuyết Nhân Vị
của tôi chẳng có dính dáng ǵ đến cái Nhân Vị
Công Giáo đang được giảng dạy bởi các tổ chức
Công Giáo tại miền Nam Việt Nam... Hiện nay cái
học thuyết nhân vị mà tôi cổ vơ là một nền dân
chủ đấu tranh trong đó tự do không phải là một
món quà của ông già Noel, nhưng mà là kết quả
của một cuộc chinh phục bền bỉ và sáng suốt
trong đời sống thực tế, không phải trong một
khung cảnh lư tưởng, mà trong những điều kiện
địa lư chính trị đă được định sẵn" (Phỏng vấn
với báo Toronto Globe and Mail, trong Nguyệt san
Gió Nam, 5-5-1963).
Tiến sĩ Tấn kết luận : "Giải pháp Nhân Vị mà ông
Diệm và ông Nhu đă cổ vơ 40 năm về trước là mô
h́nh “xă hội dân chủ nhân vị” đă được thí nghiệm
ở miền Nam từ 1954 đến 1963 : kinh tế thị trường
với sự mềm dẻo của một chính phủ phúc lợi, thực
hiện công bằng xă hội và dân chủ thực sự ở hạ
tầng cơ sở với định hướng dân chủ trên thượng
tầng cấu trúc... Chủ nghĩa Nhân Vị chỉ được thử
nghiệm trong một thời gian ngắn ở Miền Nam Việt
Nam, nhưng trong lănh vực lư thuyết hàn lâm, Chủ
Nghĩa Nhân Vị có một giá trị đóng góp lâu dài và
quan trọng vào công cuộc phát triển con người
nói chung và đặc biệt tại các quốc gia nghèo đói
hiện nay".
Và "ông Diệm đă hạ quyết tâm, "chọn con đường hy
sinh để bênh vực phẩm giá con người:. ..người ta
có thể hủy diệt ông Diệm, nhưng không thể cướp
đi những giá trị thuộc về ông ấy. Do đó trên căn
bản đạo đức nghề nghiệp, các sử gia có bổn phận
đem trả lại cho ông Diệm những ǵ thuộc về ông
ấy và nền Đệ Nhất Cộng Ḥa. Hăy trả lại cho lịch
sử những ǵ thuộc về lịch sử".
Tôn Thất Thiện
(Ottawa)
Chú thích :
(1) Nguyễn Hữu Duệ, 4366 Menlo Avenue # 23, San
Diego, C.A. 92115, U.S.A. ĐT: 619-284.5484. Giá
bán : 15 USD.
(2) Nhà xuất bản Hoàng Nguyên, P.O.Box 2637,
Garden Grove, C.A.92642-2637, U.S.A. Giá bán :
20 USD.
(3) Nếu muốn mua sách ở Úc, xin liên lạc trực
tiếp với nhà xuất bản : Center For Vietnamese
Studies Publications, Reservoir, Victoria, 3073,
Australia. Ở Mỹ, xin liên lạc với ông Lê Tinh
Thông, 2362 Ashbury Circle, Westminster, C.A.,
92683, USA. ĐT: 714-891.6216. Giá bán : 10 USD.
Ở Châu Âu : xin liên lạc với nhà sách Nam Á :
Centre Commercial Les Olympiades, 44 avenue
d'Ivry, 75013 Paris, France.
(4) Nguyễn Gia Kiểng, "Ông Ngô Đ́nh Diệm lên cầm
quyền như thế nào ?", Thông Luận, tháng 4, năm
2005.
(5) "Nh́n lại kinh nghiệm Ngô Đ́nh Diệm", Thông
Luận, tháng 11, 2005.
Nguồn: www.thongluan.org