|
Tiến sĩ
Ronald Frankum
Viết riêng cho
BBCVietnamese.com
|
|
 |
|
 |
|
|
Tổng thống
Eisenhoweer và Ngoại trưởng John Foster Dulles đón
tiếp ông Diệm tại phi trường Washington năm 1957 |
Tiếp tục loạt bài đánh giá về nhân vật
Ngô Đ́nh Diệm nhân 45 năm ngày xảy ra cuộc đảo chính
tháng 11.1963, xin giới thiệu với quư vị bài viết của
tiến sĩ Ronald Frankum, Phó Giáo sư Khoa Lịch sử, Đại
học Millersville, bang Pennsylvania, Hoa Kỳ.
Năm 1954, Quốc trưởng Bảo Đại đề nghị Ngô
Đ́nh Diệm đứng ra thành lập chính phủ, tin rằng ông có thể
kiểm soát được Diệm.
Bảo Đại đánh giá thấp Diệm, cũng giống như
những người Mỹ chứng kiến ông, trong năm sau đó, vượt qua
cơn hỗn tạp của công cuộc củng cố Việt Nam Cộng Ḥa, cởi bỏ
tàn tích của thực dân Pháp, chống trả ảnh hưởng của các tôn
giáo và Việt Minh.
Đánh giá thấp
Các viên chức Mỹ không chỉ đánh giá thấp cơ
hội sống sót của Ngô Đ́nh Diệm mà cũng đánh giá thấp viễn
kiến, khả năng lănh đạo của ông ở một Việt Nam mà họ hy vọng
sẽ là h́nh mẫu dân chủ.
Dù có một số thành công, một vài thất bại,
Ngô Đ́nh Diệm đă lănh đạo đất nước theo cách tốt nhất có thể,
trong hoàn cảnh chiến tranh và cách mạng ông phải đối đầu
hàng ngày.
Diệm không trở thành vị lănh đạo dân chủ
chống Cộng sản mà người Mỹ dự đoán; ông ta cũng không thực
thi những cải cách mà Mỹ trông chờ và trong nhiều phương
diện, ông tách khỏi cung cách lănh đạo mà những thành viên
nội các Kennedy sau này đ̣i hỏi.
|
 |
Dù
có một số thành công, một vài thất bại, Ngô
Đ́nh Diệm đă lănh đạo đất nước theo cách tốt
nhất có thể

|
Nhưng Diệm có viễn kiến riêng về giải phóng
Việt Nam khỏi ngoại bang, chống nhà nước cộng sản, dù rằng
đây là hai mục tiêu mâu thuẫn v́ để mục tiêu sau thành công
th́ phải có hỗ trợ của một ngoại cường, Mỹ.
Khi tạo ra Việt Nam Cộng Ḥa từ tro tàn của
gần 100 năm Pháp đô hộ, Diệm đối diện rất nhiều thử thách;
chúng định h́nh chính sách và quyết định số phận của ông.
Diệm thừa hưởng một t́nh thế khó khăn; thực
dân Pháp đẩy người Việt xuống hàng công dân hạng hai, không
cho họ kiến thức và kinh nghiệm trị nước.
Trải nghiệm thực dân và thời gian chiếm đóng
tàn nhẫn của Nhật thời Thế chiến Hai khiến đất nước chia rẽ
về ư thức hệ, tôn giáo, văn hóa, xă hội. Ban bệ của Diệm lại
không có mấy người có kinh nghiệm quản trị, nhiều người th́
nuôi dưỡng sự nghi ngờ chính quyền Sài G̣n.
Rốt cuộc, việc Diệm không thể củng cố sự ủng
hộ của dân chúng, không cải cách theo ư người Mỹ, đă dẫn tới
việc ông bị ám sát tháng 11.1963.
Bước ngoặt trong quan hệ
Người ta đă biết nhiều về thời kỳ đấu tranh
ban đầu khi Diệm làm tổng thống và sự sụp đổ năm 1963.
Nhưng cái thường bị bỏ qua là những sự kiện
đánh dấu bước ngoặt trong quan hệ Mỹ - Diệm. Khi mà người Mỹ,
từ chỗ xem Diệm là hy vọng duy nhất cho tương lai Việt Nam,
nay xem ông là một trong những lănh đạo bị thù ghét nhất mà
chính quyền Kennedy phải giao thiệp.
Thời cai trị của Ngô Đ́nh Diệm trùng hợp với
sự can dự gia tăng của Mỹ trong khu vực, khi Tổng thống
Dwight D. Eisenhower và sau đó, John F. Kennedy, t́m cách
kiềm chế ảnh hưởng cộng sản tại châu Á, và xây dựng một h́nh
mẫu cho các nước khác noi theo.
|
 |
|
|
Bộ
trưởng Quốc pḥng McNamara và Tướng Maxwell Taylor
gặp Tổng thống Kennedy ngày 24.9.1963 trước khi tới
Sài G̣n |
Nhưng khác với niềm tin của nhiều người, thực
ra điểm bước ngoặt trong thay đổi quan hệ Mỹ - Diệm không
phải bắt đầu trong thời Kennedy.
Quan hệ đặc biệt bị phá vỡ do các đại diện
của Mỹ cuối thập niên 1950, Đại sứ Elbridge Durbrow, Joseph
A. Mendenhall, và Francis Cunningham.
Họ đă không thể hiểu đầy đủ sự phức tạp của
chính trị, nhân vật miền Nam. Họ dính líu vào những mưu đồ
chính trị Sài G̣n, tin (mà thường không kiểm chứng) những
nhà đối lập với Diệm, những người tiếp tục phá chính quyền
vào giai đoạn quan yếu của Việt Nam Cộng Ḥa.
Các báo cáo mà Durbrow gửi về Washington
thường xuyên lên án sự cứng đầu của Diệm. Kết quả là Durbrow
từ chối ủng hộ Diệm trong cuộc đảo chính bất thành tháng
11.1960. Mấy tháng sau đó, ông ta cũng ngầm gợi ư rằng đă
đến lúc thay Diệm.
Vị đại sứ cũng không tin Diệm có thể thắng
cuộc bầu cử tháng Tư 1961 không phải nhờ gian lận mà nhờ uy
tín, thành tích hoặc sự yếu kém của các ứng viên khác.
Quan hệ bị đầu độc
Hành động của viên đại sứ đặt ra tiền lệ,
khiến Diệm giảm ḷng tin vào đồng minh Mỹ.
Khi Durbrow ra đi tháng Tư 1961, quan hệ đặc
biệt giữa Diệm và Hoa Kỳ đă bị đầu độc; nó đặt ra những khác
biệt mà không người Mỹ nào, dù là Kennedy hay Johnson, có
thể hàn gắn.
Những người ở lại ṭa đại sứ, cùng những
người chia sẻ sự căm ghét Diệm như Mendenhall, không làm ǵ
để thay đổi không khí ở Washington, bất chấp cố gắng của
những người hiểu Việt Nam hơn như Thiếu tướng Edward
Lansdale và Giám đốc CIA tại Sài G̣n, William Colby.
Đến khi Kennedy đă có chỗ ngồi vững chăi tại
Ṭa Bạch Ốc, thí nghiệm Ngô Đ́nh Diệm có vẻ chỉ tạo ra kết
quả giảm sút. Sáu năm xây dựng quốc gia đă không đem lại một
nhà nước mẫu mực mà Mỹ hy vọng có để chứng tỏ về một lựa
chọn thay thế cộng sản ở châu Á.
|
 |
Các
quan chức phụ trách đối ngoại của Kennedy
đụng độ với Diệm v́ họ không bao giờ cố gắng
t́m hiểu bản chất của sự trị quốc tại Việt
Nam

|
Ngô Đ́nh Diệm cũng ngày càng chống đối lời
khuyên của Mỹ, trong khi những người “giỏi nhất, thông minh
nhất” của Kennedy vẫn đề ra giải pháp cho một vấn đề mà họ
không mấy hiểu biết.
Theo nhiều cách, các quan chức phụ trách đối
ngoại của Kennedy đụng độ với Diệm v́ họ không bao giờ cố
gắng t́m hiểu bản chất của sự trị quốc tại Việt Nam, hay
những phức tạp của sự lănh đạo.
Diệm coi sự ngu dốt, hay cuồng ngạo này, của
Mỹ là một trong những trở ngại chính cho việc tiếp tục quan
hệ với Mỹ.
Mặc dù theo cách của riêng ḿnh, Diệm cũng cố
dạy bảo các viên chức Mỹ đến thị sát Việt Nam, nhưng người
của Kennedy không chịu để Diệm dạy dỗ.
Và họ bắt đầu nh́n thấy sự có ích của ông ta
chỉ có giới hạn. Thường th́ họ diễn giải những cuộc độc
thoại của Diệm về lịch sử, về tính chất đe dọa cho nước ông,
chỉ là cách lẩn tránh lời khuyên của Mỹ.
Thái độ này dẫn tới vụ ám sát Diệm tháng
11.1963, đem lại thêm 12 năm chiến tranh, khổ đau cho những
người Việt tiếp tục chống cộng sản, để lại một Việt Nam Cộng
Ḥa bị tàn phá, dù sau đó là thống nhất, sau cuộc đấu tranh
trường kỳ và gian khổ.
Về tác giả:Ronald
B. Frankum lấy bằng tiến sĩ ở Đại học Syracuse và hiện dạy ở
Khoa Lịch sử, Đại học Millersville. Ông là tác giả sách
“Silent Partners: The United States and Australia in
Vietnam, 1954-1968” (2001), đồng tác giả của “The Vietnam
War for Dummies”(2002), và “Like Rolling Thunder: The Air
War in Vietnam, 1964-1975” (2005). Cuốn sách mới nhất của
ông, Operation Passage to Freedom: The United States Navy in
Vietnam , 1954-1955, viết về chiến dịch của Hải quân Mỹ đưa
gần 300.000 người Việt từ Bắc vào Nam năm 1954-55. |