Quan hệ Ngô gia và Hồ gia
Tuệ Chương Hoàng Long Hải
Xin nói ngay, Ngô gia là ḍng Ngô Đ́nh, kể từ đời cha là ông Ngô Đ́nh
Khả kế đến các con ông. Hồ gia th́ hơi rắc rối, kể từ đời ông Hồ Sĩ Tạo
đến đời ông Nguyễn Sinh Huy, con ông Huy là Nguyễn Sinh Côn, tức Nguyễn
Tất Thành, tức Hồ Chí Minh, cho tới hiện nay là Vương Chí Nghĩa
(con độc
nhứt).
Trong số 7 người con của Vương Chí Nghĩa có Vương Chí Việt hiện
tu ở chùa Phật Quang vùng núi Dinh, Vũng Tầu, pháp danh là Thích Chân
Quang.
Họ Hồ sĩ nầy thiệt là lộn xộn, từ Hồ Sĩ Tạo đổi qua Nguyễn Sinh (Huy)
rồi chia thành hai nhánh: Nhánh Vương Chí (Nghĩa) và nhánh Hồ Chí Minh,
lại từ Hồ Chí mà sinh ra Nông Đức (Mạnh), con là Nông Quốc Tuấn, lại có
Trần Phương, cũng là con Nông Đức Mạnh
(1). Không rơ cái họ Hồ Sĩ nầy
mai đây “biến thiên” ra cái họ ǵ nữa…
Hồ Sĩ Tạo là ai?
Hậu bán thế kỷ 19 có hai ông Hồ Sĩ Tạo, một ông quê ở B́nh Định, một ông
quê ở Nghệ An. Người đời gọi cả hai ông là “danh sĩ”
(thứ thiệt). Hồ
danh sĩ quê B́nh Định không thấy người ta nói ǵ thêm, c̣n Hồ danh sĩ
Nghê An th́ thật quả lắm tṛ ma quái. Nói cho thật là ma quái.
Chuyện ma quái!
Ông Hồ Sĩ Tạo quê ở Nghệ An (2) đổ đầu thi hương, trường Nghệ. Đổ đầu
th́ gọi là đổ “giải nguyên”. Ông Tạo làm quan một thời gian ngắn th́ cáo
quan. Sau khi thực dân Pháp chiếm kinh đô, vua Hàm Nghi chạy ra Tân Sở
(Quảng
Trị) rồi Quảng B́nh, xuống chiếu Cần Vương th́ t́nh h́nh nước ta xáo
trộn lắm. Người Pháp lần hồi chiếm đóng cả nước, giới sĩ phu nhiều người
không chịu hợp tác với Pháp, không làm tay sai cho Tây, xin cáo quan. Dĩ
nhiên, trong số sĩ phu đó, có cả hai ông danh sĩ họ Hồ.
Trớ trêu là ông Tạo quê Nghệ An, tuy cáo quan nhưng lại là một người ăn
chơi lịch lăm, ưa hát xướng. Xứ Nghệ có tṛ hát ví, ca trù rất nổi tiếng,
là món giải trí của ông Hồ Sĩ Tạo. Ông làm gia sư cho nhà ông Hà Văn Cẩn,
là cha cô Hà thị Hy, và cũng v́ môn giải trí đó mà ông có tư t́nh với cô
Hy. Cô Hy đẹp, hát hay và múa đèn cũng rất giỏi, nên cô có tên tục là cô
Đèn. Thế rồi cô Đèn có bầu. Cô Đèn lúc ấy đă 29 tuổi mà chưa có chồng.
Ông Hồ Sĩ Tạo lúc ấy đă 23 hay 24 tuổi ǵ đó, đă có vợ, có con. Cô Đèn
không thể làm bé ông Tạo được, không thấy nói lư do v́ sao? V́ ông Tạo
sợ vợ ghen? V́ gia thế ông Tạo không đủ sức cho ông nuôi thêm một bà vợ
bé? V́ cô Đèn thuộc hàng “xướng ca vô loại”?
(cũng có thể v́ vậy mà lúc
cô cặp với ông Tạo cô cũng chưa có chồng) hay v́ cô lớn tuổi hơn ông Tạo,
v.v… và v.v… không biết được!
Nhưng tục lệ làng xă Việt Nam ngày xưa không khoan dung cho việc không
chồng mà chửa, thường gọi là “chửa hoang”
(không rơ cha thai nhi là ai?),
nói lái “chửa hoang” là “hoảng chưa?”
Ông Hồ Sĩ Tạo và cô Đèn không hoảng chưa mà hoảng thiệt, bèn t́m cho đứa
bé trong bụng một người cha.
Bấy giờ có ông già Nguyễn Sinh Nhậm, đă 70 tuổi, góa vợ, có một người
con trai lớn, con của người vợ cũ, tên là Nguyễn Sinh Thuyết, đă có gia
đ́nh, ở riêng.
Thế rồi có người đánh tiếng với ông Nhậm, ông “ừ” ngay. Ông già rồi,
“nhân sinh thất thập cô lai hy”. Đỗ Phủ đă nói thế. Nay ông đang sống
côn đơn. Nếu có người gần gủi, chăm sóc hôm sớm cũng đỡ cho ông lắm! Thế
rồi họ làm một cái đám cưới nhỏ để che mắt dân làng, và cô Đèn mang cái
bụng bầu, con của ông Hồ Sĩ Tạo mà về làm vợ ông già gần đất xa trời
Nguyễn Sinh Nhậm. Ít lâu, cô Đèn sinh đứa bé trai, ông Nhậm đặt tên con
là Nguyễn Sinh Sắc, là con trai của ông ta, như câu tục ngữ “Cá ai vô oi
ḿnh là cá của ḿnh.” Con cá của ông Hồ Sĩ Tạo, vô tay ông Nhậm là cá
của ông Nhậm.
Chưa được bao lâu th́ ông Nhậm qua đời. Khi cậu Nguyễn Sinh Sắc được 3
tuổi, cô Đèn cũng qua đời nốt. Mồ côi cả cha lẫn mẹ, Nguyễn Sinh Sắc về
ở với anh là ông Nguyễn Sinh Thuyết.
Khổ một nỗi là cái đám cưới nhỏ do ông Tạo, cô Đèn và ông già Nhậm bày
ra để che mắt dân làng lại không che được ai! Cả làng có ai không biết
là khi cô Đèn về với ông Nhậm, trong bụng đă mang sẵn cái bào thai con
của ông Hồ Sĩ Tạo. Ông Thuyết cũng biết rất rơ giữa ông ta và đứa em
cùng họ khác mẹ là không có bà con máu mũ ǵ hết. Nhất là vợ ông Thuyết,
dĩ nhiên không vui ǵ khi chăm sóc và nuôi nấng một đứa gọi là em chồng
lộn ṣng như thế.
May mắn cho đứa bé, là khi nó càng ngày càng lớn lên, học giỏi. Nó cũng
được cha ruột của nó là ông Hồ Sĩ Tạo chăm nom, giúp đỡ.
Ông Hồ Sĩ Tạo lo cho đứa con hoang của ông là có lư do: Các con của ông
Hồ Sĩ Tạo hoang đàng, rượu chè, cờ bạc, chẳng ra cái ǵ cả, mặc dầu ông
Hồ Sĩ Tạo tự hào về ḍng dơi của ông: Hậu duệ ông Hồ Quí Ly. Khi Trương
Phụ bên Tầu đem quân đánh dẹp nhà Hồ, ḍng dơi họ Hồ có người chạy trốn
vào Nghệ An, gốc gác của họ. Những người đó là tổ tiên ông Hồ Sĩ Tạo.
Nếu cứ xét ngược lên như vậy th́ ông Hồ Chí Minh cũng thuộc ḍng dơi Hồ
Quí Ly, mà tổ tiên ông Hồ Quí Ly th́ gốc ở nước Ngu bên Tầu. Cũng bởi
cái lư do đó mà khi lên làm vua, ông Hồ Quí Ly đặt tên nước là “Đại Ngu”
(nước Ngu vĩ đại, không phải là “ngu lắm”).
Người Tầu di dân có một cá tính đặc biệt. Định cư ở đâu, họ cho họ là
người ở đó, không muốn liên hệ ǵ tới Trung Hoa. Người Tầu Singapore, họ
cho họ là người Singapore, thậm chí c̣n sợ liên hệ với nước Tầu lục địa.
Người Tầu định cư ở Đài Loan tự cho họ là người Đài Loan, sợ “thống nhất”
với Trung Hoa lục địa. Ḍng dơi nhà Trần, nhà Hồ, và cả mấy ông Minh
Hương sau nầy như Mạc Cửu, Phạm Phú Thứ, Trần Tiễn Thành, Phan Thanh
Giản, Lư Văn Phức đều tự cho ḿnh là người Việt Nam. Mặc Cửu, sau khi
b́nh định và mở mang vùng Hà Tiên, bèn đem đất đó mà dâng cho chúa
Nguyễn mà không dâng cho Bắc Kinh, nên ông được chúa Nguyễn phong làm
Khai quốc Công thần.
Tuy nhiên, những người Tầu Cộng Sản ở khắp thế giới th́ lại khác. Hồi
c̣n đi học ở Huế, năm1957, tôi từng ở chung nhà với một người Tầu, tên
là Trần Cẩm Th., quê và sinh đẻ ở Hội An. Đêm đêm tôi thấy ông ngồi quay
mặt vào tường mà không biết ông ta làm cái ǵ vậy. Sau nầy mới biết ông
ta làm cái công việc Bắc Kinh dạy ông là “diện hướng tổ quốc”, tức là
dạy không được quên tỏ quốc của ḿnh. Đă là Cộng Sản th́ ở đâu trên thế
giới, không bao giờ được quên quê hương Tầu
(Bắc Kinh) của ḿnh.
Nếu như đúng họ Hồ ở Quỳnh Đôi, Nghệ An thuộc hậu duệ Hồ Quí Ly, th́ ông
Hồ Chí Minh là người gốc Tầu, Nông Đức Mạnh là người gốc Tầu, mà lại
sinh sống khá lâu ở bên Tầu như ông Hồ Chí Minh, không biết hai cha con
ông Hồ nầy có “diện hướng tổ quốc” như người Tầu từng ở chung một nhà
với tôi như tôi đă nói trên kia hay không. Cái khác lạ của người Cộng
Sản Tầu ở hải ngoại, tức là người Hoa kiều, tôi muốn nói ở trên chính là
cái đó. Nó có nguy hiểm cho tương lai nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam
hay không? Chắc là có chứ?
1)- Trại Ḅ … Quan hệ lần thứ nhứt
Ông Trần Đông Phong, tác giả “Việt Nam Cộng Ḥa, Mười Ngày Cuối Cùng”,
khi trả lời ông Tường Thắng, trên VNExodus, về Phạm Xuân Ẩn, tiết lộ
rằng, nội tổ ông Phạm Xuân Ẩn làm nghề thợ bạc ở Hải Dương, được triều
đ́nh nhà Nguyễn gọi về Huế để phục vụ cho hoàng gia và vua quan.
Kinh đô là nơi sinh hoạt của vua, hoàng gia và quan lại, thường có những
nhu cầu đặc biệt, do đó, các thợ giỏi các nơi thường được triệu về kinh
như trường hợp nội tổ ông Phạm Xuân Ẩn vậy.
Cụ Vũ Văn Giáp, quê ở làng Phong Lâm, Hải Dương, làm nghề đóng giày,
cũng được gọi về kinh để đóng giày ống, giày hạ và hia… Làng Phong Lâm
có nghề thuộc da là nghề gia truyền của dân làng. Giày ống là loại giày
như chúng ta thấy táo quân mang khi ông ta lên tấu tŕnh trên thiên đ́nh,
c̣n giày hạ, thật ra chỉ là một loại giép da, mũi che kín nhưng gót th́
bỏ trống.
Để có phương tiện làm giày, hia… cụ Vũ Văn Giáp được vua Tự Đức ban cho
một khu đất rộng ở làng Vạn Xuân, để nuôi trâu ḅ lấy da. Người Huế
thường gọi nơi nầy là Trại Ḅ, - cũng có khi gọi là Trại Trâu – Trên
Quốc Lộ 1, từ Huế ra Quảng Trị, sau khi qua khỏi cống Thủy Quan – có con
sông nhỏ đưa nước vào thành nội -, gần tới cầu An Ḥa, rẽ qua trái là
tới Trại Ḅ.
Cụ Vũ Văn Giáp là người quảng giao, trọng văn học, thường hay giúp đỡ
những ai đến kinh đô nhưng gặp khó khăn. Trại Ḅ của cụ đông người lui
tới. May mắn nhờ sẵn đất ruộng trồng cỏ là chính nhưng cũng trồng thêm
lúa rau, có thịt trâu ḅ do mổ để lấy da nên cụ dễ giúp người khác. Trại
ḅ cũng là nơi cụ sinh sống hằng ngày, đón tiếp các bậc sĩ phu, sĩ tử
vào kinh đô để triều yết hay thi Hương, thi Hội, thi Đ́nh.
Do công việc của ḿnh, cụ Vũ Văn Giáp quen biết hầu hết tầng lớp quan
lại, từ vua cho đến hoàng thân quốc thích, cũng như các quan lớn, nhỏ
trong triều
T́nh h́nh hồi ấy, khi tới Huế, t́m được một nơi cư trú không dễ dàng ǵ.
Phần đông tầng lớp sĩ tử, nếu không thuộc gia đ́nh giàu có, không có
thân thuộc để nhờ cậy, thường t́m đến Trại Ḅ của cụ Vũ Văn Giáp để xin
giúp đỡ, tạm trú.
Cụ Phan Bội Châu, sau khi đổ thủ khoa ở Trường Nghệ, vào Huế t́m đồng
chí để hoạt động chống Pháp, đă từng lui tới và ở lại nhà cụ Vũ Văn Giáp
nhiều lần. Do đó, cụ Phan Bội Châu và cụ Vơ Bá Hạp, con trai của cụ Vũ
Văn Giáp, trở thành đồng chí thân cận.
Vậy mà có một điều, ít ai nói tới là khi cụ Nguyễn Sinh Sắc, từ Nghệ An,
đậu cử nhân năm 1894 thi Hương ở trường Nghệ, sau vào kinh thi Hội th́
cũng xin (1) “tạm trú” tại Trại Ḅ của cụ Vũ Văn Giáp.
Vậy rồi cụ Nguyễn Sinh Sắc thi hỏng chứ không đậu liền như những “sử da”
Việt Cộng tán dốc.
Với cụ Vũ Văn Giáp, việc thi hỏng nầy thật là đáng thương, và đáng tội
nghiệp cho cụ Nguyễn Sinh Sắc, nhà nghèo, mồ côi cha mẹ từ nhỏ, nhưng
chăm học.
Do đó, qua cụ Vũ Văn Giáp với ḷng hào hiệp, vă lại cũng ái mộ ông Hồ Sĩ
Tạo là một danh sĩ nổi tiếng nên cụ xin với quan thượng thư bộ Lễ
Ngô
Đ́nh Khả, và chánh chủ khảo Cao Xuân Dục xét lại cho ông Nguyễn Sinh Sắc.
Cụ Ngô Đ́nh Khả, nguyên là trưởng pḥng thông sự cho ṭa khâm sứ Pháp ở
Huế, được Pháp đưa qua làm việc ở Nam Triều
(Triều đ́nh An-nam). Năm
1896 ông được phong Thái thường Tự khanh, chức Thương biện thuộc Cơ Mật
Viện. Năm 1898 vua Thành Thái phong ông làm Thượng thư Phụ đạo Đại thần
rồi đến năm 1902 th́ thăng hàm Hiệp tá Đại học sĩ, coi như “quan đầu
triều”, thế lực lớn lắm.
Sau khi xét lại, không rơ cụ Ngô Đ́nh Khả, cụ Cao Xuân Dục có bàn bạc
với ai không mà cụ Nguyễn Sinh Sắc được đậu vớt. Tuy nhiên, có điều hơi
rắc rối là có hai người cao điểm hơn cụ Sắc cũng rớt. Nếu vớt cụ Sắc th́
phải vớt thêm hai người trước cụ. Một trong hai người trước cụ Sắc chính
là cụ Phan Chu Trinh. Thành ra, thay v́ hỏng, nhờ vớt cụ Sắc nên cụ
Trinh cũng được vớt luôn trong kỳ thi Hội nầy.
Đề rơ hơn, xin độc giả xem đoạn trích dẫn sau đây:
“Quốc triều khoa bảng lục là sách do Cao Xuân Dục, một quan đại thần của
triều đ́nh nhà Nguyễn, ghi lại tên họ, quê quán của tất cả những thí
sinh thi đỗ các khoa thi Đ́nh dưới thời nhà Nguyễn từ khoa Nhâm Ngọ (Minh
Mạng thứ ba - 1822) đến khoa sau cùng năm Kỷ Mùi (Khải Định thứ bốn -
1919).”
Sau đây tôi trich dẫn một số các tân đăng khoa:
Chú thích:
I - Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ
(thời nhà Nguyễn không lấy đỗ
Trạng nguyên, cao nhất là Bảng nhăn, sau là Thám hoa)
II - Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân
III- Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân
PB - Phó bảng
Đời Thành Thái
khoa Tân Sửu 1901
Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân:
1)- Nguyễn Đ́nh Tuân
2)- Ngô Đức Kế
3)- Nguyễn Viết Thông
4)- Nguyễn Đ́nh Điển
5)- Trần Văn Thống
6)- Lê Ngăi
7)- Nguyễn Duy Tích
8)- Nguyễn Văn Tính
9)- Nguyễn Văn Bân
Phó Bảng:
1)- Nghiêm Châu Tuệ
2)- Vũ Tuân
3)- Nguyễn Đ́nh Hiến
4)- Lê Đ́nh Xản
5)- Hoàng Đại Bỉnh
6)- Đỗ Dương Thanh
7)- Vũ Vĩ
8)- Nguyễn Mậu Hoán
9)- Phạm Ngọc Thụy
10)- Nguyễn Xuân Thưởng
11)- Nguyễn Sinh Sắc
12)- Nguyễn Duy Thiện
13)- Phan Chu Trinh
Đời Thành Thái,
khoa Giáp Th́n 1904
II - Đệ nhị giáp tiến sĩ:
1)- Đặng Văn Thụy
III - Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân:
2)- Trần Quí Cáp
3)- Hoàng Kiêm
4)- Huỳnh Thúc Kháng
5)- Hồ Sĩ Tạo (quê B́nh Định –tg)
6)- Nguyễn Mai
Phó Bảng:
1)- Tạ Thúc Đĩnh
2)- Hoàng Văn Cư
3)- Nguyễn Đ́nh Tiến
4)- Nguyễn Tư Tái
5)- Thân Trọng Ngật
Ơn nghĩa thứ nhứt cụ Ngô Đ́nh Khả ban cho cụ Nguyễn Sinh Sắc là vớt cho
đậu phó bảng.
Sau đó, cụ Nguyễn Sinh Sắc, sau khi thi đậu th́ về quê để “phụng dưỡng
mẹ cho tṛn chữ hiếu.” Thật ra, các “sử da” Việt Cộng viết như vậy là
viết ẩu v́ khi bà Hà Thị Hy, tên tục là cô Đèn, lén lút ăn nằm với ông
Hồ Sĩ Tạo có bầu, nhưng ông Tạo không cưới cô Đèn được bèn đem gả cho
ông già Nguyễn Sinh Nhậm, góa vợ, đă 70 tuổi, lớn hơn cô Đèn 40 tuổi.
Ông Nguyễn Sinh Sắc được 3 tuổi th́ ông Nhậm qua đời, một năm sau, ông
Sắc mồ côi cả cha lẫn mẹ.
Tuy vậy, các “sử da” Việt Cộng nói rằng, sau khi thi đổ phó bảng năm
1901, cụ Sắc không chịu ra làm quan, về quê để phụng dưỡng mẹ. Mẹ cụ c̣n
đâu mà phụng dưỡng?!!!
Nói cho đúng, vào thời kỳ Tây mới đô hộ nước ta, nhiều người không chịu
làm quan với Pháp, không chịu “theo Tây” nên cáo quan về hưu. Một số
người khác, tuy thi đổ nhưng cũng không chịu “theo Tây” không chịu ra
làm quan. Đó là trường hợp các cụ Ngô Đức Kế, đệ tam giáp đồng tiến sĩ
khoa Tân Sửu (1901), cụ Phan Chu Trinh, phó bảng. Khoa nầy ông Nguyễn
Sinh Sắc cũng như cụ Phan Chu Trinh đậu vớt phó bảng, cụ Huỳnh Thúc
Kháng, đẹ tam giáp đồng tiến sĩ khoa Giáp th́n 1904.
Măi bốn năm sau, có thể v́ hoàn cảnh gia đ́nh khó khăn, cụ Nguyễn Sinh
Sắc (bấy giờ đổi tên là Huy) xin triều đ́nh bổ làm quan. Ông được bổ làm
thừa biện bộ Lễ. Hai năm đi tri huyện B́nh Khê, tỉnh B́nh Định. Sau khi
làm thừa biện, ông được cấp nhà. Đó là ngôi nhà sát cạnh ty Thủy Lâm Huế,
ngay ngă tư Anh Danh (ngă tư Mai Thúc
Loan [ngang cửa Đông Ba] và Đinh
Bộ Lĩnh [ngang cửa Thượng tứ]). Theo vài người bạn hiện ở Huế, ngôi nhà
nầy vẫn c̣n.
Khổ nỗi, cụ Nguyễn Sinh Sắc là một tay nát rượu, làm tri huyện chưa bao
lâu th́ chịu trách nhiệm về vụ đánh chết dân, trong khi say rượu. Nội vụ
lại được bộ Lễ xét xử.
Ngày xưa tội đánh chết người là nặng lắm, theo luật th́ “đánh người
thành thương, thương nhân trí mạng” phải đền mạng. Cụ Nguyễn Sinh Huy bị
bộ Lễ điều tra, vua Thành Thái ra lệnh “trăm giam hậu”. Lại nhờ cụ Ngô
Đ́nh Khả giúp đỡ lần nữa nên chỉ bị cách chức và phạt 100 trượng, thay
v́ 100 roi. Phạt đánh bằng trượng thay v́ roi là có hậu ư. Trượng là
đánh bằng gậy, bằng côn. Người thi hành án đă được dặn trước, đánh sao
cho đầu cây côn gơ xuống ván đánh cộp một tiếng, tưởng như là mạnh lắm,
nhưng cây côn chẳng đụng vào đít người bị phạt. Nếu không dùng cách ấy
mà đánh thẳng tay th́ cụ Nguyễn Sinh Sắc đă tan xương nát thịt ra rồi.
Sau khi bị cách chức, cụ Nguyễn Sinh Sắc lưu lạc vào nam, có người con
gái là bà Nguyễn Thị Thanh
(hiệu Bạch Liên) đi theo chăm sóc cho cha một
thời gian th́ về quê. “Ngoài ra, theo ông Huỳnh Hữu Hiến kể cho anh em
chúng tôi nghe th́ sau khi tha, ông Nguyễn Sinh Huy gởi lại các con cho
cụ Vũ Văn Giáp chăm sóc giùm. Các người con nầy, “tạm trú” ở Trại Ḅ
những mấy năm, đến khi không c̣n hy vọng ông Nguyễn Sinh Huy quay trở
lại đón họ nữa, th́ họ bèn xin phép cụ Vũ Văn Giáp rời Trại Ḅ để về quê
ở làng Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An.”
(Trích từ “Chuyện bên lề lịch sử”,
cùng tác giả.)
Cần nói thêm cho rơ sự việc nầy: Khi vào kinh đô thi Hội, ông Nguyễn
Sinh Sắc đă 30 tuổi, có vợ và 3 con là bà Nguyễn Thị Thanh
(hiệu Bạch
Liên), Nguyễn Sinh Khiêm tức cả Khiêm
(nói trại là cả Khơm.
Ông c̣n có
tên là Đạt) và cậu út là Nguyễn Sinh Côn, có khi gọi là Nguyễn Sinh Công,
Nguyễn Sinh Cung hay Nguyễn Sinh Cuông
(theo thông tục, nói trại v́ kỵ
tên). Vợ ông Nguyễn Sinh Sắc là bà Hoàng Thị Loan, người làng Hoàng Trừu,
thường gọi là làng Trừu, con cụ Hoàng Xuân Đường là thầy dạy ông Nguyễn
Sinh Sắc mà cũng là cha nuôi ông Sắc khi ông c̣n đi học.
Ông Nguyễn Sinh Sắc, như trên đă nói mang ơn cụ Vũ Văn Giáp rất nặng. Có
khi ông cùng vợ con lưu trú ở Trại Ḅ. Chính v́ ơn nghĩa đó nên sau khi
vua Bảo Đại thoái vị, Việt Minh cướp chính quyền ở Huế năm 1945, bọn họ
bắt giam cụ Vơ Như Nguyện, là cháu nội cụ Vũ Văn Giáp và con cụ Vơ Bá
Hạp th́ ông Cả Khiêm đến Huế yêu cầu Trần Hữu Dực, vừa thay ông Trần
Công Khanh làm chủ tịch ủy ban hành chánh Trung Bộ, thả cụ Vơ Như Nguyện
ra. Sau đó, Việt Minh bắt giam cụ Vơ Như Nguyện một lần nữa, sau khi ông
Cả Khiêm đă về Nghệ An. Lần nầy, cụ Vơ Như Nguyện phải trốn tù mới khỏi
chết.
Nếu gia đ́nh ông Nguyễn Sinh Sắc không mang ơn cụ Vũ Văn Giáp làm sao có
việc can thiệp của ông cả Khiêm với cụ Vơ Như Nguyện?!
2)- Bỏ tù ông Ngô Đ́nh Diệm, quan hệ lần thứ hai:
Sau khi Việt Minh cướp chính quyền, ông Ngô Đ́nh Diệm bị Việt Minh bắt ở
Quảng Ngăi, giải về Hà Nội. Theo ông Vũ Thư Hiên th́ ông Diệm bị giam ở
Bắc Bộ phủ, ông Hồ Chí Minh giữ ch́a khóa pḥng giam v́ ông Hồ sợ các
đồng chí của ông “manh động” mà nguy hại tới tính mạng ông Diệm. Tới bữa,
ông Vũ Đ́nh Huỳnh, thư kư riêng của ông Hồ, lên pḥng ông Hồ lấy ch́a
khóa đem cơm vô cho ông Diệm. Sau đó ch́a khóa phải trả lại chỗ cũ. Ít
lâu sau, ông Hồ nói với ông Huỳnh và ông Lê Giản, giám đốc sở Liêm phóng,
phải thả ông Diệm ra v́ uy tín nhà họ Ngô lớn lắm, và ông chứng minh
bằng câu “Đày vua không Khả”. Mặc dù ông Huỳnh và ông Giản không nhứt
trí, nhưng ông Diệm vẫn được trả tự do.
Theo ông Hoa Nhật Khanh (Việt Cộng) th́ câu chuyện ông Ngô Đ́nh Diệm bị
bắt ở Hà Nội như sau:
“- Thưa anh, tôi được biết ông Ngô Đ́nh Diệm đă bị cách mạng địa phương
bắt, đưa ra Hà Nội và bị giam ở 44- Lê Thái Tổ, tức ṭa soạn báo Hà Nội
mới bây giờ. Thế rồi, như tôi nghe nói th́ ông ta trốn thoát, khiến tôi
nghi vấn. Làm sao có thể trốn thoát nổi, tôi ngờ rằng có thể ta ngầm thả?
“Nhật Hoa Khanh nói ngay:
“- Thả chính thức, cái này cụ Lê Giản - Giám đốc Sở Liêm phóng (đặt
trong Bộ Nội vụ, chứ không tách riêng như về sau)
hồi bấy giờ, đă có nói
rơ. Theo Lê Giản, Bác hỏi: Bác có nghe ông Diệm đă bị bắt, cho Bác đến
thăm. Ông ta dẫu ǵ cũng là người Việt Nam, thân phụ ông ấy là Ngô Đ́nh
Khả, làm đến thượng thư triều đ́nh Huế nhưng đă từ quan v́ thấy rơ nó
nát rữa. Thân phụ Bác cũng từ quan(???!!!), các cụ có biết nhau. Sau khi
đưa Bác đến 44 Lê Thái Tổ, ông Giản ở ngoài. Chỉ nghe Bác dặn lúc chào
tạm biệt: Ngô Đ́nh Diệm làm đến quan đầu triều, chỉ v́ đ̣i thống nhất
Nam kỳ vào Bắc và Trung kỳ, nhằm thu hẹp quyền của 3 thống sứ Pháp vào 1
thống sứ tại Huế; đ̣i không được nên đă từ quan. Người như thế không thể
đánh đồng với đám quan lại cũ thối nát. Vả lại, là quan lại cũ, nhưng đă
từ quan, nên coi là dân thường. Mà dân thường th́ mọi tầng lớp, mọi giới
đều nằm trong Việt Minh, không phải là đối tượng của cách mạng nữa.”
3)- Dời mộ ông Ngô Đ́nh Khôi, quan hệ thứ ba.
Ngô Đ́nh Khôi (1885-1945)
là con trai trưởng của ông Ngô Đ́nh Khả. Nhờ
là con quan phụ chính đại thần triều Thành Thái, ông Khôi được tập ấm
khi c̣n nhỏ. Đời Duy Tân, ông được bổ nhậm làm việc ở Bộ Binh, sau làm
rể thượng thư Nguyễn Hữu Bài, quê ở Quảng Trị. Năm 1930, ông được làm
tổng đốc Quảng Nam.
Sự quan hệ giữa cụ Phan Bội Châu, khi bị giam lỏng ở Bến Ngự với ông Ngô
Đ́nh Diệm, đưa tới việc ông Diệm là người được Kỳ Ngoại hầu Cường Để
đang lưu vong bên Nhựt, chọn ông Diệm làm đại đại diện cho Kỳ Ngoại Hầu
ở Huế. Từ điểm nầy, ông Ngô Đ́nh Huân, con trai ông Ngô Đ́nh Khôi có
quan hệ với quân đội Nhựt khi quân đội Nhựt tới đóng ở Đông Dương. Ông
Huân được chọn làm thư kư riêng và thông ngôn cho ông Yokoyama Masayuki,
viện trưởn viện Văn hóa Nhựt tại Saigon. Cũng chính v́ mối quan hệ nầy,
năm 1943, thực dân Pháp đuổi ông Ngô Đ́nh Khôi ra khỏi Nam triều, cho về
hưu.
Khi Việt Minh cướp chính quyền tháng Tám năm 1945, ông Phạm Khắc Hoè,
tổng lư văn pḥng “đức Kim Thượng”
(tức vua Bảo Đại), nghe lời Tôn Quang
Phiệt, đảng viên Cộng Sản, đang dạy học ở trường Khải Định, xúi vua Bảo
Đại thoái vị để khỏi gây khó khăn cho Việt Minh. Ông Ḥe đem chuyện vua
Louis 14 trong cách mạng 1789 ở Pháp ra dọa khiến ông Bảo Đại sợ hăi nên
thoái vị. Một trong số những người chống thoái vị là ông Ngô Đ́nh Khôi.
Ông Khôi có chuẩn bị sẵn môt lực lượng là những người theo ông Ngô Đ́nh
Diệm và có Ngô Đ́nh Huân có thể yêu cầu Nhựt can thiệp, nếu cần.
V́ lư do đó, cha con ông Ngô Đ́nh Khôi cùng bị bắt với Phạm Quỳnh. Việt
Minh giết cả ba người và chôn ở ga xe lửa Hiền Sĩ, trên sông Bồ, không
có mộ bia ǵ cả.
Sau khi lên ngôi cửu ngũ, để bày tỏ ḷng biết ơn tổ tiên, anh em nhà Ngô
cho chỉnh trang cái nghĩa trang gia đ́nh nằm kế bên con đường đi lên Ngă
ba Thánh giá, gần nhà ông bà Ấm, là nhà cha mẹ đức cha Nguyễn Văn Thuận,
tên là đường Nguyễn Trường Tộ. Khu mộ nầy được sửa sang lại đẹp lắm.
Bấy giờ th́ anh em họ Ngô muốn đưa hài cốt anh cả là ông Ngô Đ́nh Khôi
và cháu đích tôn là ông Ngô Đ́nh Huân về nghĩa trang nầy, cho sum họp
một nhà. Biết bị giết ở ga Hiền Sĩ, nhưng đó là vùng đồi núi, biết chôn
chỗ nào v́ Việt Minh muốn mất dấu tích, không có mộ bia ǵ cả.
Người Huế đồn rằng cụ Ngô có cho người liên lạc với chính quyền bên kia
vĩ tuyến 17 bởi v́ những người giết, người chôn đă tập kết ra ngoài đó.
Chính quyền Cộng Sản Hà Nội tất biết ít nhiều việc ấy. Bấy giờ là lúc
ban đầu, hiệp định Genève vừa mới thi hành, Hà Nội c̣n hy vọng chính
quyền miền Nam cho tổng tuyển cử hiệp thương thống nhứt, hay ǵ khác nữa…
Gạo đang được chở ra bán ngoài ấy, vụ gạo Ưng Bảo Toàn chưa “bật mí”.
Ngoài ấy liền trả lời, cho người hướng dẫn chỉ nơi chôn ba người vô một
hố: Ông Ngô Đ́nh Khôi, ông Ngô Đ́nh Huân, ông Phạm Quỳnh.
Nhờ việc t́m và bốc bộ cha con hai ông họ Ngô mà hài cốt ông Phạm Quỳnh
cũng được bốc về luôn. Đúng ra, nếu nhạc sĩ Phạm Tuyên là người có hiếu
th́ nên làm bài hát ca ngợi cụ Ngô giúp đỡ trong việc bốc mộ nầy chớ sao
lại làm bài hát ca ngợi “bác” Hồ, người chịu trách nhiệm trong việc giết
học giả Phạm Quỳnh là bố đẻ nhạc sĩ Phạm Tuyên?
Thế rồi đám ma to lắm, rước hài cốt cha con ông Ngô Đ́nh Khôi về an táng
tại nghĩa trang gia đ́nh họ Ngô ở Phú Cam.
Ông Ngô Đ́nh Khôi, tuy chết rồi, nhưng các em cũng làm cho ông vui vẻ
lắm, “ngậm cười nơi chín suối” như người ta thường nói. Nhưng “người”
ngoài Bắc th́ được đền đáp lại cái ǵ?
Ông Nguyễn Sinh Huy trước khi chết, có sinh được một người con trai với
một người vợ rất trẻ, trẻ hơn cả Hồ Chí Minh. Ở Huế ít ai biết chuyện
nầy, không rơ ông cụ Sắc có số đào hoa, có con nhỏ như thế. Tuy nhiên,
bỗng dưng có lệnh từ phủ tổng thống, biểu ông quận trưởng Cao Lănh, tỉnh
Sadec lo sửa sang phần mộ cụ Sắc, xây lăng, dựng bia đàng hoàng.
Có lệnh trung ương th́ ông quận trưởng thi hành, không dám thắc mắc,
không cần t́m hiểu rằng đây là hành động “ơn trả nghĩa đền” của anh em
họ Ngô đối với việc được chỉ ra nơi chôn dấu cha con ông Ngô Đ́nh Khôi.
4)- Cành đào, quan hệ thứ ba.
Người Huế không biết chuyện Tết Nguyên Đán năm 1956, ở miền Bắc ông Hồ
chí Minh có nhờ Ủy hội Quốc tế Kiểm soát Đ́nh chiến mang một cành đào
Nhật Tân khá lớn đem vào biếu ông Ngô đ́nh Diệm. Chuyên Hiệp thương
Thống nhứt Nam Bắc không thành nên người ta thấy quan hệ hai bên vĩ
tuyến ngày thêm khó khắn. Lâu lâu, có người vượt tuyến vào Nam như ông
Lă Huy Quư, có tới rạp hát nào đó nói chuyện với đồng bào, phê phán chế
độ ngoài ấy.
Sau tết Canh Tư năm 1960, có một tin đồn khác, là hôm tết vừa qua, “cụ”
Hồ, qua ngă Hồngkông gởi biếu “cụ” Ngô một cành đào. Lư do, năm nay là
năm tuổi “cụ” Ngô. “Cụ” sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901. Người ta suy nghĩ
theo cách thông thường, các ông già ngày tết, năm tuổi th́ mừng tuổi
nhau. Chỉ có ai sâu sắc, không mấy tin người Cọng Sản mới nghĩ tới cái
“âm mưu” đằng sau viẹc biếu cành đào đó của ông Hồ Chí Minh mà thôi.
4)- Họp bí mật năm 1963, quan hệ thứ tư:
Những người làm chính trị
(không phải làm cách mạng) thường lắm âm mưu.
Làm việc với nhau, đi với nhau, liên minh với nhau nhưng không mấy khi
tin tưởng nhau, e dè nhau và cũng có khi đâm lén nhau.
Ông Ngô Đ́nh Diệm, Ngô Đ́nh Nhu biết như thế. Hai ông
ấy có làm như thế
không?
Vậy nên khi liên minh với Mỹ, nhận viện trợ Mỹ, hai ông nầy có nghĩ tới
việc một ngày nào đó, phải bắt tay với Cộng Sản, đâm sau lưng Mỹ. Các
ông ấy có nắm sẵn những đầu mối giây để với tới Hà Nội?
Có đấy, và v́ thế nên họ “nuôi” Phạm Ngọc Thảo?
Ban đầu, ở Huế ít ai biết hay để ư đến chuyện ông Phạm Ngọc Thảo. Ông ở
tuốt trong Nam. Ông giám mục Ngô Đ́nh Thục cũng ở tuốt Vĩnh Long. Việc
“cha nuôi, con nuôi” của họ với nhau, có dính dáng ǵ tới người Huế đâu.
Măi đến khi ông Phạm Ngọc Thảo lên tiếng trên đài BBC, phê phán nhà Ngô,
người ta mới trách cứ ông giám mục Ngô Đ́nh Thục, “nuôi ong tay áo”,
nuôi thằng Cộng Sản để nó nói bậy làm loạn. Ấy là lúc người ta c̣n cảm
t́nh ít nhiều với nhà Ngô. Chỉ có vậy thôi. Ngoải việc ấy, khi chế độ
nhà Ngô c̣n, ông Phạm Ngọc Thảo chưa tham gia đảo chánh, sinh hoạt chính
trị, nên ngựi ta cũng không biết đến ông ta nhiều.
Hồi ấy người ta cũng không biết ǵ về Mă Tuyên, thủ lănh Thanh niên Cọng
ḥa Quận 5. Chuyện Thanh Niên Cộng Ḥa là việc gây phiền phức cho mọi
người. Nh́n quanh Huế, người ta đă thấy mệt, chướng tai gai mắt, nhất là
với “Thanh Nữ Cộng Ḥa” kiểu mặc “áo hở cổ như người Hời” của bà Nhu,
mấy ai biết ǵ tới mă Tuyên, tuốt trong Chợ Lớn. Măi đến khi bị đảo
chánh, anh em nhà Ngô trốn vào nhà Mă Tuyên th́ người ta cũng đặt nhiều
câu hỏi vè nhân vật nầy:
- Y là kinh tài của nhà Ngô, thu tiền “cống hỉ” của các tay “đại x́ thẩu”
ở Quận 5 để “Xuân Thu nhị kỳ” cho anh em nhà họ Ngô?
- Té ra y là đầu mối để bắt tay với Cộng Sản! Với Tầu lục địa hay với
Bắc Việt?
Nói cho ngay, khi “cậu Cẩn” làm “Cố vấn chỉ đạo miền Trung” th́ đám “Cần
lao Công giáo” có tụ tập quanh “cậu”, cậy thế, cậy quyền nhưng chưa lộng
hành như sau nầy.
Khi ông đức cha Ngô Đ́nh Thục về làm Tổng giám mục địa phận Huế, tuy giữ
chức đạo, nhưng ông làm hết việc đạo việc đời: Cho người nầy người kia
giữ chức vụ nầy chức vụ nọ trong chính quyền, lo cho việc mở rộng “nước
Chúa, dân Chúa”, cho nên đám khuyển mă cũng như mấy ông cha đạo lộng
hành khắp nơi. Khuyến dụ, yêu cầu, bắt buộc người nầy người kia “rửa tội”,
“theo đạo” như câu tục ngữ nói:
“Theo cha có nhà mà ở,
Theo đạo kiếm gạo mà ăn.”
Đó là “ngàn năm bia miệng” đấy!
Dân Huế bắt đầu chán ngán nhà Ngô. (2)
Tham lam quyền lực làm cho anh em nhà Ngô thiếu ḷng thủy chung. Khoảng
năm 1956 hay 57 ǵ đó, tôi nhớ không chắc, hồng y Spellman đến thăm Huế.
Bọn học tṛ Quốc Học và Đồng Khánh được lệnh ra đứng hai bên đường Lê
Lợi cầm cờ quốc gia và cờ Công giáo (dù có theo đạo hay không, không cần
biết), chờ khi xe hơi chở hồng y đi ngang qua th́ phất cờ hoan hô. Do sự
kiện nầy, người ta đồn đăi là chính nhờ thế lực ông hồng y nầy mà ông
Ngô Đ́nh Diệm được Mỹ chọn làm tổng thống. Thêm vào đó, năm 1957, khi
ông Diệm qua thăm Mỹ, được ông tổng thống Mỹ Eishewnower đón tiếp rất
trọng vọng, nên nhiều người thấy khó hiểu khi biết anh em nhà Ngô nuôi
dưỡng Cộng Sản để chờ khi bắt tay với ngoài kia. Làm như thế th́ không
những thiếu thủy chung, mà lỡ khi Mỹ cúp viện trợ th́ lấy chi chống Cộng.
Dù theo đạo nào, Phật giáo hay Thiên chúa, người ta đều sợ Cộng Sản Bắc
Việt cả.
Cũng v́ vậy, khi vụ đàn áp Phật giáo xảy ra kể từ biến cố đài Phát Thanh
Huế đêm 8 tháng 5 năm 1963, người ta truyền nhau câu đồng dao sau đây
với vẻ lo sợ:
Nguyễn đi th́ Nguyễn lại về,
Giặc đánh Bồ Đề th́ giặc tự tan.
Có người đủnh đỉnh bên giang
Bắt cầu đuôi chuột mà sang trị v́!
Những người biết ít nhiều về lịch sử th́ giải thích rằng bến Bồ Đề ở bên
bờ sông Hồng, nơi Trần Cao nổi loạn rồi bị bắt. Bồ Đề cũng là bản doanh
của Lê Lợi, nơi Nguyễn Trăi viết thưu cho Vương Thông gọi Vương ra hàng.
Tuy nhiên, nh́ều người nghĩ rằng đánh Bồ Đề là đàn áp Phật giáo. Giặc là
anh em nhà Ngô. Nhà Ngô sẽ tự sụp đổ. Nhưng Nguyễn đi th́ Nguyễn lại về
là ám chỉ ai? Có phải Tôn Thất Đính đang làm tư lệnh Quân Đoàn 3 kiêm
tổng trấn Saigon Gia Định, vừa xin nghỉ bệnh, lại trở về nắm quyền hành
trở lại. Tuy nhiên, khi đoc câu 3 và 4 th́ người ta lại sợ. Đủng đỉnh là
dáng đi của Hồ Chí Minh. Cuối năm Tư (đuôi chuột) Hồ sẽ vượt qua cầu Bến
Hải mà trị v́ miền Nam Việt Nam. Ch́ có ai là Cộng Sản mới muốn như thế.
Người ta cho đó là sấm, nhưng mấy câu dó không có trong sấm Trạng Tŕnh.
Vậy th́ nó từ đâu ra? Không có câu trả lời!
Đến khi việc ông Ngô Đ́nh Nhu giả bộ đi săn để lén lút gặp đại diện của
Hồ Chí Minh ở tạo trụ sở Ủy Hội Quốc Tế Giám Sát Đ́nh Chiến, ở Vơ Đắt Vơ
Xu hay ở Đà Lạt đồn về tới Huế th́ người ta biết như vậy là số phận nhà
Ngô sắp xong. Người Huế, tâm lư chung, không ưa Mỹ v́ người Mỹ cũng mắt
xanh mũi lơ, trông không khác mấy với người Pháp đa cướp nước ta, đàn áp
Phật giáo là tôn giáo đa số người Huế, nhưng người ta cũng biết họ cần
phải có người Mỹ v́ không có Mỹ, không đủ sức chống Cộng. Họ cũng sợ
Cộng Sản như bao nhiêu người miền Nam Việt Nam vậy.
Sau ngày 20 tháng 8, tiếng la, tiếng thét, tiếng chuông, tiếng phèn la,
tiếng thùng thiếc vang dội cả một vùng giốc Nam Giao, chung quanh chùa
Từ Đàm khi chùa bị quân Diệm Nhu tấn công th́ người ta biết màn kịch nhà
Ngô đang hạ xuống từ từ.
Kết quả:
Dĩ nhiên, sự phản bội đồng minh của nhà Ngô là cái chết của ba anh em:
Diệm, Nhu, Cẩn.
Sự đam mê quyền lực làm cho anh em Diệm Nhu trở nên thiển cận, chỉ muốn
bảo vệ quyền lực của ḿnh mà quên đi cái vị thế miền Nam trong cuộc
chiến tranh lạnh giữa hai khối Thế giới Tự do và Cộng Sản. Anh em nhà
Ngô không thể đi trước, nếu Mỹ chưa bắt tay với Trung Cộng, 9 năm sau
khi anh em nhà họ Ngô qua đời.
(kỳ tới: Thần quyền, thế quyền hay tham vọng tôn giáo?)
hoànglonghải
---------------------------------------
(1) Đài Loan loan tin cháu nội Hồ Chí Minh thăm Đài Bắc
Tin Đài Bắc - Hồ Chí Minh có vợ con, không phải là chuyện bí mật đối với
các sở t́nh báo Trung Cộng, Đài Loan, Liên Xô. Điều này đă được viết
trong nhiều sách và tài liệu, mặc dù c̣n bị bưng bít ở Việt Nam. Trong
tuần qua tờ Công báo Đài Bắc đă loan một tin cho biết cháu nội của Hồ
Chí Minh thăm viếng Đài Loan, khi cho rằng Trần Phương là con ruột của
Nông Đức Mạnh hiện đang làm trưởng uỷ hội dân tộc thiểu số, xử lư thường
vụ quốc tế đă đến thăm đảo quốc này, mà báo chí Đài Loan gọi họ Trần là
cháu nội của lănh tụ Hồ Chí Minh một cách rất b́nh thản.
Báo chí Đài Loan không để ư hoặc cố ư nhấn mạnh chuyện Nông Đức Mạnh là
con ngoại hôn của Hồ Chí Minh, chỉ nói Trần Phương tới thăm Huyện Phủ
Đài Bắc quan sát sự phát triển thành thị, và đă được Phó huyện trưởng
Tăng Tham Bảo tiếp đón và giới thiệu kinh nghiệm phát triển của huyện
Đài Bắc. Bài báo viết rơ ông nội của họ Trần là Hồ Chí Minh, lănh tụ của
đảng Cộng sản Việt Nam. Họ Trần tuyên bố vài năm gần đây, người ngoại
quốc đầu tư tại Việt Nam như thương nhân Đài Loan tỉ lệ rất cao, và nói
nhà cầm quyền Việt Nam đặc biệt chú ư đến ba hạng sản nghiệp như cơ giới,
điện tử và nông nghiệp.
Đối với hoàn cảnh đầu tư tại Việt Nam, cần chính phủ Đài Loan có ḷng
tin, và Trần Phương c̣n có ư muốn mời thủ trưởng huyện phủ Đài Bắc đến
viếng thăm Việt Nam. Trần Phương đến Đài Loan lần này là lần thứ hai.
Mới đây một người con khác của Nông Đức Mạnh là Nông Quốc Tuấn đă được
đưa lên làm Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Bắc Giang, phụ trách công tác xây dựng
Đảng. Đây là khu vực đă diễn ra cuộc biểu t́nh của hàng chục ngàn người
chống lại Công an, khi chúng lợi dụng quyền lực đă đánh chết một thanh
niên tại địa phương chỉ v́ lái xe không đội nón an toàn
(2) Vốn dĩ Huế, cả mấy trăm năm nay, cả trước khi ông Gia Long đặt kinh
đô ở Huế. Lịch sử kể về chúa Tiên đi mở cơi phương Nam, cho xây ngôi
chùa trên đồi Hà Khê gọi là chùa Thiên Mụ năm 1601, Nguyên trước là
chùaThiên Mẫu (?) của người Chàm. Ấy là sự tích tiên khởi về kinh đô Huế.
Lại nữa, lịch sử xây dựng kinh đô Huế gắn liền với lịch sử xây dựng các
ngôi chùa và phát triển đạo Phật ở Huế, trong tầng lớp vua quan cũng như
dân dă. Nh́n vấn đề như thế, đạo Phật thấm nhuần cả chiều rộng lẫn chiều
sâu trong hàng vua quan và dân chúng Huế.
Đạo Thiên Chúa đến Huế chậm hơn, ban đầu là lẻ tẻ một số cố đạo
ngoại
quốc, phần đông là người Bồ. Dần dần, việc truyền giáo mạnh mẽ và rộng
hơn, nhất là v́ mối quan hệ giữa vua Gia Long va giám mục Bá Đa Lộc, (Pignau
de Behaine) và từ ảnh hưởng qua số linh mục và người người Pháp đă giúp
đỡ và làm quan dưới triều Gia Long.
Ở Huế, trong số những người lớn tuổi, người ta thường nhắc đến ông Bá Đa
Lộc, các ông Tây làm quan triều Gia Long như ông Tín, tên Tây là Oliver
de Puymanuel. Ông nầy qua đời trước khi Nguyễn Ánh lên ngôi. Ông Nguyễn
Văn Chấn, tên Tây là Philippe Vannier. Ông Nguyễn Văn Trí, tên Tây là
Marie Dayot. Ông Jean Baptiste Guillon, không có tên Việt (?).Ông
Forcant, tên Việt là Lê Văn Lang. Ông Nguyễn Văn Mân, tên Tây là Laurent
Basisy. Ông Nguyễn Văn Thắng, tên Tây là Jean Baptiste Chaigneau. Ông
nầy có vợ Việt Nam. Ông làm quan qua đời Minh Mạng, nhưng thấy vua mới
lạt lẽo nên xin trở về mẫu quốc, đem vợ con theo.
|