|
Đảo
Chánh
1-11-1963:
Ai Giết
Anh Em
Ông
Diệm?
Lê
Văn Bảy
(Nov
2008)
Lịch sử
Việt Nam
có nhiều
biến cố
quan
trọng.
Lịch sử
cận đại
có biến
cố 1
tháng 11
năm
1963,
được xem
là một
dấu mốc
đáng ghi
nhớ v́
nó mở
đầu cho
một sự
thay đổi
lớn lao
của đất
nước
Việt
Nam.
Ngày
này, 45
năm
trước,
các
tướng
lănh của
miền Nam
đă thành
công
trong
cuộc đảo
chánh
lật đổ
chính
quyền
Ngô Đ́nh
Diệm.
Cũng từ
đó, cuộc
chiến
chống
cộng sản
trở nên
khốc
liệt
hơn, rồi
cuối
cùng,
quân
cộng sản
Hà Nội
đă chiếm
trọn
Việt
Nam, đưa
cả nước
vào quỹ
đạo cộng
sản.
Hậu quả
là một
nước
Việt Nam
bị phá
sản toàn
diện, từ
kinh tế,
chính
trị đến
đạo đức,
giáo
dục, văn
hóa,...
Cái mốc
lịch sử
này được
ghi dấu
qua cuộc
ăn mừng
của cộng
sản Hà
Nội sau
khi nghe
tin tổng
thống
Ngô Đ́nh
Diệm bị
sát hại.
Ăn mừng
là v́
miền Nam
không
c̣n ai
là đối
thủ đáng
ngại
khiến
cho cộng
sản Hà
Nội tin
rằng họ
sẽ chiến
thắng.
Biến cố
lịch sử
này, thế
hệ lớn
lên sau
chính
biến
1-11 đă
có nhiều
người
thắc mắc
tại sao
hai ông
Ngô Đ́nh
Diệm và
Ngô Đ́nh
Nhu bị
sát hại
trong
chiếc xe
bọc
thép,
trên
đường
giải
giao về
Bộ Tổng
Tham
Mưu? Tại
sao, anh
em ông
Ngô Đ́nh
Diệm đă
đầu hàng
và chịu
nạp ḿnh
mà vẫn
bị thảm
sát?
Cuộc
thảm sát
này lại
được
thực
hiện mờ
ám trong
một
thiết
giáp
M-113.
Đă có
nhiều
tài liệu
nói về
cuộc
chính
biến này
được
công
khai
hóa, từ
những
thùng hồ
sơ của
cơ quan
t́nh báo
Hoa Kỳ
đến
những
hồi kư
của
những
người
trong
cuộc,
nhưng
vẫn c̣n
có những
điểm lờ
mờ quanh
cái chết
của hai
ông.
Khi ôn
lại diễn
biến của
sự kiện
1-11-1963,
người ta
vẫn gặp
phải câu
hỏi
thường
được đặt
ra trong
45 năm
qua: Ai
đă ra
lệnh
giết anh
em ông
Diệm?
Tại sao?
Ngay từ
ngày 3
tháng
11, năm
1963,
báo chí
ở Sài
G̣n đă
loan tải
theo lời
tuyên bố
của các
tướng
lănh đạo
cuộc đảo
chánh
nói
rằng,
hai ông
đă tự
vận
trong
chiếc xe
bọc sắt
M-113,
trong
lúc bị
giải
giao về
Bộ Tổng
Tham
Mưu.
Trong
các cuộc
họp báo,
chính
quyền
mới
không
thể giải
thích
tại sao
hai anh
em ông
Diệm bị
chết
trong
vũng máu
trên sàn
xe bọc
thép.
Người ta
cố t́nh
lờ đi
theo
kiểu chờ
cho thời
gian
biến cứt
trâu
thành
bùn để
xóa mờ
vụ này.
Một mặt,
chính
quyền sợ
dư luận
cho rằng
ḿnh làm
tay sai
cho Mỹ,
mà cũng
không
muốn để
cho Mỹ
bị mang
tiếng là
kẻ chủ
mưu về
cái chết
thảm của
hai ông
Diệm và
Nhu; cho
nên các
báo chí
thân
chính
quyền đă
có những
bài viết
cố t́nh
hướng
dẫn dư
luận sai
lệch
thật xa
sự thật.
Đôi khi
c̣n có
những
bài viết
thêu dệt
trắng
trợn về
những
con
đường
hầm dẫn
từ Dinh
Gia Long
ra đến
nhà thờ
Đức Bà,
hay từ
trong
dinh ra
đến phi
trường,...
có đến 7
đường
hầm bí
mật. Chỉ
với mục
tiêu
hướng
dẫn sai
lạc
trong dư
luận và
tô đậm
thêm
tính
cách tàn
ác của
hai anh
em ông
Diệm và
Nhu, để
rồi phải
chấp
nhận cái
chết của
hai ông
là hợp
lư. 45
năm sau,
báo Công
An của
cộng sản
Việt Nam
vẫn c̣n
sử dụng
những
bài viết
này để
tiếp tục
bôi nhọ
chế độ
Ngô Đ́nh
Diệm và
ghi tên
ông
Dương
Văn Minh
trong tự
điển
những
nhân vật
lịch sử
do cộng
sản Hà
Nội ấn
hành và
xuất bản
vào năm
2006.
Nhưng
rồi, 45
năm qua
người ta
vẫn phải
đối diện
với câu
hỏi: Ai
đă ra
lệnh
giết anh
em ông
Diệm?
Tại sao?
Mối
Hận Lâu
Năm Với
Anh Em
Ông Diệm
Tưởng
cũng cần
tóm lược
biến cố
chính
trị xảy
ra vào
ngày 1
tháng 11
năm
1963, đă
được nói
ngắn gọn
là chính
biến
1-11, và
một vài
dữ kiện
chung
quanh.
Năm
1954,
nước
Việt Nam
bị chia
đôi ở vĩ
tuyến
17; miền
Bắc theo
chủ
nghĩa
cộng
sản, cai
trị bởi
tập đoàn
Hồ Chí
Minh.
Miền Nam
theo chủ
nghĩa
Quốc Gia
dưới sự
lănh đạo
của Thủ
Tướng
Ngô Đ́nh
Diệm.
Một năm
sau, dân
chúng
miền Nam
tín
nhiệm
ông Ngô
Đ́nh
Diệm vào
chức vụ
Tổng
Thống và
ông Ngô
Đ́nh Nhu
được
tổng
thống
chọn làm
cố vấn
chính
trị.
Tổng
thống
Ngô Đ́nh
Diệm
tiếp thu
một vùng
đất từng
là thuộc
địa của
Pháp,
với các
phe phái
tôn
giáo,
chính
trị và
băng
đảng
trong xă
hội. Phe
phái nào
cũng có
lực
lượng vơ
trang và
thống
lĩnh một
vùng đất
làm
giang
sơn
riêng
biệt.
Những
biệt
danh
nghe
quen
thuộc
như Bảy
Viễn,
Năm Lửa,
Ba
Cụt,...
là những
vị tướng
lănh đạo
các lực
lượng vơ
trang
này,
trong đó
có cả
giáo
phái
Phật
Giáo Ḥa
Hảo,...
Trong
cương vị
lănh
đạo, ông
Diệm
nhận
trọng
trách
củng cố
t́nh
h́nh
chính
trị xă
hội và
xây dựng
quân đội
cho miền
Nam để
sẵn sàng
đối đầu
với cuộc
xâm lăng
của cộng
sản Hà
Nội.
Ngoài
ra, gánh
nặng của
chính
phủ c̣n
phải lo
cho gần
một
triệu
người di
cư tỵ
nạn cộng
sản,
chạy từ
Bắc vào
Nam cần
được
chính
phủ lo
nơi ăn
chốn ở.
Các lực
lượng vơ
trang
chống
chính
phủ, có
nhóm
chịu về
hợp tác
với
chính
phủ và
cũng có
lực
lượng
chấp
nhận đối
đầu và
cuối
cùng bị
quân đội
đánh
tan.
Trong
hai năm
1954 và
1955,
chính
phủ Ngô
Đ́nh
Diệm đă
mạnh tay
giải
quyết
vấn đề
phe
phái,
nhưng
cũng
chuốc
lấy
nhiều
oán thù.
Ngay
trong
giới
lănh đạo
quân đội
của miền
Nam cũng
có nhiều
người
thù ghét
ông Diệm
v́ hoặc
không
được tin
dùng,
hoặc bị
ngoại
nhân mua
chuộc,
trở
thành
thế lực
nguy
hiểm cho
chế độ
nhà Ngô.
Ngay từ
những
ngày đầu
của chế
độ Đệ
Nhất
Cộng Ḥa
ở miền
Nam, ông
Diệm đă
gặp sự
chống
đối của
Trung
Tướng
Nguyễn
Văn
Hinh,
Tổng
Tham Mưu
Trưởng
Quân Đội
Quốc Gia
Việt
Nam.
Nhiều sĩ
quan ở
Bộ Tổng
Tham Mưu
bị ông
Hinh
thuyết
phục
thành
lập lực
lượng
chống
ông
Diệm,
phần lớn
là những
người
được
quân đội
Pháp đào
tạo.
Tháng 11
năm
1954,
qua sự
can
thiệp
của Mỹ,
quốc
trưởng
Bảo Đại
ra lệnh
cho
tướng
Nguyễn
Văn Hinh
phải rời
Việt
Nam, và
trung tá
Dương
Văn
Minh,
sau đó
được
thăng
lên đại
tá, là
người
được Mỹ
tin
dùng,
đưa ra
hợp tác
với
chính
phủ Ngô
Đ́nh
Diệm để
ổn định
xă hội
miền
Nam.
Tháng
Ba, năm
1955,
tướng Lê
Văn
Viễn,
tức Bảy
Viễn
không
thương
lượng
được với
ông Diệm
để cho
B́nh
Xuyên
kiểm
soát các
ṣng bài
ở Sài
G̣n, nên
đă ra
lệnh tấn
công vào
các đồn
cảnh sát
ở Sài
G̣n. Đây
cũng là
ngày bắt
đầu cuộc
càn quét
thẳng
tay của
quân đội
quốc gia
dưới sự
chỉ huy
của đại
tá Dương
Văn
Minh.
Ông Minh
được sự
hợp tác
của các
sĩ quan
thâm
niên
trong
binh
chủng
Nhảy Dù.
Thanh
toán
xong
B́nh
Xuyên,
ông tiếp
tục cuộc
hành
quân
xuống
đến miền
Tây Nam
Bộ, băng
qua các
vùng
śnh lầy
đến tận
biên
giới Cao
Miên,
truy
lùng
quân
kháng
chiến
Ḥa Hảo,
là lực
lượng mà
cả Pháp
lẫn cộng
sản
không
thể nào
đánh hạ
được.
Ông Minh
và ông
Nguyễn
Ngọc Thơ
đánh lừa
và bắt
được
tướng Lê
Quang
Vinh,
tức Ba
Cụt của
Ḥa Hảo.
Tướng Ba
Cụt bị
xử tử
bằng máy
chém, mà
những
người
theo đạo
Phật
Giáo Ḥa
Hảo
không
thể nào
quên mối
hận này.
Tuy
nhiên,
ông Minh
luôn tỏ
ra là
một quân
nhân,
ông
không hề
bận tâm.
Lập công
xong,
ông Minh
chờ đợi
được
thăng
thưởng
nhưng
không
được như
ư muốn.
Kư giả
người
Pháp,
Pierre
Darcourt
viết
trong
sách
Vietnam,
Qua'as-tu
Fait De
Tes
Fils?:
"Minh,
qui est
un tres
bon
combattant,
mais
vénal,
pas très
intelligent
et
surtout
n'entendant
rien à
la
politique..."
(ông
Minh là
người
đánh
giặc
giỏi
nhưng dễ
bị mua
chuộc,
không
thông
minh lắm
và nhất
là không
biết ǵ
nhiều về
chính
trị...).
Pierre
Darcourt
kể lại
lời nhận
xét của
ông Nhu
nói với
ông Diệm
và cản
không
cho ông
Diệm cất
nhắc ông
Minh ở
chức vụ
cao hơn.
Từ ấy
cho đến
năm
1959,
vai tṛ
ông Minh
ngày
càng lu
mờ. Ông
Minh
được cử
làm sĩ
quan
thanh
tra các
Quân
Đoàn I
và II
(miền
Trung và
Cao
Nguyên), nhưng
ông vẫn
ngồi ở
Sài G̣n
v́ cho
rằng ông
Ngô Đ́nh
Cẩn
(em
ông
Diệm) làm hết
rồi.
Cuộc
binh
biến năm
11-11-
1960 các
sĩ quan
Nhảy Dù
lănh đạo
cuộc đảo
chánh có
đến mời
ông Minh
nhưng
ông Minh
từ chối.
Vụ này
thất bại
và những
người
chủ mưu
đă chạy
sang Cao
Miên để
lánh
nạn. Năm
1961,
ông nhận
chức vụ
Tư Lệnh
Hành
Quân,
cũng chỉ
là tượng
trưng.
Năm
1963,
ông được
chỉ định
làm Cố
Vấn Quân
Sự Phủ
Tổng
Thống,
cũng vẫn
là chức
vụ ngồi
chơi rồi
đi đánh
tennis.
Pierre
Darcourt,
kư giả
người
Pháp,
sinh ra
ở Việt
Nam,
phục vụ
trong
binh
chủng
Nhảy Dù
của Pháp
đánh
giặc ở
Việt
Nam. Năm
1954,
bắt đầu
bước vào
làng báo
với tư
cách
phóng
viên
chiến
trường,
có mặt
trên
khắp
vùng
chiến
thuật
cho đến
ngày chế
độ Việt
Nam Cộng
Ḥa bị
bứt tử.
Ông ghi
lại nhận
xét của
ông cố
vấn Ngô
Đ́nh Nhu
về tướng
Dương
Văn
Minh:
"Il a la
force
d'un éléphant
mais la
cervelle
d'un
oiseau-mouche."
(Anh ta
có sức
như một
con voi,
nhưng có
bộ óc
con chim
sâu).
Ông Minh
chờ đợi
được
ngồi vào
ghế thay
thế
tướng Lê
Văn Tỵ
là Tổng
Tham Mưu
Trưởng
Quân
Đội,
nhưng
tướng
Trần Văn
Đôn lại
được cử
làm
quyền
Tổng
Tham Mưu
Trưởng
Quân Đội
khi đại
tướng Lê
Văn Tỵ
xuất
ngoại để
chữa
bệnh.
Được
mệnh
danh là
anh hùng
rừng Sát
nhưng
sao bảo
là không
đủ khả
năng.
Ông
Dương
Văn Minh
coi đây
là mối
nhục.
Ngay từ
những
năm của
thập
niên 50
và 60,
các vị
lănh đạo
trong
quân đội
cũng đă
nói, ông
Minh
chưa bao
giờ cầm
quân
đánh
cộng sản
mà chỉ
đánh các
giáo
phái mà
thôi.
Điều này
được nói
rơ ràng
hơn
trong
cuộc
phỏng
vấn trên
đài
truyền
h́nh
Little
Saigon
TV ở
miền Nam
California,
vào năm
2001.
Tướng
Khánh
nói
rằng:
"...Ông
Dương
Văn Minh
là người
miền Nam
duy nhất
ủng hộ
ông Diệm
xuyên
qua ông
Nguyễn
Ngọc
Thơ. Khi
đưa ông
Minh lên
tới
trung
tướng mà
không
làm ǵ
hết,
không
biết để
ổng ở
đâu. Ông
Dương
Văn Minh
không có
đánh
cộng sản
một
ngày..."
Biến
Cố
1-11-1963
Tài liệu
của
Trung
Ương
T́nh Báo
Hoa Kỳ
(CIA),
trong
những
phần đă
giải mật
có xác
nhận chế
độ Ngô
Đ́nh
Diệm cản
trở
chương
tŕnh
của Mỹ
tại Đông
Dương.
Chính
phủ Hoa
Kỳ đă có
ư định
thiết
lập một
chế độ
Cộng Ḥa
không có
ông
Diệm.
Mỗi năm,
báo của
VC vẫn
lải nhải
lên án
Tướng
Trần
Thiện
Khiêm
nhận
lệnh của
Mỹ từ
Washington,
giết anh
em ông
Diệm rồi
đổ cho
tướng
Dương
Văn
Minh.
Báo Công
An của
VC số ra
ngày 17
tháng
Sáu,
2008,
vẫn c̣n
lải
nhải,
đăng bài
nhiều
kỳ, xào
đi nấu
lại,
viết
rằng:
"Theo kế
hoạch đă
định,
tướng
Minh Lớn
lên làm
chủ tịch
cái gọi
là Hội
đồng
cách
mạng.
Dinh Gia
Long,
nơi anh
em Diệm
- Nhu
đang trú
ngụ, bị
quân đảo
chính
bao vây.
Rất
nhiều
viên
tướng,
kể cả
tướng
Minh Lớn
và tướng
Đôn, đă
phải đôn
đáo vào
gặp
tướng
Khiêm
tại đó.
Có những
nguồn
tin cho
rằng,
cùng ở
đó với
tướng
Khiêm là
Trung tá
CIA
Conein...
...
Nên tới
6h45',
Ngô Đ́nh
Diệm đă
gọi điện
thoại
đến cho
tướng
Khiêm và
thông
báo
rằng,
ông ta
đang
cùng Ngô
Đ́nh Nhu
ẩn náu
tại nhà
thờ cha
Tam
thuộc
khu vực
Chợ Lớn
và yêu
cầu đem
xe đến
đưa về
Bộ Tổng
tham mưu
gặp
tướng
Minh Lớn
và tướng
Đôn, mà
ông ta
cho là
chủ mưu
đảo
chính để
điều
đ́nh.
Ngô Đ́nh
Diệm đă
không
ngờ
rằng,
chính
Trần
Thiện
Khiêm
theo
lệnh từ
Washington
đă kín
đáo ra
lệnh cho
thuộc hạ
hạ sát
anh em
Diệm -
Nhu trên
đường.".
Vào
tháng
Mười
Một, năm
2003,
đánh dấu
40 năm
cuộc đảo
chánh
1-11-1963,
tiến sĩ
John
Prados
đă cho
xuất bản
tài liệu
"JFK
and the
Diem
Coup". Tài liệu
này có
đầy đủ
các đoạn
băng thu
âm thanh
cũng như
các công
điện ghi
lại
những
diễn
biến
trong
thời
gian
cuộc đảo
chánh
xảy ra.
Tài liệu
bao gồm
các đoạn
âm thanh
của các
buổi họp
bí mật
tại Ṭa
Bạch Ốc,
giữa
Tổng
thống
Kenedy
và các
nhân
viên cố
vấn Tổng
thống;
các cuộc
điện đàm
với Tổng
thống
Kenedy
ngay sau
khi cuộc
đảo
chánh
kết
thúc.
Những
tài liệu
này đă
được
giải mă
sau 40
năm,
theo
nguyên
tắc của
chính
phủ Hoa
Kỳ. Tiến
sĩ
Prados
đă chứng
minh
chính
phủ Hoa
Kỳ có ư
muốn t́m
người
thay thế
ông
Diệm,
nhưng
không
bao giờ
có ư
định sát
hại anh
em ông
Diệm.
Dưới mắt
Hoa Kỳ,
sau khi
cộng sản
Hà Nội
cho ra
đời Mặt
Trận
Giải
Phóng
Miền Nam
th́ Việt
Nam Cộng
Ḥa sẽ
gặp khó
khăn
trên mặt
trận du
kích
cũng như
chính
trị. Mỹ
muốn
tiếp tục
viện trợ
quân sự
cho miền
Nam với
điều
kiện
phải đổ
quân Mỹ
và đồng
minh vào
miền Nam
để can
thiệp
trực
tiếp,
với các
vũ khí
tối tân
hơn.
Tháng
Sáu năm
1963,
tướng
Trần Văn
Đôn và
Dương
Văn Minh
được
tham dự
cuộc
biểu
diễn các
vũ khí
mới của
Mỹ tại
Thái
Lan,
càng
khiến
hai ông
cảm thấy
quân đội
Việt Nam
lạc hậu
cần phải
cải
thiện
mới
đương
đầu được
với cộng
sản.
Trong
khi ấy,
Tổng
thống
Ngô Đ́nh
Diệm
nhất
định
chống
đối ư
kiến này
với lư
do nếu
cho phép
quân đội
đồng
minh đổ
quân vào
Việt Nam
th́ cả
khối
cộng sản
sẽ mượn
cớ để
leo
thang
chiến
tranh,
và miền
Nam mất
chính
nghĩa.
Sau khi
chính
phủ Ngô
Đ́nh
Diệm
được
thiết
lập, tại
miền Nam
sinh ra
các phe
cánh
chống
đối
chính
phủ.
Trong đó
có các
giáo
phái Cao
Đài,
Phật
Giáo,
Phật
Giáo Ḥa
Hảo,...
cũng như
các
chính
đảng như
Đại Việt
và Việt
Nam Quốc
Dân
Đảng.
Lại thêm
có xung
đột giữa
Phật
Giáo và
Công
Giáo.
Đối với
Hoa Kỳ,
không có
đối lập
là không
có dân
chủ. Đó
là khẩu
hiệu để
Hoa Kỳ
và các
thế lực
chống
đối
chính
phủ đ̣i
hỏi Tổng
thống
Ngô Đ́nh
Diệm
phải
chấp
nhận
sinh
hoạt đối
lập tại
chính
trường
miền Nam
. Ông
Diệm
không
tán
thành
đối lập
theo
kiểu Mỹ.
Cho nên,
chỉ c̣n
một cách
duy nhất
là ông
Diệm và
chính
phủ của
ông phải
ra đi.
Các
tướng
lănh
miền Nam
và các
viên
chức
ngoại
giao Hoa
Kỳ gặp
nhau ở
một điểm
là loại
bỏ ông
Diệm.
Nhưng,
một số
tướng
lănh lợi
dụng cơ
hội để
rửa mối
thù
riêng
tư.
Trong đó
có tướng
Dương
Văn
Minh.
Đoàn
Xe An
Ninh Hộ
Tống Anh
Em Ông
Diệm
Ngày 1
tháng
11-1963
được
định là
ngày N
của cuộc
đảo
chánh.
Các
tướng
lănh
được
triệu
tập về
Bộ Tổng
Tham Mưu
để họp.
1 giờ 30
trưa,
tướng
Dương
Văn Minh
nhân
danh Chủ
Tịch Hội
Đồng
Quân
Nhân
Cách
Mạng,
tuyên bố
đảo
chánh và
bắt đầu
và hỏi
từng sĩ
quan có
mặt. Đại
Tá Cao
Văn
Viên,
Chỉ Huy
Trưởng
Lữ Đoàn
Dù và
Đại Tá
Lê Quang
Tung, Tư
Lệnh Lực
Lượng
Đặc Biệt
từ chối
không
theo
nhóm đảo
chánh.
Cả hai
ông đều
bị quân
cảnh
c̣ng tay
đem nhốt
trong
một căn
pḥng
tại Bộ
Tổng
Tham
Mưu.
Cùng bị
nhốt
chung
với hai
vị đại
tá này
có Trung
Tá
Nguyễn
Ngọc
Khôi, Tư
Lệnh Lữ
Đoàn
Liên
Binh
Pḥng Vệ
Phủ Tổng
Thống,
Đại tá
Huỳnh
Hữu
Hiền, Tư
Lệnh
Không
Quân,
Trung Tá
Nguyễn
Văn
Thiện,
Chỉ Huy
trưởng
Thiết
Giáp
Binh và
Đại Tá
Trần Văn
Trung,
Tùy viên
Quân sự
ở Pháp
từ Paris
vừa mới
về
nuớc...
Tối ngày
1 tháng
11,
thành
Cộng Ḥa
đầu
hàng,
quân đảo
chánh
khám phá
hai anh
em ông
Diệm-Nhu
không có
mặt
trong
dinh.
Các
tướng
lănh bắt
đầu lo
lắng.
Cũng tối
hôm ấy
Đại Tá
Lê Quang
Tung, Tư
Lệnh Lực
Lượng
Đặc
Biệt, và
em trai
của ông
là Thiếu
Tá Lê
Quang
Triệu,
Tham Mưu
Trưởng
Lực
Lượng
Đặc Biệt
bị đem
ra nghĩa
trang
cạnh Bộ
Tổng
Tham Mưu
bắn
chết.
Chưa có
tài liệu
cho biết
chính
xác ai
đă ra
lệnh xử
tử hai
vị sĩ
quan
này. Đại
Tá Hồ
Tấn
Quyền,
Tư Lệnh
Hải Quân
cũng bị
thủ tiêu
mờ ám ở
rừng cao
su Thủ
Đức.
Khoảng 5
giờ sáng
ngày 2
tháng
11, tùy
viên của
ông Diệm
điện
thoại từ
nơi trú
ẩn của
hai ông,
ở Chợ
Lớn gọi
về Bộ
Tổng
Tham Mưu
để điều
đ́nh
nhưng
không
thành. 6
giờ sáng
lại có
một cú
điện
thoại
khác,
cũng từ
Chợ Lớn
gọi về
cho biết
hai ông
đang ở
nhà thờ
Cha Tam
và chấp
nhận về
Bộ Tổng
Tham Mưu
để cùng
thảo
luận với
các
tướng
lănh.
Đây là
cú điện
thoại
được xem
là hai
ông chấp
nhận đầu
hàng,
yêu cầu
đem xe
đến đón.
Đúng vào
lúc này,
đoàn xe
thiết
giáp do
thiếu tá
Dương
Hiếu
Nghĩa
chỉ huy
đến Dinh
Gia Long
để đón
hai anh
em ông
Diệm
nhưng
hai ông
không có
ở đó, và
đă trở
về đến
sân cờ
Bộ Tổng
Tham
Mưu.
Thiếu tá
Nghĩa
được yêu
cầu cho
đoàn xe
hướng về
nhà thờ
Cha Tam
ở Chợ
Lớn để
"bắt hai
ông đem
về đây",
theo
lệnh của
tướng
Dương
Văn
Minh.
Trước
đó,
tướng
Mai Hữu
Xuân và
Đại Tá
Dương
Ngọc Lắm
cũng đă
nhận
lệnh từ
Tướng
Dương
Văn Minh
đi "đón
hai ông"
về Bộ
Tổng
Tham
Mưu.
Thiếu tá
Dương
Hiếu
Nghĩa,
sau này
là Đại
tá, đơn
vị sau
cùng là
Ủy Ban
Liên
Hiệp
Quân Sự
Bốn Bên,
hiện nay
đă xuất
gia, tu
ở một
chùa tại
miền Nam
California,
Hoa Kỳ.
Cuối
tháng
Tám, năm
2008,
trong
một dịp
gặp gỡ,
ông đă
tuần tự
kể lại
diễn
biến của
chuyến
"an ninh
hộ tống"
mà ông
chịu
trách
nhiệm từ
nhà thờ
Cha Tam
về Bộ
Tổng
Tham
Mưu. Ông
Nghĩa
c̣n cho
biết,
chính
ông đă
bảo lănh
cho
Trung tá
Nguyễn
Văn
Thiện,
thượng
cấp của
ông, và
đề nghị
để ông
ngồi ở
Bộ Chỉ
Huy Lưu
Động
Thiết
Giáp
Binh,
đặt ở
lầu dưới
Bộ Tổng
Tham
Mưu. Đại
tá Cao
Văn Viên
(sau này
là Đại
tướng) về sau
cũng cho
biết,
nhờ các
sĩ quan
bạn hữu
của ông
bảo lănh
nên ông
không bị
thanh
toán bởi
nhóm
tướng
lănh đảo
chánh.
Đoàn xe
gồm có
xe Quân
Cảnh đi
đầu mở
đường,
rồi đến
xe Jeep
do thiếu
tá Dương
Hiếu
Nghĩa
cầm lái
và đại
úy Phan
Ḥa Hiệp
(sau này
là Chuẩn
Tướng) ngồi ghế
bên
phải.
Băng ghế
sau là
tài xế
và người
lính
truyền
tin. Xin
mở dấu
ngoặc ở
đây để
giải
thích
thêm về
chiếc xe
này. Ông
Dương
Hiếu
Nghĩa
thường
cầm lái
xe Jeep
trong
lúc sử
dụng
quân xa
đi công
tác, và
bảo tài
xế ra
ngồi ở
băng
sau.
Trên xe,
hệ thống
truyền
tin đặc
biệt có
thể liên
lạc với
Bộ chỉ
huy lưu
động
Thiết
Giáp
Binh và
các
thiết
vận xa
trong
đoàn. Hệ
thống
này cũng
liên lạc
trên các
tầng số
của Bộ
Binh v́
trong
đoàn xe
có lính
bộ binh
tùng
thiết,
và với
Bộ Tổng
Tham
Mưu.
Trung tá
Nguyễn
Văn
Thiện có
mặt ở bộ
chỉ huy
lưu động
Thiết
Giáp
Binh
cũng
được
theo dơi
chuyến
di hành
của
trung
đội
Thiết
Giáp an
ninh hộ
tống, do
thiếu tá
Dương
Hiếu
Nghĩa
điều
động.
Theo sau
xe Jeep
của
thiếu tá
Nghĩa là
hai
chiếc xe
Jeep của
tướng
Mai Hữu
Xuân và
đại tá
Dương
Ngọc
Lắm. Sau
đó là 4
chiếc
thiết
vận xa
M-113,
chiếc
thứ ba
được
dùng để
chở hai
anh em
ông
Diệm. Kế
tiếp là
xe vận
chuyển
lính bộ
binh
tùng
thiết và
sau cùng
là chiếc
thiết
vận xa
M-113,
có mặt
trung
đội
trưởng.
Trước
khi đoàn
xe lên
đường,
đại úy
Nguyễn
Văn
Nhung có
đến gặp
thiếu tá
Nghĩa để
xin tháp
tùng
theo
đoàn xe,
và đă
lên
thiết
vận xa
số 3.
Đại úy
Nhung là
cận vệ
của
trung
tướng
Dương
Văn Minh
được
lệnh đi
theo
đoàn xe
vào Chợ
Lớn với
công tác
đặc
biệt.
Đến
trước
nhà thờ
Cha Tam,
đại úy
Phan Ḥa
Hiệp
giúp
thiếu tá
Nghĩa
điều
động
đoàn xe,
quay đầu
hướng về
Bộ Tổng
Tham Mưu
và sắp
đội h́nh
theo thứ
tự như
lúc đến.
Chiếc
thiết
giáp thứ
3 đậu
sát lề
phía
trước
cổng nhà
thờ, cửa
phía sau
được hạ
xuống để
chuẩn bị
cho Tổng
thống và
ông Cố
Vấn vào
trong
xe.
Cổng lớn
nhà thờ
vẫn
đóng,
giáo dân
lác đác
đi lễ
sớm,
ngang
qua cổng
nhỏ.
Thiếu tá
Dương
Hiếu
Nghĩa
tháo
súng
ngắn ra
trước
khi đi
vào
khuôn
viên nhà
thờ, đi
qua cổng
nhỏ bước
vào sân
nhà thờ
để đón
Tổng
thống
Diệm và
ông Cố
Vấn. Lúc
này hai
ông đă
ra đứng
ở thềm
nhà thờ.
Ông
Nghĩa
cho
biết,
đáng lẽ
tướng
Mai Hữu
Xuân
hoặc đại
tá Dương
Ngọc Lắm
phải là
người
vào nhà
thờ để
đón Tổng
thống và
ông Cố
Vấn,
nhưng
hai ông
không
vào nên
thiếu tá
Nghĩa
bất đắc
dĩ trở
thành
người đi
đón Tổng
thống.
Thiếu tá
Nghĩa
đến
trước
Tổng
thống
chào
kính
theo
kiểu
cách
quân đội
và mời
hai ông
ra xe.
Hai anh
em ông
Diệm
bước
xuống
thềm rồi
tiếp đến
là hai
tùy viên
và sau
cùng là
thiếu tá
Nghĩa
tuần tự
hướng
đến
cổng,
bước ra
khỏi
khuôn
viên nhà
thờ qua
cổng
nhỏ.
Đại úy
Nguyễn
Văn
Nhung
cùng với
thiếu
tướng
Mai Hữu
Xuân đă
đứng ở
cửa xe
thiết
giáp mở
cửa chờ
sẵn. Ông
Cố Vấn
Ngô Đ́nh
Nhu hỏi
xe nào
để đưa
Tổng
thống và
phản đối
dùng xe
thiết
giáp để
đưa hai
ông về
Bộ Tổng
Tham
Mưu.
Thiếu
tướng
Mai Hữu
Xuân lấy
chiếc
cặp da
của Tổng
thống
Diệm từ
tay tùy
viên Đỗ
Thọ rồi
quay về
xe
riêng.
Đại úy
Nhung đă
ép buộc
Tổng
thống
Ngô Đ́nh
Diệm và
ông Cố
Vấn Ngô
Đ́nh Nhu
vào
trong
chiếc xe
thiết
giáp
M-113,
rồi cùng
vào
trong
chiếc xe
này. Cửa
đóng và
tất cả
xe
chuyển
bánh
theo vị
trí đă
định,
hướng về
Bộ Tổng
Tham
Mưu.
Lộ tŕnh
từ nhà
thờ Cha
Tam chạy
đến đại
lộ Cộng
Ḥa th́
rẽ trái,
đi qua
ngă sáu
rồi rẽ
vào đại
lộ Hồng
Thập Tự.
Đến cổng
xe lửa
số 6 th́
đoàn
công-voa
phải
ngừng
lại v́
cổng đă
hạ xuống
chặn lại
để xe
lửa chạy
qua.
Trong
lúc đoàn
xe đang
ngừng
th́ có
tiếng
súng nổ.
Thiếu tá
Nghĩa
quay đầu
xe Jeep
lại,
chạy dọc
theo
đoàn xe
đi ngược
về phía
sau. Đến
chiếc
thiết
giáp thứ
ba th́
thấy đại
úy Nhung
ngồi
trên nóc
xe, đưa
ngón tay
cái lên
có ư nói
mọi
chuyện
tốt đẹp.
Thiếu tá
Nghĩa
hỏi
tiếng
súng nổ
ở đâu?
Đại úy
Nhung
đưa tay
chỉ vào
trong xe
nhưng
không
nói ǵ.
Lúc ấy
cũng
đúng lúc
đoàn xe
lửa đă
chạy
qua,
cổng
được dở
lên, nên
thiếu tá
Nghĩa
quay xe
trở lại
để đoàn
xe tiếp
tục chạy
về Bộ
Tổng
Tham
Mưu.
Trung
đội
trưởng
Thiết
Giáp báo
cáo với
thiếu tá
Nghĩa
qua hệ
thống
truyền
tin
rằng,
phụ tài
xế thiết
vận xa
thứ ba
có báo
cáo
tiếng
súng nổ
đó là do
ông đại
úy bộ
binh bắn
chết
Tổng
thống
Diệm và
ông Cố
Vấn Nhu.
Thiếu tá
Nghĩa và
đại úy
Hiệp đều
nghe
biết vụ
này qua
hệ thống
truyền
nhưng
chưa báo
cáo với
Bộ Tổng
Tham
Mưu.
Về đến
sân cờ
của Bộ
Tổng
Tham
Mưu,
chiếc
thiết
vận xa
số ba
được
canh gác
cẩn thận
không
cho ai
đến gần
và không
cho chụp
h́nh.
Khi nghe
đoàn xe
về đến
Bộ Tổng
Tham
Mưu, các
tướng
lănh đi
ra, đi
đầu là
trung
tướng
Dương
Văn
Minh,
gặp
thiếu
tướng
Mai Hữu
Xuân đưa
tay chào
và nói:
"Mission
accomplie!".
Tướng
Minh
chưa nói
ǵ th́
tướng
Khiêm
phía sau
hỏi
chuyện
ǵ xảy
ra?
Tướng
Minh trả
lời:
"Hai ổng
chết
rồi".
Trong
vài câu
đối
thoại
ngắn
ngủn ấy,
ai cũng
chú ư
đến câu
nói của
tướng
Mai Hữu
Xuân:
"Mission
accomplie!"
(sứ mạng
hoàn
thành!).
Tướng
Mai Hữu
Xuân
nhận
lệnh và
đă thi
hành
hoàn
đúng như
yêu cầu
của
người ra
lệnh,
cho nên
mới nói:
sứ mạng
hoàn
thành.
Tướng
Nguyễn
Khánh
Chỉnh Lư
Mấy
tháng
sau đó,
tướng
Nguyễn
Khánh
cùng với
tướng
Trần
Thiện
Khiêm
thực
hiện
cuộc
"chỉnh
lư", bắt
các
tướng
đảo
chánh
nhốt ở
Đà Lạt.
Trong
cuộc
phỏng
vấn trên
truyền
h́nh của
Little
Saigon
hồi năm
2001,
tướng
Nguyễn
Khánh kể
lại:
"Lúc đó,
chúng
tôi họp
trên Đà
Lạt 3
ngày 2
đêm, để
xử mấy
ông
Tướng Đà
Lạt, th́
xử ông
Dương
Văn Minh
luôn, có
lời khai
tất cả.
Ông
Dương
Văn Minh
đă thú
thật với
Hội Đồng
chúng
tôi,
chính
ổng đưa
hai ngón
tay thế
này cho
thằng
sát thủ
của ổng
là thằng
đại úy
Nhung.
Các
tướng
lănh họp
lúc đó
đang bàn
căi về
số phận
hai ông
về phải
ở đâu,
phải làm
ǵ...
Tại sao
ông Minh
Dương ra
dấu cho
thằng
Nhung nó
làm, nó
thi hành
cái mưu
sát đó,
mà nó
thi hành
một cách
mọi rợ.
Tui nói
ra th́
khó
lắm...
Tui nói
ra th́
thế giới
nói dân
tộc ḿnh
sống như
thời ăn
lông ở
lỗ, ḿnh
không
nói
được...
Nhưng mà
v́ sao
ổng
giết. Mà
người ta
vẫn biết
ông Minh
hiền từ,
bon
papa,...
nhưng
mặt
trong
của ông
Dương
Văn Minh
ghê tởm
lắm. Chú
thi hành
chuyện
đó là
đại úy
Nhung.
Trong
cuộc
Chỉnh
Lư, sáng
lại tui
giao
sinh
mạng ông
Nhung
cho ông
Cao Văn
Viên, v́
là Nhảy
Dù mà.
Tôi
nói với
anh Viên
rơ ràng
là anh
phải giữ
mạng
sống của
anh này,
v́ anh
này biết
nhiều
chuyện
làm của
ông
Dương
Văn
Minh, từ
hồi Rừng
Sác, lấy
tiền làm
sao, đưa
cho ông
Diệm ông
Nhu bao
nhiêu,
giữ lại
bao
nhiêu,
và chú
này giết
thằng
Paul là
thằng
con của
ông Bảy
Viễn đó.
Mấy ông
Tàu ở
Chợ Lớn
đó, làm
tiền này
kia làm
sao, làm
sao,...
th́
thằng
Nhung nó
biết
hết.
Ḿnh
muốn
thằng
Nhung là
một nhân
chứng nó
nói cái
chuyện
hiểu
biết của
nó.
Nhưng
mà sáng
lại th́
nghe nói
là thằng
Nhung
dùng dây
giày
thắt cổ
chết.
Chuyện
đó không
phải như
vậy. Đó
là một
bí ẩn
khác
nữa...
Tôi đă
nói với
người Mỹ
biết
chuyện
đó rồi.
Quyết
định
giết là
ông
Dương
Văn
Minh.
Tại Sao?
V́ cái
thù
riêng
của ông
Dương
Văn Minh
với gia
đ́nh họ
Ngô".
Trong
biến cố
1-11,
không
chỉ Tổng
thống
Ngô Đ́nh
Diệm và
ông Cố
Vấn Ngô
Đ́nh Nhu
bị chết
thảm và
mờ ám,
mà c̣n
các vị
Tư Lệnh
Hải
Quân, Tư
Lệnh Lực
Lượng
Đặc
Biệt,
Tham Mưu
Trưởng
Lực
Lượng
Đặc
Biệt.
Ngoài
ra, Tư
Tệnh
Không
Quân,
Chỉ Huy
Trưởng
Thiết
Giáp
Binh,
Chỉ Huy
Trưởng
Lữ Đoàn
Dù,...
nhờ sự
bảo trợ
của bạn
bè nên
đă thoát
chết
thảm.
Đảo
Chánh Để
Đầu Hàng
Cộng Sản
Ông
Dương
Văn Minh
có người
em ruột
tên là
Dương
Thanh
Nhật, sĩ
quan cao
cấp
trong
quân đội
của cộng
sản Hà
Nội. V́
yếu tố
này mà
nhiều
người
tin rằng
ông có
thể
thương
thuyết
với Hà
Nội để
t́m giải
pháp ḥa
b́nh và
tránh đổ
máu, nên
cuối
tháng Tư
năm
1975,
quốc hội
Việt Nam
đă buộc
ông tổng
thống
Trần Văn
Hương
trao
quyền
Tổng
thống
cho
tướng
Dương
Văn
Minh.
Cuối
cùng,
ông Minh
đầu hàng
cộng
sản.
Không có
tắm máu
ở miền
Nam,
nhưng số
người
chết v́
cộng
sản, sau
khi cộng
sản
chiếm
miền Nam
th́ vô
số.
Người ta
bị cộng
sản thủ
tiêu, bị
đầy đi
rồi chết
dần ṃn
ở vùng
rừng
thiêng
nước độc
gọi là
kinh tế
mới. Tất
cả quân
cán
chính bị
tù và bị
đầy đi
thật xa;
rất ít
người
trở về.
Những
cuộc thủ
tiêu kín
đáo để
đoạt tài
sản.
Nhiều
người bỏ
thây
trên
đường
vượt
biên,
vượt
biển.
Nhiều
người
tiếp tục
kháng cự
đă hy
sinh...
Một cuộc
tắm máu
trắng
không ai
có thể
kiểm
chứng
được.
H́nh như
ông
Dương
Văn Minh
không hề
lưu tâm.
Năm 2006
vừa qua,
Hà Nội
cho xuất
bản cuốn
tự điển
tựa đề
"Từ
điển
nhân vật
lịch sử
Việt
Nam",
ở trang
143,
cộng sản
Hà Nội
ghi tên
ông
Dương
Văn Minh
vào đây.
Cũng là
câu trả
lời v́
sao Hà
Nội
không
lăng
nhục ông
Dương
Văn Minh
như
những vị
lănh đạo
khác của
miền
Nam.
Sách Gọng Ḱm
Lịch Sử
(bản
tiếng
Anh có
tựa là
In the
Jaws of
History)
của Bùi
Diễm
viết
rằng:
"Sau
ngày đảo
chánh,
tôi tới
nhà anh
Kim ăn
cơm tối,
yên trí
rằng có
nhiều
chuyện
để nói.
Tiếng
súng bên
ngoài
c̣n lác
đác,
nhưng
hai anh
em ông
Diệm đă
chết,
không ai
nghĩ là
t́nh thế
có thể
đảo
ngược
trở lại.
Câu
chuyện
của
chúng
tôi
hướng
ngay vào
những
vấn đề
trước
mắt, tất
nhiên có
sự thành
lập
chính
phủ mới.
Tôi
hỏi
tướng
Kim là
Hội Đồng
Quân
Nhân đă
có chủ ư
mời ai
đứng ra
làm Thủ
Tướng?
Tướng
Kim trả
lời tôi
một cách
ngắn gọn:
"Ông Thơ!"
(Vào lúc
đảo
chính,
ông
Nguyễn
Ngọc Thơ
vẫn c̣n
là đương
kim Phó
Tổng
Thống).
Thật là
một gáo
nước
giội lên
đầu tôi,
làm tôi
bật ngửa
người.
Tôi hỏi
rơ lại
xem có
nghe
nhầm
không?
Rồi
không
giữ được
b́nh
tĩnh,
tôi nói
luôn: "Chúng
ta đang
có một
cơ hội
lịch sử
và cần
những bộ
mặt mới,
tại sao
các anh
lại có
thể nghĩ
đến ông
Thơ được!".
Tướng
Kim trả
lời ngay,
đó là
quyết
định của
tướng
Minh
(tướng
Dương
Văn
Minh,
thường
được các
báo chí
ngoại
quốc gọi
là Big
Minh, là
chủ tịch
Hội Đồng
Quân
Nhân)
và
thêm
rằng: "Đối
với
tướng
Minh th́
đây là
một vấn
đề không
cần bàn
căi" (câu
nói bằng
tiếng
Pháp của
tướng
Kim, tôi
nhớ rơ
là:
"Pour
Big
Minh,
c'est un
postulat!"). Tới đây
th́ tôi
không
c̣n nhịn
được nữa,
và bắt
đầu to
tiếng: "Các
anh làm
cách
mạng để
đưa bạn
hữu lên
cầm
quyền
th́ cách
mạng c̣n
có ư
nghĩa ǵ
nữa!".
Ông Bùi
Diễm c̣n
viết
nhiều
nữa, tỏ
ư coi
thường
những
con
người
mang lon
tướng mà
làm
những
chuyện
chẳng ra
ǵ. Có
lẽ v́
vậy mà
ông
không
gọi cái
hội đồng
ấy là
Hội Đồng
Quân
Nhân
Cách
Mạng mà
chỉ là
Hội Đồng
Quân
Nhân.
Một
đoạn
trong
sách sử
của Việt
Nam vào
đời nhà
Trần,
tưởng
cũng nên
nhắc lại
để thấy
gương vị
lănh đạo
dũng
liệt của
người
xưa,
xứng
đáng gọi
là
tướng,
Vua Trần
Nhân
Tông
nghe tin
Hưng Đạo
Vương bị
thua
trận,
rút về
Vạn
Kiếp,
liền ngự
thuyền
đến Hải
Đông và
vời Hưng
Đạo
Vương
đến bàn
việc.
Vua bảo
:
"Thế
giặc to
như thế
mà chống
với nó
th́ dân
sự tàn
hại, hay
là trẫm
chịu
hàng để
cứu muôn
dân".
Hưng Đạo
Vương
tâu:
"Bệ hạ
nói câu
ấy th́
thật là
lời nhân
đức,
nhưng mà
Tôn miếu
Xă tắc
th́ sao?
Nếu bệ
hạ muốn
hàng th́
chém đầu
tôi đi
đă, rồi
sau sẽ
hàng".
Vua nghe
lời
trung
liệt,
trong
ḷng mới
yên. Vua
quan
đồng
ḷng
đuổi
giặc nên
đă thắng
lớn,
đuổi
giặc
Mông Cổ
ra khỏi
bờ cơi.
Đời nay,
chúng ta
có tướng
Dương
Văn Minh
được
trao
quyền
Tổng
thống và
cuối
cùng đầu
hàng
giặc
Cộng,
mặc cho
Tông
miếu Xă
tắc tan
nát, di
hại đến
bao
nhiêu
đời sau.
Nh́n lại
nước
Việt Nam
ngày
nay, quả
là Tông
miếu Xă
tắc tan
hoang.
Con nít
bị gửi
sang Cam
Bốt để
bán dâm,
không
biết đến
xấu hổ
là ǵ.
Con gái
chấp
nhận lấy
chồng
Đài
Loan,
Đại
Hàn,...
để kiếm
tiền
nuôi
thân, để
thoát ra
khỏi
nước.
Nền giáo
dục, đạo
đức,
luân lư
không
c̣n, th́
c̣n ǵ
là Tông
miếu Xă
tắc.
Từ cuộc
đảo
chánh
1-11,
người ta
nhân
danh làm
cách
mạng
nhưng
không
làm cách
mạng.
Đến ngày
1-11,
người ta
thường
nói
nhiều
đến cái
chết bi
thảm của
anh em
Tổng
thống
Ngô Đ́nh
Diệm,
nhưng
lại ít
phân
tích về
một khúc
quanh
lịch sử,
miền Nam
nằm
trong
tay
những
con
người
bất xứng
để dần
dần rơi
vào tay
cộng
sản.
Lê
Văn Bảy
(11-2008) |