|
TỔNG THỐNG NGÔ Đ̀NH DIỆM
(1901-1963)
Ngô Đ́nh Diệm (Hán tự:吳廷琰) sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901 tại Huế trong một gia đ́nh quyền quư theo Công giáo ở Việt Nam, tên thánh của ông là Jean Baptiste (Gioan Baotixita).
Theo các tài liệu lịch sử đă được công bố, Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm sinh ngày 3 tháng 1 năm 1901 tại Huế trong một gia đ́nh công giáo danh vọng bậc nhất miền Trung thời đó. Thân phụ là cụ ông Ngô Đ́nh Khả và thân mẫu là cụ bà Phạm Thị Thân, nguyên quán làng Đại Phong, Huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng B́nh, Trung Phần Việt Nam. Cụ Ngô Đ́nh Khả là Thượng Thư triều đ́nh Huế kiêm Phụ Đạo Đại Thần và cũng là Cố Vấn của vua Thành Thái.
Trưởng nam là Tổng Đốc Ngô Đ́nh Khôi đă bị cộng sản giết năm 1945 cùng với người con trai là Ngô Đ́nh Huân; Tổng Giám Mục Ngô Đ́nh Thục; Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm là người con trai thứ ba; ba người con gái là bà Ngô Đ́nh Thị Giao, tức bà Thừa Tùng; bà Ngô Đ́nh Thị Hiệp, tức bà Cả Âm, thân mẫu Hồng Y Nguyễn Văn Thuận và bà Ngô Đ́nh Thị Hoàng, tức bà Cả Lễ, nhạc mẫu nghị sĩ Trần Trung Dung, tiếp theo là ba người con trai: Cố vấn Ngô Đ́nh Nhu, Cố vấn Ngô Đ́nh Cẩn và đại sứ Ngô Đ́nh Luyện, người con út trong gia đ́nh.
Cụ Cố Ngô Đ́nh Khả nổi danh là một vị khoa bảng xuất chúng. Thời đó, tại Việt Nam rất hiếm có người được hấp thụ cả hai nền giáo dục Đông và Tây như Cụ. Lúc thiếu thời, Cụ theo Nho học, sau đó vào chủng viện học chương tŕnh Pháp, rồi được gửi sang đại chủng viện Penang để học Triết học và Thần học Tây Phương bằng tiếng Pháp và tiếng La Tinh. Cụ là một chủng sinh rất xuất sắc, nhưng v́ không có ơn gọi để trở thành linh mục, Cụ đă xin trở về cuộc sống thế tục.
Lúc thiếu thời, ông Diệm c̣n đuợc theo học dưới sự dạy dỗ của một vị cha tinh thần khác, cũng nổi tiếng về kiến thức quảng bác, đức độ và ḷng yêu nước: Đó là Quận Công Nguyễn Hữu Bài, Thượng Thư dưới triều vua Duy Tân. Ngài là vị đại thần duy nhất chống lại việc người Pháp tham lam muốn đào ngôi mộ vua Tự Đức để lấy vàng bạc châu báu. V́ thế dân chúng miền Trung thời đó vô cùng cảm kích ngưỡng mộ nên đă có phương ngôn: “Đày vua không Khả. Đào mả không Bài”.
Ngoài việc hấp thụ những đức tính cao đẹp và ḷng yêu nước nồng nàn của thân phụ và nghĩa phụ, ông Diệm c̣n chịu ảnh hưởng sâu đậm của nền giáo dục Nho Giáo và Thiên Chúa Giáo. Thực vậy, nếu Nho Giáo đă hun đúc ông Diệm thành một con người thanh liêm, tiết tháo và cương trực th́ nền giáo dục Thiên Chúa Giáo đă đào tạo ông Diệm thành một con người đầy ḷng bác ái, vị tha và công chính.
Từ lúc c̣n nhỏ, ông được Nguyễn Hữu Bài – quan phụ chính trong triều dạy dỗ và coi như con đẻ, từ năm 15 tuổi ông vào học trường ḍng với dự định sau này làm tu sĩ, nhưng không chịu nỗi kỷ luật khắt khe trong trường ḍng, ông đă bỏ trường ḍng ra xin học vào trường quốc học Huế . Từ năm 1919 ông ra Hà Nội học trường Hậu Bổ (trường hành chính) và tốt nghiệp 2 năm sau đó năm 1921.
Năm 1923, ông được bổ nhiệm làm Tri huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên, rồi Tri phủ Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị. Năm 1929, ông được bổ nhiệm làm Tuần vũ tỉnh B́nh Thuận. Năm 1932, ông được bổ nhiệm Thượng thư Bộ Lại trong triều đ́nh vua Bảo Đại. Trong thời gian này ông được bầu làm Tổng thư kư uỷ ban cải cách, ông đề xướng hai điều với chính quyền bảo bộ Pháp: một là thống nhất Trung và Bắc Kỳ theo Ḥa ước Giáp Thân 1884 và hai là cho Viện Nhân dân Đại biểu Trung Kỳ được quyền tự do thảo luận các vấn đề. Việc thống nhất cốt sẽ buộc chính quyền Bảo hộ Pháp băi bỏ khâm sứ Trung Kỳ và thống sứ Bắc Kỳ và thu về thành một viên tổng trú sứ (résident général) ở Huế mà thôi. Việc thứ hai là để canh tân lối cai trị cũ. V́ thấy không được chấp nhận, ông từ chức ngày 12.07.1933..
Năm 1933, ông vào Sài G̣n cùng với Nguyễn Phan Long, Lê Văn Kim,… tổ chức phong trào của trí thức Nam và Trung Kỳ vận động chính giới Pháp tại Paris để đ̣i truất phế quan Toàn Quyền Đông Dương Pierre Pasquier. Việc không thành, ông bị Pasquier trục xuất khỏi Huế và chỉ định cư trú tại Quảng B́nh. Tuy nhiên, sau cái chết của Pasquier năm 1934, viên toàn quyền mới Eugene René Robin đă phục hồi tước vị hàm cho ông và ông về dạy tại trường Thiên Hựu do anh trai Ngô Đ́nh Thục làm Giám học
Thời kỳ 1934-1944, Ngô Đ́nh Diệm tham gia thành lập và lănh đạo đảng Đại Việt Phục Hưng chống Pháp với thành phần đảng viên ṇng cốt là quan lại, linh mục, cảnh sát, và lính khố xanh bản xứ tại Trung Kỳ. Tháng 7 năm 1944, mật thám Pháp phá vỡ tổ chức này, Ông Ngô Đ́nh Diệm trốn vào Sài G̣n với sự giúp đỡ của hiến binh Nhật.
Tại Sài G̣n, ông đă tham gia thành lập Uỷ Ban Kiến Quốc với mục tiêu pḥ tá hoàng thân Cường Để, tuy nhiên Nhật không cho Cường Để về nước để lập làm vua mà vẫn tiếp tục sử dụng Bảo Đại để lập nên một chính quyền thân Nhật với quốc hiệu mới là Đế quốc Việt Nam. Bảo Đại đă từng mời ông làm thủ tướng trong chính quyền mới nhưng không thành mà thay vào đó là Trần Trọng Kim.
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Bộ Tư Lệnh Nhật ở Đông Dương tổ chức đảo chánh lật đổ nhà cầm quyền Pháp. Đại sứ Nhật Yokohama yêu cầu vua Bảo Đại tuyên cáo Việt Nam Độc Lập trong khối Đông Nam Á. Đối phó với t́nh h́nh mới, nhà vua lại mời ông Ngô Đ́nh Diệm về làm Thủ Tướng nhưng v́ không muốn làm vật hy sinh, ông đă từ chối và nhà vua đă mời cụ Trần Trọng Kim lúc đó 62 tuổi thành lập nội các.
Ngày 15 tháng 8 năm 1945, khi Nhật Hoàng tuyên bố đầu hàng, Việt Minh khai thác sự đột biến hoang mang của quần chúng, đă tổ chức cướp chính quyền trong một cuộc biểu t́nh ngày 18 tháng 8 năm 1945 tại Hà Nội. Sau đó, Cựu Hoàng cũng tuyên bố thoái vị. C̣n ông Diệm trên đường từ Sàig̣n về Huế đă bị Việt Minh bắt tại Tuy Hoà và biệt giam tại Quảng Ngăi. Để củng cố địa vị, Hồ Chí Minh đă mời ông Diệm hợp tác với chính phủ nhưng ông đă cương quyết từ chối. Khi bị giam tại Tuyên Quang, ông bị bệnh nặng được đưa về điều trị tại bệnh viện Saint Paul Hà Nội do áp lực của đảng phái quốc gia và Phó chủ tịch Huỳnh Thúc Kháng, nhưng ông đă được ông Nhu lúc đó đang làm việc tại Thư Viện Trung ương Hà Nội t́m cách cứu thoát.
V́ t́nh h́nh chiến sự suy sụp mau
chóng sau khi thất thủ tại Điện Biên Phủ 7.5.1954, Chính Quyền Pháp
muốn rút lui trong danh dự nên đồng ư trao trả độc lập thực sự cho
Việt Nam. Trước t́nh thế rất bi đát, đất nước có thể bị cắt làm đôi,
Cựu Hoàng Bảo Đại đă kêu gọi ḷng ái quốc và trách nhiệm trước sự
tồn vong của dân tộc, đă yêu cầu ông Diệm nhận lănh sứ mạng. V́ nghĩ
rằng đây là cơ hội cuối cùng, ông có thể đứng ra lập chính phủ để
cứu nước nên ông đă nhận lời, bất chấp sự can ngăn của các chính
khách thân hữu. Sự kiện lịch sử này xảy ra ngày 19. 06. 1954, trước
khi Hiệp Định Genève chia cắt hai miền Nam Bắc đất nước theo sông
Bến Hải ngày 20. 07. 1954 đúng sau 31 ngày. Ngày 24 tháng 06 năm
1954 Thủ Tướng Diệm về nước thành lập chính phủ. Trong thời kỳ đầu làm Thủ tướng quốc gia Việt Nam, thực tế ông không có quyền lực đối với các lực lượng quân đội, cảnh sát với những người đứng đầu là Trung tướng Nguyễn Văn Hinh (gốc sĩ quan Trung tá Không quân Pháp, vợ Pháp) và Thiếu tướng Lê Văn Viễn (B́nh Xuyên). Hai lực lượng này liên minh với nhau nhằm chống lại ông, ông cũng không kiểm soát được bộ máy quan chức dân sự v́ các viên chức Pháp đang c̣n nhiều, nắm giữ các vị trí then chốt. Nền tài chính vẫn do ngân hàng Đông Dương mà phía sau là chính phủ Pháp quản lư. Thực tế trong gia đoạn đầu cầm quyền thủ tướng ông không có quyền hành.
Sự kiện quan trọng trong giai đoạn này là việc Tổng thống Hoa Kỳ Eisenhower gửi công hàm chính thức cho Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm cho biết từ đây chính phủ Việt Nam nhận viện trợ trực tiếp của chính phủ Hoa Kỳ chứ không qua nhà đương cục Pháp như trước.
Tŕnh Minh Thế
(1922 – 3 tháng 5 năm 1955)
(một số tài liệu viết là Trịnh Minh Thế)
là một người theo chủ nghĩa quốc gia và là một Tướng lănh quân sự
tài ba trong thời gian cuối của cuộc kháng chiến tranh chống thực
dân pháp, đầu cuộc chiến tranh Quốc-Cộng Việt Nam. Gia thế Trịnh Minh Thế sinh ở tỉnh Tây Ninh trong một gia đ́nh theo đạo Cao Đài. Theo Pḥng Nh́ Pháp th́ cha ông tên là Tŕnh Trung Vinh, tuy nhiên nguồn khác lại cho biết cha ông là Trịnh Thành Quới một giáo chức Cao Đài, đồng thời là một thương gia phát đạt. Gia đ́nh họ Trịnh chuyển từ B́nh Định vào miền Nam từ đầu thế kỷ 19 và đổi họ từ Trịnh sang Tŕnh, theo gia đ́nh ông là để tránh sự trả đũa của nhà Nguyễn với những người theo Tây Sơn (Hoàng Đế Quang Trung Nguyễn Huệ).
Do sinh trưởng trong một gia đ́nh có
thế lực, Trịnh Minh Thế được hưởng sự giáo dục tốt hơn rất nhiều
người Việt Nam đương thời nói chung. Ông tốt nghiệp tiểu học
(Certificate of Primary Education), Thời kỳ 1940-1954 Khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, Nhật tiến vào Đông Dương. Phản ứng trước t́nh h́nh phong trào chống Pháp càng ngày càng gia tăng, toàn quyền Đông Dương là Đô đốc Decoux hành động quyết liệt. Ông ta cho đóng cửa một số nơi thờ tự của Cao Đài, rồi tới ngày 26 tháng 8 năm 1940 cho đóng cửa Ṭa thánh Tây Ninh. Tới ngày 27 tháng 7 năm 1941, nhiều lănh đạo của Cao Đài, kể cả Hộ Pháp Phạm Công Tắc bị bắt giữ.
Để giành được sự ủng hộ của các tổ chức Việt Nam theo chủ nghĩa quốc gia, Nhật tiến hành bắt liên lạc và hỗ trợ cho họ, trong đó có Cao Đài. Tới tháng 2 năm 1943, Nhật giúp vị Phối Sư Cao Đài là Trần Quang Vinh mở lại thánh thất Cao Đài tại Sài G̣n. Để đáp lại, Cao Đài hợp tác tích cực với Nhật, Phối Sư Trần Quang Vinh kêu gọi giáo dân Cao Đài xung phong đăng lính cho quân Nhật, 10.000 giáo dân Cao Đài làm việc cho Nhật, đáng kể nhất là tại xưởng đóng tàu Nitian. Số người này sau giờ làm việc được huấn luyện quân sự. Nhờ vậy mà Trịnh Minh Thế được huấn luyện quân sự trong trường sỹ quan của Hiến binh Nhật (Kempetai), khi Nhật bắt đầu sử dụng lực lượng vũ trang Cao Đài. Tới năm 1945, ông trở thành một sỹ quan của lực lượng quân sự Cao Đài.
Được sự bảo trợ của Nhật, Phối Sư Trần Quang Vinh tổ chức lực lượng vũ trang gồm 3.000 người, tiếng là theo chỉ thị của Hoàng thân Cường Để. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, lực lượng Cao Đài mặc đồng phục trắng, đội mũ bê-rê, vũ trang bằng gậy tre vọt nhọn tham gia hỗ trợ Nhật đảo chính Pháp. Thủ lĩnh quân sự của Cao Đài là Trần Văn Thành tuyên bố Hoàng thân Cường Để chỉ thị thành lập lực lượng vũ trang Cao Đài liên minh với Nhật Bản để chống Pháp. Thời kỳ này Trịnh Minh Thế đă gia nhập lực lượng vũ trang Cao Đài. Ông thành lập đội quân xung kích Hắc Y, mặc quần áo bà ba đen, sau trở thành đồng phục cho tất cả dân quân Liên Minh. Đầu năm 1949, Trịnh Minh Thế đưa lực lượng của ḿnh từ các tỉnh miền Đông về Tây Ninh để ủng hộ Đức Hộ pháp Phạm Công Tắc, rồi sau đó được phong Thiếu tá. Lực lượng của Trịnh Minh Thế có quân số trên 3 ngàn người, bảo vệ cho Ṭa Thánh Tây Ninh tránh được các cuộc tấn công của lực lượng Việt Minh.
Tháng 6 năm 1951, Trịnh Minh Thế chính thức rời khỏi hàng ngũ giáo phẩm Cao Đài với chừng 2.000 người của ḿnh và thành lập lực lượng riêng, lấy tên là Liên Minh, chủ trương chống cả Việt Minh và Pháp. Cha và anh của ông cũng thành lập lực lượng vũ trang trong Liên Minh, về sau hai người bị giết khi đụng độ với lực lượng Việt Minh.
Lực lượng Liên quân của Tŕnh Minh Thế được cho là đă thực hiện một loạt các vụ Ám sát tại Sài G̣n từ năm 1951 tới năm 1953, chiến công lẫy lừng ám sát Thiếu tướng Chanson tư lệnh quân đội viễn chinh Pháp Nam bộ Việt Nam tại Sa Đéc năm 1951.
Tháng 8 năm 1953, quân Pháp mở cuộc
tấn công vào căn cứ của Tŕnh Minh Thế, sử dụng một tiểu đoàn sơn
cước Nùng tinh nhuệ. Quân Liên Minh phải tránh vào các hang động ở
núi Bà Đen. Về sau Tŕnh Minh Thế phải dời sở chỉ huy về núi Heo.
Tới năm 1954, Liên Minh đă mở rộng địa bàn hoạt động về phía tây-nam,
tới tận sông Cửu Long. Lực lượng của họ được chia làm nhiều tiểu
đoàn, quân số có lẽ vào khoảng 4.500 người.
Tháng 9 năm 1954, Đại tá Lansdale
(Phái bộ Mỹ)
và Cố vấn Ngô Đ́nh Nhu phát hiện ra tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng tham
mưu trưởng quân đội Quốc gia, đang tiến hành âm mưu lật đổ TT Diệm.
Cùng lúc, quân Pháp phong tỏa các lực lượng Cao Đài định tiến vào
Sài G̣n giải nguy cho Ngô Đ́nh Diệm. Lực lượng Liên Minh của Tướng
Thế đă tiến vào Sài G̣n, đáp lại lời kêu gọi ủng hộ TT Diệm.
Ngày 13 tháng hai năm 1955, quân lính
của Tŕnh Minh Thế chính thức sát nhập vào quân đội Nam Việt Nam,
c̣n Tŕnh Minh Thế được Thủ tướng Diệm gắn lon Thiếu tướng,
(TT Diệm chỉ có 2 Thiếu tướng: Lê văn Ty, Trịnh
Minh Thế) quân Liên Minh
Hắc y diễn hành vào Sài G̣n. Tân Thiếu tướng Tŕnh Minh Thế điều
động 15.000 quân Cao Đài về Ṭa Thánh Tây Ninh như lực lượng dự bị,
c̣n ḿnh dẫn phần lớn lực lượng của ḿnh gồm 3.500 người về gia nhập
quân đội quốc gia như thỏa thuận với TT Ngô Đ́nh Diệm.
Ngày 8 tháng 3 năm 1955, 7 tiểu đoàn quân Chính phủ bắt đầu hành quân tiêu diệt lực lượng đối lập là đảng Đại Việt tại Quảng Trị (Trung tá Nguyễn Bôn tự xưng Đại tá lập chiến khu Ba Ḷng gần Khe Sanh), và tới ngày 25 tháng 3, quân dù mở cuộc tấn công vào phe đối lập tại Sài G̣n, nhưng Cao ủy Pháp là tướng Paul Ely cùng tướng Lawton Collins (Mỹ) gây sức ép buộc quân chính phủ phải ngưng chiến. Tuy nhiên, thế lực của quân chính phủ được củng cố lên nhiều khi ngày 29 tháng 3, tướng Nguyễn Thanh Phương, tư lệnh các lực lượng Cao Đài tuyên bố ủng hộ chính phủ. T́nh h́nh căng thẳng giữa hai bên kéo dài, các thỏa hiệp do Pháp và Mỹ làm trung gian đưa ra đều bị hai bên bác bỏ, tới ngày 26 tháng 4, xung đột quân sự bùng nổ trở lại. Quân đội chính phủ nhanh chóng đánh tan sức kháng cự của quân B́nh Xuyên, tới cuối tháng 4, quân B́nh Xuyên hoàn toàn bị đánh bại, bị đẩy khỏi thành phố, bị quân chính phủ truy kích.
Ngày 3 tháng 5 năm 1955, khi đang ngồi trên xe Jeep chỉ huy tiến quân qua cầu Tân Thuận, tướng Tŕnh Minh Thế bị một viên đạn carbin bắn tỉa bắn vào sau gáy. Vụ giết người này suốt một thời gian không được làm sảng tỏ được, một số người đổ lỗi cho phía Pháp (v́ họ đă thề giết cho bằng được Tŕnh Minh Thế trong suốt nhiều năm, lúc này các Giang thuyền Pháp tuần tiểu trên Sông Sài g̣n, lấy lí do bảo vệ kiều bào Pháp) trong khi một số người khác đổ lỗi cho chính quyền Đệ nhất Cộng Hoà. Hoàn cảnh cái chết của ông cũng gây nhiều tranh căi, khi có nhiều thông tin khác nhau, thậm chí đối lập nhau về thời gian, địa điểm, vết thương gây nên cái chết của ông….
Khi nghe tin Tướng Thế tử trận, TT Diệm bật khóc, TT truy thăng Trung tuớng, tang lễ cữ hành nghi thức trọng thể: Tướng Lănh Vị quốc vong thân. Ông được chôn cất tại núi Bà đen, gần toà thánh Tây ninh, nơi những năm tháng ông kháng chiến chống Pháp và Cộng sản . Sau khi chết, tên ông được đặt cho con đường dọc suốt Quận 4 Sài G̣n đến cầu Tân Thuận cho tới năm 1975.
Dù T́nh báo Pháp đă thú nhận sau này (1977) chính họ đă bắn tỉa từ một giang thuyền trên Sông Sài g̣n dưới cầu Tân thuận, do nhận được tin từ một sĩ quan VN tại Bộ Tồng tham Mưu (sĩ quan này ủng hộ Tướng Hinh; Tướng Viễn, B́nh Xuyên, vốn sĩ quan t́nh báo của Pháp trước đây).
Học giả Nguyễn Hiến Lê trước 1975 cho
rằng TT Diệm giết, nhưng thực tế Nguyễn Hiến Lê không đưa bằng chứng
thuyết phục. Sau 1975 ông vỡ mộng Chủ Nghĩa Cộng Sản, ông yêu thích
tôn sùng. Trong Hồi kư Cuối đời 1980 ông thú nhận trước 1975, ông
từng yêu thích lư tưởng CS. Điều này cho thấy những sách viết về
chính trị của ông trước 1975 không được khách quan cho lắm. Không
phủ nhận những tác phẩm khác là có giá trị: Đắc nhân tâm, Quẳng gánh
lo đi.
Bảy Viễn
(1904-1970) là tên của một
tướng cướp lừng danh trước năm 1945, về sau tham gia tổ chức lực
lượng vũ trang chống Pháp, sau ly khai trở về hợp tác với chính
quyền Bảo Đại. Bảy Viễn cũng là thủ lĩnh của lực lượng B́nh Xuyên
chống đối và bị Ngô Đ́nh Diệm dẹp tan vào năm 1955. Bảy Viễn tên thật là Lê Văn Viễn, sinh năm Giáp Th́n (1904) tại Phong Đước, quận Cần Giuộc, tỉnh Chợ Lớn (nay là Quận 8, Tp. Hồ Chí Minh). Cha là Lê Văn Dậu, người Hoa gốc Triều Châu. Năm 1921, Bảy Viễn vào tù lần đầu với bản án 20 ngày tù giam khi mới 17 tuổi do phạm tội trộm xe đạp.
Năm 1927, Bảy Viễn phạm tội hành hung
người khác và bị phạt giam 2 tháng tù.
Năm 1942, Bảy Viễn bị bắt trong vụ tổ
chức cướp xưởng mộc B́nh Triệu. Ṭa án tuyên phạt 12 năm khổ sai
cộng thêm 8 năm c̣n thiếu trước đây là 20 năm.
Năm 1945 tham gia kháng chiến chống
Pháp và trở thành Chi đội trưởng Chi đội 9 thuộc Liên khu B́nh Xuyên,
do Ba Dương (tức Dương Văn Dương)
làm Tổng chỉ huy. Cuối tháng 5 năm 1948 Bảy Viễn mang hai đại đội vơ trang mạnh, thân tín nhất, có cả trung liên và đại liên, từ Rừng Sát, vượt sông Soài Rạp, băng qua lộ 4, xuôi theo ḍng kênh Dương Văn Dương (Lagrange) đến căn cứ địa của Nam Bộ, tại làng Nhơn Ḥa Lập để họp và nhận chức Khu bộ trưởng Chiến khu 7.
Tại cuộc họp Trung Tướng Nguyễn B́nh
quyết định giải tán tổ chức B́nh Xuyên phiên chế thành các Trung
đoàn Vệ Quốc Đoàn để phá tan âm mưu chia rẽ quốc gia và Việt Minh
của Pḥng nh́ Pháp. Bảy Viễn phản đối quyết liệt. Rạng sáng ngày 27 tháng 5 năm 1948, Bảy Viễn đă âm thầm rút quân B́nh Xuyên rời chiến khu Đồng Tháp đến Đông Thành nơi Chi đội 4 của Mười Trí (bạn thân Bảy Viễn) đóng quân và cho bạn biết ư định về hợp tác với Pháp. Mười Trí không ngăn cản nhưng âm thầm phân tán lực lượng vơ trang của Bảy Viễn. Cho nên khi rút về tới xă Hưng Long, huyện B́nh Chánh, Bảy Viễn chỉ c̣n có hai trung đội.
Sau khi về hợp tác với Pháp, Bảy Viễn
được Tướng De la Tour gắn lon Đại tá. Tháng 7 năm 1954 Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm chấp chính thành lập chính phủ trung ương và nộp danh sách nội các. Lê Văn Viễn, vị chỉ huy B́nh Xuyên đ̣i được tham chính và đưa ra yêu sách lập chính phủ mới. Lực lượng B́nh Xuyên cùng với quân đội Cao Đài và Ḥa Hảo c̣n lập Mặt trận Thống nhất Toàn lực Quốc gia và gửi tối hậu thư buộc chính phủ phải có danh sách mới trước ngày 26 tháng 3 năm 1955. TT Ngô Đ́nh Diệm không chịu nhượng bộ nên B́nh Xuyên mở cuộc tấn công Bộ tổng tham mưu rồi pháo kích vào Dinh Độc Lập. Sang tháng 4 năm 1955 th́ quân B́nh Xuyên đánh thành Cộng Ḥa. Quân đội Quốc gia phản công, phá được căn cứ chính của B́nh Xuyên ở khu vực cầu Chữ Y khiến lực lượng B́nh Xuyên phải triệt thoái khỏi Sài G̣n, Chợ Lớn và rút về Rừng Sát.
Tháng 9 năm 1955 TT Ngô Đ́nh Diệm cử đại tá Dương Văn Minh thay Tướng Thế mở Chiến dịch Hoàng Diệu truy nă B́nh Xuyên ở Rừng Sát. Quân B́nh Xuyên bị hoàn toàn tiêu diệt. Lê Văn Viễn đào tẩu sang Campuchia rồi lưu vong sang Pháp, chấm dứt thực lực của B́nh Xuyên.
Năm 1970 Bảy viễn qua đời tại Paris.
Lực lượng quân sự của giáo phái Ḥa Hảo được thành lập dưới sự hậu thuẫn của quân đội Pháp như là Lực lượng Bổ sung (Suppletif Forces) để chống Việt Minh. Và Ba Cụt là một trong những chỉ huy của lực lượng này, được Pháp gắn lon Đại tá
Sau năm 1954, TT Ngô Đ́nh Diệm cho tiến hành thương thuyết với các giáo phái để thống nhất lực lượng quốc gia, tiến tới thành lập Việt Nam Cộng Ḥa. Nhưng dưới sự hỗ trợ và khuyến khích của Pháp, Ba Cụt không những không hợp tác mà c̣n liên minh với quân B́nh Xuyên để chống lại chính phủ. Tự phong Thiếu tướng .
Thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm cho tiến hành các chiến dịch Đinh Tiên Hoàng (mở ngày 23 tháng 5 năm 1955) và chiến dịch Nguyễn Huệ (mở ngày 1 tháng 1 năm 1956) để tiêu diệt quân Ba Cụt nhưng vẫn không thanh toán được. Sau đó TT Ngô Đ́nh Diệm chỉ đạo cho PTT Nguyễn Ngọc Thơ thương thuyết, chấp nhận cho Ba Cụt về hợp tác với chính quyền, phong thiếu tướng, Ba cut giả vờ thương thuyết để rút vảo Đồng tháp Mười kháng chiến, nhận viện trợ của Pháp rồi vào phút cuối trở mặt.
Ngày 2.6.1956 QLVNCH tiến quân vào nơi trú ẩn Ba cụt, bắt sống ông ta trên chiếc thuyền nhỏ. Ông ta tuyên bố trên đường ra hợp tác với chính quyền?
Cả hai phiên ṭa sơ thẩm (ngày 11 tháng 6 năm 1956) và thượng thẩm (ngày 26 tháng 6 năm 1956) của Ṭa Đại H́nh và phiên ṭa ngày 4 tháng 7 năm 1956 của Ṭa Án Quân Sự đều tuyên án tử h́nh Đai tá Lê Quang Vinh với tội danh mưu phản. (Khi bắt đầu thương thuyết lần đầu 1-1-1956, đến khi bị bắt 2.6.1956, hơn 5 tháng sau v́ vậy lư do ông tuyên bố khi bị bắt là trên đường ra hợp tác không thể chấp nhận!)
Vào lúc 5 giờ 45 phút sáng ngày 13
tháng 7 năm 1956, Ba Cụt đă bị hành quyết bằng cách lên máy chém tại
Cần Thơ.
Tổng thống Việt Nam Cộng Hoà: 26.10.1955-2. 11.1963
TT Dwight Eisenhower đích thân ra tận
phi cơ đón chào: 24 phát súng đại bác đón chào TT Việt Nam Cộng Hoà.
TT Eisenhower ca ngợi TT Diệm là Churchill Châu Á. TT Việt Nam Cộng
hoà đọc diễn văn trước Quốc hội Hoa Kỳ tất cả Nghị Sĩ đứng dậy vỗ
tay rầm trời trước câu nói bất hủ của TT VNCH:
“Nếu Hồng quân Trung Hoa vuợt vĩ tuyến 17 muốn nhuộm đỏ Miền Nam,
biên giới của Mỹ Quốc và Thế giới tự do sẽ kéo dài đến vĩ tuyến 17″.
Trên đường bị chở về Bộ Tổng tham mưu, ông và Ngô Đ́nh Nhu bị một thiếu tá trong lực lượng đảo chính hạ sát dă man.
Trong cuộc viếng thăm chính thức Việt Nam ngày 9 tháng 5 năm 1961, Phó Tổng Thống Mỹ Johnson đă đề nghị việc gửi Quân Đội Mỹ sang tham chiến tại Việt Nam. Tổng Thống Diệm đă bày tỏ quan điểm chính phủ Việt Nam rất biết ơn sự viện trợ quân sự và cố vấn Mỹ. Nhưng với việc gửi Quân Đội Mỹ đến Việt Nam ông đă cương quyết từ chối và nói: - “Nếu Qúy Vị mang Quân Đội Mỹ vào Việt Nam, tôi phải giải thích thế nào đây với dân tộc tôi? Với người dân Việt, h́nh ảnh hăi hùng của Quân Đội Viễn Chinh Pháp c̣n hằn sâu trong tâm trí họ. Sự hiện diện của Quân Đội Mỹ sẽ làm cho dân chúng dễ dàng tin theo những lời tuyên truyền của cộng sản. Sự can thiệp của bất cứ quân đội ngoại quốc nào vào Việt Nam cũng đem lại sự bất lợi cho Việt Nam, v́ làm cho cuộc chiến đấu của chúng ta mất chính nghiă”.
Và như chúng ta đă biết thái độ cương quyết từ chối này đă là nguyên nhân chính dẫn đến cuộc chính biến ngày 1 tháng 11 năm 1963 của một nhóm tướng lănh phản loạn và cái chết thê thảm của chính Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm và ông Cố vấn Ngô Đ́nh Nhu. Bài học lịch sử thật đắt giá, dă man và tàn bạo!!
Sự vĩnh viễn ra đi của Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă gây xúc động sâu xa và niềm thương cảm lớn lao nơi các lănh tụ Á Châu thời đó. Tổng Thống Trung Hoa Dân Quốc Tưởng Giới Thạch đă than thở: - “Người Mỹ có trách nhiệm nặng nề vụ ám sát xấu xa này. Trung Hoa Dân Quốc mất đi một đồng chí tâm đầu ư hợp. Tôi khâm phục ông Diệm. Ông xứng đáng là một lănh tụ lớn của Á Châu. Việt Nam có lẽ phải mất 100 năm nữa mới t́m được một nhà lănh tụ cao qúy như vậy”.
Hơn nữa, cái chết của Cố Tổng Thống Diệm cũng đă làm cho các lănh tụ Á Châu, đồng minh của Mỹ phải giật ḿnh và đặt vấn đề. Chính Tổng Thống Hồi Quốc, Ayub Khan, đă nói thẳng với Tổng Thống Nixon: - “Cuộc thảm sát Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm đă khiến các lănh tụ Á Châu chúng tôi rút ra được một bài học khá chua chát: Đồng Minh với Mỹ thật nguy hiểm! Có lợi hơn nên đứng thế trung lập. Và có lẽ hữu ích hơn nữa khi là kẻ thù của Hoa Kỳ”.
Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm có thể đă
phạm một số sai lầm khi cầm quyền. Nhưng bất cứ người nào, dù là
đồng minh như Hoa Kỳ hoặc đối thủ như CS, cũng phải công nhận rằng
Tổng Thống Diệm là một nhà lănh tụ nhiệt t́nh yêu nước, thương dân,
trong sạch, khí phách và không làm cho người dân Việt phải hổ thẹn,
v́ ông đă cố bảo vệ đến cùng thể diện và uy quyền quốc gia. Không
một gia đ́nh Việt Nam nào đă phải hy sinh quá nặng nề như thế cho
Dân Tộc, mất một lần bốn người con ưu tú: một v́ tay cộng sản và ba
v́ tay quốc gia!! Trên 46 năm qua, hai nấm mồ khiêm tốn của Tổng
Thống và ông Cố Vấn nằm quạnh hiu nơi nghĩa trang Lái Thiêu, tỉnh
B́nh Dương là một bài học lịch sử qúy giá cho thân phận nước nhược
tiểu đứng lên chống đế quốc, chống CS. Nhưng chắc chắn măi măi vẫn
là của lễ vô giá dâng trên Tổ Quốc.
- Người
Mỹ trầm lặng – The Quiet American (1955)
|