Bài do tác giả gửi tới DCVOnline
Ghi chú:
(32): Cùng vấn đề này, các
tin tức thu nhặt có thể hoàn toàn
trái ngược nhau. D.R. Palmer, trong
Summons, trang 193, viết con số
7.500 lính CSVN nhưng nói rằng “tất
cả có khoảng 8 tiểu đoàn” tham dự,
thuộc về 2 trung đoàn 5 và trung
đoàn 6 của Bắc Việt. Những nguồn
khác cho biết có hơn 8 tiểu đoàn,
điều này có lư hơn. Keith Nolan,
trong Battle for Huê, trang 28-29,
viết: “Để tăng cường cho 9 tiểu đoàn
địch quân xâm chiếm Huế ngày đầu
tiên, có thêm 5 nhóm khác kéo đến:
Tiểu đoàn 416 và Trung đoàn 5; Tiểu
đoàn 4 và Tiểu đoàn 6; Trung đoàn
24; Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 8,
Trung đoàn 90 của quân đội Bắc
Việt.” Tên Trung đoàn 90 mà Nolan
nhắc đến có lẽ là một sự nhầm lẫn
với Trung đoàn 9 của Bắc Việt, nhưng
Nolan tiếp tục viết: “Khoảng 6 ngàn
lính Bắc Việt đương đầu với Thủy
Quân Lục Chiến Hoa Kỳ và Quân Lực
VNCH.” Nhưng nhận định này đă ước
lượng thấp số lính Bắc Việt, v́ nếu
tổng số quân của 14 tiểu đoàn chỉ có
6000, th́ mỗi tiểu đoàn chỉ có 428
lính (6.000:14 = 428). Do đó, tôi đă
chọn con số cao hơn (7.500), với sự
nh́n nhận rằng có những bất đồng
trong các đơn vị quân sự được đưa
vào tổng số sau cùng này.
(33): . “Không nơi nào là có
chuyện ǵ mà có thể gọi được là nổi
dậy của dân chúng chống lại chính
quyền Sài G̣n” (Bernard G. Nalty,
The Vietnam War, Barnes & Noble,
2000, trang 191). Trong Tet 1968,
Understanding the Surprise (London:
Frank Cass, 1995), một biên khảo
công phu dựa vào các tài liệu nguyên
thủy bằng tiếng Việt, Ronnie E.
Ford, đă tóm lược các tranh luận như
sau: “Tại Việt Nam hôm nay, từ các
bài viết của Cộng Sản Việt Nam, hai
quan điểm chính nổi bật lên về cuộc
Tổng Tấn Công Mậu Thân. Không ngạc
nhiên, khi một quan điểm xuất phát
từ hệ thống quan chức Hà Nội, người
hoạch định kế hoạch tổng tấn công,
và quan điểm kia thuộc về phía những
người phải thực hiện kế hoạch này
hay là những người tham chiến tại
miền Nam. Quan điểm thứ nhất, bắt
nguồn từ Hà Nội mà cho đến nay vẫn
là quyền lực chính, rằng Mậu Thân là
‘Đại Thắng Mùa Xuân.’ Tết là điểm
ngoặt của chiến tranh Việt Nam. Cuộc
chiến ‘vừa đánh vừa đàm’ đă tiến vào
thế mạnh, và Cộng Sản đă đạt được
một ‘chiến thắng có tính quyết định’
đối với Hoa Kỳ. Từ thời điểm này,
chỉ là vấn đề thời gian cho đến khi
Hoa Kỳ mất hết tinh thần và thua
cuộc. Quan điểm thứ hai, bắt nguồn
từ những người thực sự tham chiến
tại miền Nam, nhận chân rằng họ đă
lầm lẫn […] và cuộc chiến do Bắc
Việt khởi động không hề được nhân
dân Miền Nam ủng hộ, không thực sự
là một cuộc ‘Tổng Nổi Dậy.’” (trang
138-139)
(34) D. Gareth Porter, “The
1968 “Huê Massacre,” Indochina
Chronicle Số 33 (June 24,1974). Một
nỗ lực điên khùng của nhiếp ảnh gia
Philip Hones Griffith, nhằm chối bỏ
cuộc Thảm Sát tại Huế, trong
Vietnam, Inc., New York: McMillan,
1971, cho rằng người Hoa Kỳ đă “sáng
tạo” ra một cảnh trí mà “cái chết
của thường dân vô tội tại Huế thực
sự do bom đạn Mỹ gây ra bị tuyên
truyền thành tội ác của Cộng Sản.”
(35): Andrew Wiest, Vietnam’s
Forgotten Army: Heroism and Betrayal
in the ARVN, New York University
Press, 2008, trang 281.
(36):William C. Westmoreland,
A Soldier Reports, New York: Dell,
1976, trang 435-436.
(37) Lê Duẩn, trong Lá thư
vào Nam, Hanoi: Nhà xb Sự Thật,
1985, xác định các mục tiêu của cuộc
Tổng Tấn công Tết Mậu Thân như sau:
“Một, làm tan ră đại bộ phận của
quân đội bù nh́n, lật đổ chính quyền
tại nhiều cấp, và giành lại quyền
lực về tay nhân dân; Hai, nhằm triệt
tiêu các nỗ lực và phương tiện chiến
tranh của Hoa Kỳ, khiến họ không thể
nào tiếp tục các dự án chính trị và
quân sự; Ba, dựa trên căn bản này
đánh tan quân xâm lược Mỹ, dồn họ
đến thất bại… và cuối cùng đem lại
thống nhất cho đất nước.” Điều này
được xác nhận bởi Trần Văn Trà,
sđd., 1993, trang 40. Lê Duẩn tưởng
tượng: “kế hoạch tổng nổi dậy kết
hợp với tổng công kích; khi chúng ta
dùng đủ lực lượng và súng đạn để đè
bẹp sức mạnh chính của địch… chúng
ta cũng sẽ vân động hàng triệu nhân
dân trong các thành phố và vùng quê
thuộc quyền quân địch để tổng nổi
dậy cho kháng chiến.” Hiển nhiên
không một điều nào nêu trên đă thực
sự xảy ra. Trần Văn Trà, sđd., trang
55, đă tự bào chữa: “Cuộc Tổng Công
Kích của chúng ta đă không ở mức độ
cho phép toàn dân cùng tổng nổi
dậy.” Philip B. Davidson, trong
Vietnam at War, trang 447, nói thẳng
hơn: “Sự yếu kém vô cùng của kế
hoạch Giáp đưa ra là [kế hoạch Tổng
Công Kích] dựa vào một giả thuyết
không những không chắc chắn, mà lại
sai lầm chết người. Quân Lực Việt
Nam Cộng Ḥa KHÔNG đào ngũ, đầu
hàng, hay tan ră dưới các gọng kềm
tấn công của Cộng Sản trong ngày
Tết. Toàn thể Quân Lực Việt Nam Cộng
Ḥa đă chống trả mănh liệt và hiệu
quả hơn bao giờ hết, và chắc chắn sẽ
phản ứng như thế nếu có dịp thử
thách lần nữa. Dân chúng KHÔNG về
theo quân xâm lăng Việt Cộng, dân
chúng KHÔNG chống lại chính quyền
Thiệu, và dân chúng KHÔNG chống đối
lực lượng Hoa Kỳ.”
(38): Trương Như Tảng, Bộ
Trưởng Tư Pháp của Chính quyền Cộng
Sản miền Nam vào thời điểm Tết 1968,
sau này viết trong Journal of a
Vietcong, London: Jonathan Cape,
1986: “Tết và những cuộc tấn công
theo sau vào mùa Xuân và mùa Hè năm
1968 đă đem lại nhiều thiệt hại
không thể tả được cho cả Mặt Trận
Giải Phóng Miền Nam lẫn Quân Đội Bắc
Việt.” Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa, một
nhân vật nổi tiếng của Mặt Trận Giải
Phóng Miền Nam, cho rằng cuộc tổng
tấn công là “một sai lầm thật đần
độn.” Hoàng Văn Hoan, một ủy viên
Trung Ương Đảng mà sau này sẽ trốn
sang Tàu, công bố trong tập hồi kư,
Giọt Nước Trong Biển Cả, Bắc Kinh,
1980: “Lê Duẩn đă nhận định sai lầm
khả năng của ta và của địch trong
chiến dịch Tết 1968. Lực lượng của
ta phải triệt thoái với nhiều tổn
thất nặng nề về nhân sự, quân lực,
và vũ khí.”
(39): Phạm Văn Sơn và Lê Văn
Dương, “Cố Đô Trong Biến Cố,” Tội
Ác, trang 83.
(40): Như trên, trang 83-84.
Mới đây, Nam Dao đă có một cuộc
phỏng vấn đầy xúc động với một sinh
viên bị ép buộc phải vào những toán
người đi đào các mương hào sửa soạn
cho cuộc hành quyết hàng loạt trong
dịp Tết 1968.
(41): Languth, sđd. trang
477.
(42): Thành Tín (Bút hiệu của Cựu
Đại Tá Bắc Việt Bùi Tín), trong Mặt
Thật, Orange County, CA: Saigon
Press, 1993, đưa ra giải thích cặn
kẽ đến lạnh xương sống về lư do đưa
đến thảm sát Mậu Thân tại Huế. Tuy
nhiên, ông có vẻ như muốn chạy tội
cho những lănh tụ Cộng Sản cao cấp,
và đổ cho các hành động không kiềm
chế này (bắn, giết, chôn sống người
già, đàn bà, trẻ em, và ngay cả trẻ
sơ sinh) là lỗi của cấp chỉ huy quân
sự tại địa phương trong hoàn cảnh
hỗn loạn. Giải thích này thật khó
tin v́ các vụ thảm sát xảy ra tại
nhiều nơi khác nhau và do nhiều đơn
vị Cộng Sản khác nhau tiến hành: họ
không thể cùng có một hành động nếu
không có chỉ thị chung từ cấp trên.
Ít ra, Lê Minh đă nhận trách nhiệm ở
cấp bậc của ông. Theo Bùi Tín, Tướng
Trần Văn Quang và ủy viên chính trị
của ông, Lê Chưởng, sau này đă bị
gọi về Hà Nội để khiển trách. Điều
này có thể cho thấy rằng, nếu chỉ
thị thảm sát không là do Hà Nội ban
hành, nó vẫn có thể được ban ra từ
cấp lănh đạo quân khu Trị - Thiên -
Huế, và hành động giết người vô tội
này không phải là sự tự phát của một
cá nhân nào.
(43): Điều này được Lê Minh
ám chỉ trong tập Hồi Kư khi ông kể
lại hoàn cảnh khó tin mà lính của
ông phải đương đầu trong cuộc rút
lui khỏi Huế.
(44): Trần Ngọc, “Phỏng Vấn
Giáo Sư Lê Văn Hảo,” Quê Mẹ, Số 105
& 106, Paris, 1990.
(45): Trong khi chối bỏ trách
nhiệm của ḿnh về vụ Thảm Sát tại
Huế, Hoàng Phủ Ngọc Tường, cả trong
bộ phim Vietnam, A Television
History (Chương tŕnh 13 đoạn của
PBS) và khi trả lời Thụy Khuê, phóng
viên Đài Phát Thanh Quốc Tế Pháp
RFI, trong một cuộc phỏng vấn sau
này có in trong Chuyển Luân, một tạp
chí Phật Giáo phát hành tại Pháp, đă
công nhận có rất nhiều người bị thảm
sát tại Huế trong dịp Tết 1968.
Hoàng Phủ Ngọc Tường chia nạn nhân
thành 3 loại: 1/ Người bị “Quân đội
Giải Phóng trừng phạt v́ có tội với
nhân dân,” (theo định nghĩa riêng
của Cộng Sản Bắc Việt); 2/ Người vô
tội bị giết oan (không nói rơ con số
là bao nhiêu); 3/ Người chết v́ bom
đạn của Mỹ và trong giao tranh khi
Quân Lực VNCH phản công. Người ta
nhận ra sự ngụy biện này rất chướng
tai khi nghĩ tới cái chết của 4 vị
Bác Sĩ Đức (và một bà vợ) đến giúp
Việt Nam tại Đại Học Y Khoa Huế, hay
sự thảm sát người Công Giáo và các
giáo sĩ ngoại quốc tại Phú Cam, sự
cố t́nh giết hại người già, đàn bà,
trẻ em, trong các mồ chôn tập thể.
(46): Chỉ cần liếc sơ qua ấn
phẩm Tội Ác, người ta cũng thấy hàng
chục tên khác, có thể ít được biết
đến, nhưng cũng góp phần vào sự kinh
hoàng của đại chúng trong vụ thảm
sát tại Huế. Điều khác thường là rất
nhiều tên là của các nhà giáo dục
nổi tiếng, từ Lê Văn Hảo đến bà Tuần
Chi, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Tôn Thất
Dương Tiềm, Nguyễn Đắc Xuân, Nguyễn
Đóa, những kẻ đáng ra phải truyền
dạy t́nh người và ḷng nhân cho học
sinh sinh viên của ḿnh.
(47): Trận chiến tại Huế Tết
Mậu Thân 1968 có lẽ là một trong
những trận chiến được đưa lên thành
phim tài liệu nhiều nhất trong Chiến
Tranh Việt Nam. Danh sách Embassy of
Vietnam 1970 – 71 Film List ấn hành
năm 1971 tại Hoa Thịnh Đốn, liệt kê
5 tựa đề liên quan đến cuộc chiến
này và hậu quả của nó: The Battle of
Huê (Tháng 02/1968 – dài 20 phút),
Huê, A City in February (February
1968, dài 13 phút), Communist
Massacre in Huê (March – April 1969,
dài 15 phút), Tội Ác Việt Cộng Tại
Huế ( March – April 1969, dài 25
phút), và Đá Mài Valley (Tên một địa
điểm nơi người ta khám phá những mồ
chôn tập thể lớn nhất vào tháng 9/
1969 – dài 20 phút). Đặc điểm của
các phim này là chúng hoàn toàn có
tính tài liệu lịch sử, rất ít bị sửa
đổi. Vài phim cho thấy sự xâm nhập
của lính Cộng Sản khi họ mới tiến
vào thành, do một nhà quay phim miền
Nam Việt Nam quay được trong lúc hỗn
quân hỗn quan (quân Cộng Sản tưởng
ông thuộc về đoàn truyền h́nh Bắc
Việt). Ông may mắn trốn thoát và đă
giữ được đoạn phim này mang đưa cho
Quân Lực VNCH khi họ tái chiếm Huế.
Người ta cũng phải nhắc đến tác phẩm
nổi tiếng Giải Khăn Sô Cho Huế của
nhà văn nữ Nhă Ca viết về Tết Mậu
Thân 1968 tại Huế, tác phẩm này đoạt
Giải Văn Chương Phủ Tổng Thống 1969
khi mới xuất bản. Tác phẩm Mùa Biển
Động của tác giả Nguyễn Mộng Giác là
một trường thiên tiểu thuyết dầy
1800 trang gồm 5 tập xây dựng chung
quanh các biến động từ 1963-1975 tại
miền Nam Việt Nam, một trong 5 tập
này đă hầu như hoàn toàn dành riêng
cho trận chiến tại Huế.